Mối quan hệ giữa thu, chi ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế nghiên cứu việt nam - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
----------------------------

NGUYỄN THỊ KIM TUYẾN
MỐI QUAN HỆ GIỮA THU, CHI NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ - NGHIÊN CỨU VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số
: 60.34.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN NGỌC HÙNG

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một trong những vấn đề gây tranh cãi trong kinh tế vĩ mô và tài chính
công là bản chất của mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thu ngân sách
(chính sách tài khóa). Cuộc tranh luận càng thêm nóng bỏng gần đây với các
thâm hụt ngân sách chính phủ ngày càng gia tăng khổng lồ ở các quốc gia
phát triển cũng như đang phát triển. Vấn đề này đặc biệt trở nên quan trọng
hơn ở các quốc gia đang phát triển vì chi tiêu ngân sách chính phủ đóng vai
trò chính trong nền kinh tế. Vì thế chính sách tài khóa hợp lý là rất quan trọng

hạn và ngắn hạn của các biến này.
Nghiên cứu mối quan hệ nhân quả Granger hai chiều giữa hai biến thu
ngân sách và chi tiêu ngân sách của chính phủ và tác động qua lại lẫn nhau
giữa chi tiêu ngân sách chính phủ và tăng trưởng GDP.
Theo đó, nghiên cứu áp dụng mô hình hồi qui tuyến tính chuỗi thời
gian cho hai biến chính trong mô hình là thu ngân sách và chi tiêu ngân sách
của chính phủ với vai trò lần lượt là biến phụ thuộc và biến giải thích và
ngược lại; còn biến GDP được sử dụng như là biến kiểm soát của mô hình.
Việc nghiên cứu và xử lý số liệu được thực hiện bằng phần mềm Stata
phiên bản 11.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là thu ngân sách và chi tiêu ngân
sách của chính phủ, mối quan hệ nhân quả Granger giữa chúng và tác động
cân bằng của thu ngân sách và tăng trưởng kinh tế lên chi tiêu ngân sách của
chính phủ trong ngắn hạn và dài hạn. Ngoài ra, nghiên cứu cũng xem xét tác
động qua lại giữa chi tiêu ngân sách chính phủ và tăng trưởng GDP.
Phạm vi nghiên cứu là phân tích chuỗi dữ liệu hàng năm của Việt Nam
trong giai đoạn từ năm 1984 đến 2013. Tất cả dữ liệu này được trích xuất
thông qua Chỉ số chính cho khu vực Châu Á và Thái Bình Dương (Key


3

Indicators for Asia and the Pacific) của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
cho Việt Nam.
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Làm rõ tác động cân bằng trong dài hạn và ngắn hạn của thu ngân sách
và tăng trưởng kinh tế lên chi tiêu ngân sách của chính phủ Việt Nam.
Xác định mối quan hệ nhân quả Granger hai chiều giữa thu ngân sách
và chi tiêu ngân sách của chính phủ cũng như mối quan hệ giữa chi tiêu ngân

bàn luận.
Phần tổng kết xác định lại những phát hiện của đề tài nghiên cứu và các
đề xuất được đưa ra cho các chính sách liên quan đến thu chi ngân sách và
tăng trưởng kinh tế của chính phủ trong tương lai.


5

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Thu và chi ngân sách nhà nước
1.1.1 Thu Ngân sách Nhà nước
* Các khái niệm:
- Thu NSNN: là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung
1 phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các
nhu cầu của Nhà nước.
- Chi NSNN: là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo
thực hiện chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.
- Thâm hụt NSNN: là tình trạng khi tổng chi tiêu của NSNN vượt quá
các khoản thu.
Theo các Báo cáo Quyết toán NSNN giai đoạn 2003-2010, có thể thấy
nguồn thu NSNN của Việt Nam khá ổn định, dao động trong khoảng từ 2530% GDP. Tổng nguồn thu được phân chia thành ba khoản bao gồm thu từ
thuế và phí, thu về vốn, và thu viện trợ không hoàn lại.
Trong số này thì phần lớn vẫn đến từ nguồn thu thuế và phí, thu về vốn
chiếm khoảng 2% và thu viện trợ không hoàn lại chỉ chiếm khoảng 0,5%
(Hình 1.1). Năm 2009 nguồn thu từ thuế có dấu hiệu suy giảm nhẹ do Chính
phủ thực hiện hàng loạt các biện pháp cắt giảm nhằm kích thích tổng cầu. Tuy
nhiên sang năm 2010 thì tỉ lệ thu thuế lại gia tăng trở lại, lên đến gần 30%.

hơn hai lần nếu như so với một thập kỷ trước, từ khoảng 7% vào năm 2003
lên đến 15% vào năm 2012 (Hình 1.3).
Hình 1.3 Các nguồn thu NSNN phân theo từng khu vực (% Tổng doanh thu)


8

Tuy nhiên bất chấp việc đã có đóng góp nhiều hơn cho tổng nguồn thu
của NSNN, thì mức độ đóng góp của khu vực này vẫn nhỏ hơn nhiều so với
mức đóng góp của khu này vào GDP cả nước, gần 50% (Hình 1.4). Tương tự
như thế, nghịch lý được đầu tư nhiều nhưng đóng góp vào nguồn thu kém
càng được thể hiện trong khu vực nhà nước, khi đóng góp của khu vực này
vào GDP cả nước vào khoảng 40%, nhưng nguồn thu từ khu vực này lại chỉ ở
mức trên dưới 20%. Nghịch lý này có thể được giải thích bằng các hoạt động
tham nhũng và trốn thuế của các doanh nghiệp Việt Nam.
Ngoài ra, nguồn thu từ khu vực các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài lại
đang suy giảm, từ chỗ khoảng 35% vào năm 2005 đã giảm xuống chỉ còn vào
khoảng 25% tổng nguồn thu. Trong khu vực này đáng chú ý là nguồn thu từ
dầu thô đã suy giảm đáng kể và chỉ còn ở mức khoảng 12% tổng nguồn thu
(Hình 1.5). Điều này là dấu hiệu tích cực khi nguồn thu NSNN đã không còn
lệ thuộc nhiều vào dầu thô như trước đây, mặc dù vẫn giữ được sự ổn định.


9
Hình 1.4 Đóng góp vào GDP theo từng khu vực 2001 – 2010 (%)

Hình 1.5 Tỷ trọng thu từ dầu thô (% Tổng doanh thu)

1.1.2 Chi Ngân sách Nhà nước
Theo các Báo cáo Dự toán và Quyết toán của Bộ Tài chính thì tổng chi

lại đây. Số liệu Quyết toán và Dự toán NSNN của Bộ Tài chính phân biệt hai
khái niệm bội chi NSNN. Đó là bội chi theo tiêu chuẩn quốc tế (không bao
gồm chi trả nợ gốc) và theo tiêu chuẩn Việt Nam (bao gồm cả chi trả nợ gốc).
Nếu tính theo tiêu chuẩn quốc tế thì mức thâm hụt hay bội chi của Việt Nam
thấp hơn nhiều, và cũng khá gần với thống kê của IMF và ADB (Bảng 1.1).
Tuy nhiên, nếu theo như tiêu chuẩn Việt Nam thì thâm hụt Việt Nam vào
khoảng 5% GDP, duy chỉ có năm 2009 Việt Nam thâm hụt cao hơn hẳn là
6,9% GDP do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu.


12
Bảng 1.1 Thâm hụt ngân sách Việt Nam 2001 – 2012 (% GDP)

Mức độ thâm hụt ngân sách của Việt Nam được xem là cao so với các
quốc gia khác trong khu vực. Nhìn vào Hình 1.8 có thể thấy trong giai đoạn
kể từ khủng hoảng năm 2009, tỉ lệ thâm hụt của Việt Nam chỉ thua Malaysia
và Ấn Độ. Bước sang năm 2010, Việt Nam là quốc gia duy nhất tiếp tục gia
tăng thâm hụt ngân sách, trong khi các quốc gia còn lại đều bắt đầu cải thiện
tình hình của mình. Tuy nhiên có thể thấy đến năm 2011, theo xu hướng
chung, Việt Nam đã giảm được một nửa mức thâm hụt ngân sách của mình.
Điều này có thể được giải thích do các nền kinh tế đều có xu hướng phục hồi
và ổn định trở lại sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Số liệu của Bộ Tài chính cũng chỉ rõ nguồn bù đắp bội chi NSNN của
Việt Nam, bao gồm các khoản vay trong nước và vay nước ngoài (Bảng 1.2).
Theo đó, thông thường Việt Nam phụ thuộc nhiều vào các khoản vay trong
nước, hơn là các khoản vay nước ngoài. Ngoại trừ năm 2009, Việt Nam vay
nợ nước ngoài khá nhiều để bù đắp cho thâm hụt ngân sách.


13

Lãi suất gia tăng không chỉ thu hút giới đầu tư trong nước mà còn hoàn
toàn có thể thu hút giới đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ có
nhu cầu nắm giữ tài sản nội địa, do hiệu suất sinh lời cao hơn, điều này đồng
nghĩa với việc dòng vốn ngoại tệ chảy vào nền kinh tế, làm cho nguồn cung
ngoại tệ tăng lên. Khi cung ngoại tệ tăng lên, giá trị của đồng ngoại tệ tính
theo đồng nội tệ sẽ giảm đi, hay nói cách khác, đồng nội tệ có thể tăng giá trị.
Tuy nhiên dòng vốn nước ngoài vào thị trường nội địa có thể bị hạn chế do
giới đầu tư lo ngại vào một môi trường lạm phát cao do thâm hụt ngân sách
mang lại. Việc đồng nội tệ tăng giá sẽ khuyến khích nhập khẩu thay vì xuất
khẩu, và điều này sẽ dẫn đến thâm hụt thương mại và thâm hụt cán cân vãng
lai.
Như vậy có thể thấy thâm hụt ngân sách có những tác động tiêu cực lên
nền kinh tế. Nếu như ngân sách chính phủ được cân bằng, không những tối ưu


15

hóa toàn bộ nguồn vốn, mà còn làm giảm những chi tiêu hoang phí của chính
phủ. Bên cạnh đó, điều này còn hạn chế được tình trạng lạm thu và tham
nhũng. Chính vì thế, các nhà kinh tế học cổ điển luôn cho rằng chính phủ cần
phải duy trì cân bằng ngân sách.
Tuy nhiên, như đã phân tích ở phần trên, thâm hụt ngân sách làm gia
tăng tổng cầu và làm tăng GDP hay nói cách khác là kích thích tăng trưởng.
Đây là điều mà chính phủ các quốc gia có thể làm trong thời gian suy thoái
kinh tế, đó là tăng chi tiêu, đầu tư vào các công trình công cộng, chấp nhận
thâm hụt ngân sách ở một mức nhất định nhằm giúp sản lượng trong nước
tăng trở lại. Nhưng điều này không đồng nghĩa với việc thâm hụt ngân sách
luôn luôn kích thích tăng trưởng. Nếu như nền kinh tế đã ở gần mức sản
lượng tiềm năng, sự gia tăng tổng cầu về dài hạn sẽ kéo theo những hệ quả
tiêu cực về lạm phát, lãi suất và cán cân thương mại như đã giải thích ở trên.

Vào những năm đầu thập kỷ 1990, kinh tế Việt Nam đạt được mức
tăng trưởng cao, đặc biệt những năm 1992 và 1997 gần 9%. Tuy nhiên, đà
tăng trưởng chậm lại vào cuối thập kỷ này do những ảnh hưởng của khủng
hoảng tài chính Châu Á năm 1997. Kết thúc năm 1999, tăng trưởng chỉ còn
là 4,8% kèm theo hiện tượng giảm phát những năm sau đó. Trong bối cảnh
đó, Chính phủ đã thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng và kích thích mở
rộng đầu tư từ năm 2000, đồng thời ký kết quan hệ trao đổi thương mại song
phương Mỹ 7/2000. Kết quả là kinh tế đã phục hồi trên đà tăng trưởng cao,
nhưng đi kèm là tỷ lệ lạm phát tăng lên. (Bảng 1.3 Tăng trưởng GDP và lạm
phát)


17

Hơn nữa, sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ
chức thương mại quốc tế (WTO) tháng 11/2006 đã mở đường cho sự tự do
hóa thị trường lớn hơn và làm dấy lên làn sóng đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam, lượng ngoại tệ đầu tư trực tiếp, gián tiếp, vay nợ nước ngoài đã tăng
đỉnh điểm gấp 13 lần năm 2000. Lúc này, để duy trì khả năng cạnh tranh
hàng xuất khẩu, ổn định tương đối tỷ giá và hạn chế gia tăng nghĩa vụ nợ
nước ngoài của Chính phủ và doanh nghiệp quy đổi bằng VND, Ngân hàng
Nhà nước đã cung lượng tiền VND để mua một lượng ngoại tệ vào, gây áp
lực lạm phát tăng cao ở mức 2 con số vào năm 2007 (12,6%) và năm 2008
(19,89%).
Thêm vào đó, khủng hoảng kinh tế toàn cầu vào năm 2008 ảnh hưởng tới sự
ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam, cụ thể là bội chi ngân sách lớn, nợ công
tăng cao, thâm hụt cán cân vãng lai, tốc độ tăng trưởng chậm lại 6,78% năm
2010 và 5,9% năm 2011 mặc dù Chính phủ đã có những biện pháp kích cầu
để thúc đẩy tăng trưởng, chống suy giảm kinh tế. Đồng thời với đó là lạm
phát tăng cao, kết thúc năm 2010 và 2011, lạm phát lần lượt ở mức 11,75%

trung thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát thì đây được xem là mức tăng
hợp lý.
1.4 Mối quan hệ giữa thu, chi ngân sách chính phủ và tăng trưởng
kinh tế
1.4.1 Mối quan hệ giữa thu ngân sách và chi tiêu ngân sách chính
phủ
Có nhiều giả thuyết khác nhau liên quan đến nguồn thu và chi tiêu
chính phủ.
Giả thuyết đầu tiên được đề xuất bởi Buchanan và Wagner (1977) và
Friedman (1978) khẳng định nguồn thu chính phủ đơn phương quyết định chi


19

tiêu của nó và chỉ ra một mối quan hệ một chiều từ nguồn thu đến chi tiêu.
Theo Friedman, thuế cao hàm ý chi tiêu nhiều hơn dẫn đến một kết cục thâm
hụt ngân sách lớn hơn.
Giả thuyết thứ hai được đề xuất bởi Barro (1974) và Peacock và
Wiseman (1979) cho rằng chính phủ quyết định việc chi tiêu trước nguồn thu
được biết đến như là giả thuyết chi tiêu và thuế. Peacock và Wiseman khẳng
định suốt thời gian khủng hoảng, chính phủ gia tăng chi tiêu, cuối cùng đưa
đến thuế cao hơn. Vì thế, có một quan hệ một chiều từ chi tiêu chính phủ đến
nguồn thu.
Giả thuyết thứ ba được trình bày bởi Musgrave (1966) và Meltzer và
Richard (1981) khẳng định chính phủ quyết định đồng thời nguồn thu và chi
tiêu, điều này nghĩa là có mối quan hệ hai chiều giữa nguồn thu và chi tiêu
chính phủ. Giả thuyết cuối cùng là Baghestani và McNown (1994) tin là
không có giả thuyết nào kể trên mô tả mối quan hệ giữa nguồn thu và chi tiêu
chính phủ. Chi tiêu và nguồn thu chính phủ mỗi thứ được quyết định bởi tăng
trưởng kinh tế trong dài hạn, phản ánh sự tách bạch riêng rẽ giữa nguồn thu

nên tăng trưởng kinh tế hay không đã phân chia các nhà làm chính sách thành
các trường phái lý thuyết rõ rệt. Lý thuyết kinh tế cho rằng trong một vài
trường hợp mức chi tiêu chính phủ thấp hơn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
trong khi ở các trường hợp khác các mức chi tiêu chính phủ cao hơn là điều
cần thiết. Trên quan điểm thực nghiệm, bằng chứng có được gây nên sự lúng
túng vì rất nhiều nghiên cứu ủng hộ cách này hay cách khác.
* Các nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ mối quan hệ âm
Bắt đầu với kinh tế Hoa Kỳ, Knoop (1999) sử dụng dữ liệu chuỗi thời
gian từ năm 1970 đến 1995 phát hiện ra rằng sự sụt giảm trong chi tiêu chính
phủ có một tác động nghịch lên tăng trưởng kinh tế và phúc lợi. Các ước tính
đạt được bởi Fölster và Henrekson (1999, 2001) khi tiến hành nghiên cứu dữ
liệu bảng trên mẫu các quốc gia giàu có trong giai đoạn 1970 – 1995 khẳng


21

định rằng chi tiêu ngân sách công lớn tác động âm lên tăng trưởng kinh tế.
Trong một nghiên cứu thực nghiệm khác, Ghura (1995), sử dụng dữ liệu
không gian và chuỗi dữ liệu chéo cho 33 quốc gia Châu Phi ở Hạ Sahara
trong giai đoạn 1970 – 1990 cung cấp bằng chứng cho thấy rằng có sự tồn tại
một mối quan hệ âm giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế. Trong
nghiên cứu đó, các quốc gia lấy mẫu được chia thành 4 nhóm: các quốc gia
tăng trưởng cao với mức tăng trên 2.0%; các quốc gia tăng trưởng trung bình
đến thấp với mức tăng trưởng giữa 0% và 1.9%; các quốc gia tăng trưởng
kém với mức giữa -1.0% và -0.01%; và các quốc gia tăng trưởng rất kém với
mức tăng dưới -0.9%. Suốt quá trình nghiên cứu nó hé lộ ra một điều là các
quốc gia với mức tăng trưởng cao hơn có tỉ lệ đầu tư cao hơn, tăng trưởng
khối lượng xuất khẩu cao hơn, tuổi thọ cao hơn, tỉ lệ lạm phát thấp hơn, và độ
lệch chuẩn lạm phát thấp hơn không có nghĩa là các kết quả thương mại tốt
hơn. Barro (1991) trong một nghiên cứu dữ liệu không gian của 98 quốc gia

Guseh (1997) trong một nghiên cứu về tác động của qui mô chính phủ
lên tốc độ tăng trưởng kinh tế thực hiện hồi qui OLS, bằng cách dùng dữ liệu
chuỗi thời gian trong giai đoạn 1960 – 1985 cho 59 quốc gia đang phát triển
thu nhập trung bình. Bằng chứng đạt được đề nghị là tăng trưởng trong qui
mô chính phủ có tác động âm lên tăng trưởng kinh tế, nhưng các tác động âm
ở các hệ thống xã hội chủ nghĩa lớn gấp ba lần ở các hệ thống phi xã hội chủ
nghĩa. Các ước tính thêm được cung cấp bởi Engen và Skinner (1992) cho
107 quốc gia trong giai đoạn 1970 – 1985, đề nghị là một sự gia tăng ngân
sách cân bằng trong chi tiêu chính phủ và thuế được dự kiến tạo ra sự gia tăng
sản lượng, trong khi Carlstrom và Gokhale (1991) cho rằng các kết quả mô
phỏng tùy theo sự gia tăng chi tiêu ngân sách chỉnh phủ gây nên sự sụt giảm
sản lượng trong dài hạn. Sử dụng cách tiếp cận nhân quả Granger, Conte và
Darrat (1988) nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa gia tăng khu vực công
và tốc độ tăng trưởng kinh tế thực cho các quốc gia OECD. Nhấn mạn đặc
biệt là các hiệu ứng phản hồi từ tăng trưởng kinh tế lên gia tăng chi tiêu chính
phủ là từ chính sách kinh tế vĩ mô. Dựa trên các bằng chứng đạt được, gia


23

tăng chính phủ có tác động hỗn hợp lên tốc độ tăng trưởng kinh tế, dương cho
một vài quốc gia và âm cho các quốc gia khác. Tuy nhiên với khối các nền
kinh tế OECD, tác động không rõ rệt của gia tăng chính phủ lên tăng trưởng
kinh tế thực được nhìn thấy.
* Các nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ mối quan hệ dương
Trái ngược với quan hệ âm giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh
tế được thiết lập bởi các nghiên cứu được đề cập trước đó, các nghiên cứu sau
nỗ lực điều chỉnh sự cân bằng bằng cách đề nghị là nhà nước thông qua bổ
sung các chính sách phù hợp, có thể thực sự khuyến khích các hoạt động hiệu
quả và làm giảm các hoạt động không hiệu quả (Amsden, 1989; Epsteinvà

Phát hiện

Conte và

Phương pháp

Các quốc

Với hầu hết các nước

Darrat

nhân quả

gia OECD

OECD, tác động không rõ

(1988)

Granger

ràng của gia tăng chính phủ
lên tốc độ tăng trưởng kinh
tế thực

Engen và

Dữ liệu chuỗi


đang phát

phủ có tác động âm lên tăng

chuỗi thời gian

triển thu

trưởng kinh tế, nhưng độ lớn

(1960 – 1985)

nhập trung

ở các hệ thống xã hội chủ

bình

nghĩa lớn gấp ba lần ở các hệ
thống phi xã hội chủ nghĩa.

Barro (1991)

Ghura (1995)

Dữ liệu chuỗi

98 quốc gia GDP có quan hệ dương với

thời gian/ dữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status