GVHD: thầy Ngô Đức Chiến
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG
Đà Nẵng
04/12/2014
BÀI TIỂU LUẬN: MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
VÀ LẠM PHÁT TỪ NĂM 2010 ĐẾN NAY
SVTH: ĐINH THỊ THU HẰNG
LỚP: 11NH
GVHD: THẦY NGÔ ĐỨC CHIẾN
GVHD: thầy Ngô Đức Chiến
Lời mở đầu:
Như chúng ta đã biết, bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm
mà các quốc gia gặp phải. Nó không chỉ tác động đến nền kinh tế mà còn ảnh hưởng
đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.Và chính phủ Việt Nam cũng không là
ngoại lệ. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang có nhiều biến động, tình hình
chính trị có nhiều biến động, lạm phát diễn ra ở nhiều nước trên thế giới, vấn đề
kiềm chế lạm phát được đặt ra ở nhiều quốc gia không chỉ riêng Việt Nam. Xử lý bội
chi NSNN như thế nào để ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiên các chiến lược kinh tế xã
hội và kiềm chế lạm phát hiện nay? Vậy bội chi NSNN là gì? Lạm phát là gì? Và
chúng có mối quan hệ như thế nào?
2
GVHD: thầy Ngô Đức Chiến
Đặt vấn đề:
• “Thâm hụt” nghĩa là thiếu đi do chi quá mức. Vậy khi các khoản chi trong NSNN lớn
hơn các khoản thu vào sẽ tạo ra một khoản chênh lệch gọi là thâm hụt.
• Một quốc gia có thể tự phát hành tiền. Vậy tại sao họ lại không phát hành tiền để bù
đắp thâm hụt ngân sách? Và họ xử lý thâm hụt NSNN như thế nào?
• Trả lời:
Trong lịch sử, phát hành thêm tiền đã từng là một cách tài trợ cho thâm hụt ngân
sách, nhưng do hậu quả nghiêm trọng của nó là dẫn đến lạm phát ở mức cao nên
Lạm phát phi mã lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 con số
1 năm . Ở mức 2 con số thấp :11,12% thì nói chung các tác động tiêu cực không đán
kể và nền kinh tế vẫn có thể chấp nhận được. Nhưng khi tăng đến hai chữ số cao thì
lạm phát sẽ làm cho giá cả chung tăng lên nhanh chóng ,gây biến động lớn về kinh
tế ,các hợp đồng được chỉ số hoá. Lúc này người dân tích trữ hàng hoá ,vàng bạc ,bất
động sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi xuất bình thường .Như vậy lạm phát
sẽ làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất và thu nhập vì những tác động tiêu cực của nó
không nhỏ .Bên cạnh đó lạm phát phi mã còn là mối đe doạ đối với sự ổn định của nền
kinh tế
Siêu lạm phát 3 con số một năm xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ rất
nhanh ,tỷ lệ lạm phát cao .Tốc độ và tỷ lệ siêu lạm phát vượt xa lạm phát phi mã ,nó
như một căn bệnh chết người ,tốc độ lưu thông tiền tệ tăng kinh khủng ,giá cả tăng
4
GVHD: thầy Ngô Đức Chiến
nhanh và không ổn định ,tiền luơng thục tế của người lao động bị giảm mạnh ,tiền tệ
mất giá nhanh chóng ,thông tin không còn chính xác ,các yếu tố thị trường biến dạng
và hoạt động sản xuất khin doanh lâm vào tình trạng rối loạn ,mất phương hướng .Tóm
lại ,siêu lạm phát làm cho đời sống và nền kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng .Tuy
nhiên siêu lạm phát rất ít xảy ra .
Căn cứ vào định tính
Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng
Lạm phát cân bằng Tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người lao động ,tăng
phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp .Do đó không gây
ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao động và dến nền kinh tế nói chung.
Lạm phát không cân bằng Tăng không tương ứng với thu nhập của người lao
động.Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra .
Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường
Lạm phát dự đoán trước là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời kì tương
đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn .Loại lạm phát này có thể dự đoán trước được
tỷ lệ của nó trong các năm tiếp theo.Về mặt tâm lý ,người dân đã quen với tình trạng
Có một số công thức khác nữa, ví dụ:
Tỷ lệ lạm phát = (log P
o
- log P
-1
) x 100%
Về phương pháp tính ra tỷ lệ lạm phát, hai phương pháp thường được sử dụng là:
• căn cứ thời gian: đo sự thay đổi giá cả của giỏ hàng hóa theo thời gian
• căn cứ thời gian và cơ cấu giỏ hàng hóa. Phương pháp này ít phổ biến hơn vì còn phải
tính toán sự thay đổi cơ cấu, nội dung giỏ hàng hóa
Thông thường, số liệu tỷ lệ lạm phát được công bố trên báo chí hàng năm được
tính theo cách cộng phần trăm tăng CPI của từng tháng trong năm.
Tính theo chỉ số giảm phát GDP
Tỷ lệ lạm phát 2011 so với năm 2010 được tính như sau:
Tỷ lệ lạm phát = 100 x
Chỉ số giảm phát GDP 2011 - Chỉ số giảm phát GDP
2010
Chỉ số giảm phát GDP 2010
Do Chỉ số giảm phát được tính bằn GDP giá thực tế/GDP giá gốc so sánh, hiện nay
giá gốc so sánh là giá 2010, sự chuyển đổi về giá góc chủ yếu dựa chỉ số giá PPI (trừ
ngành xây dựng và ngành bán và sửa chữa xe có động cơ) nên có thể nói Tỷ lệ lạm
phát IR tính theo chỉ số giảm phát GDP là Tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số giá người
bán PPI.
1.2. Tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2010 đến nay :
Năm 2010
6
GVHD: thầy Ngô Đức Chiến
Chỉ số tiêu dùng (CPI) tháng 12/2010 của cả nước tăng 1,98%, qua đó đẩy mức
lạm phát năm của cả nước 2010 lên 11,75% so với năm 2009. Con số này vượt gần
5% so với chỉ tiêu được Quốc hội đề ra hồi đầu năm 2010 (khoảng 8%).
do chưa chịu tác động của đợt tăng giá điện mới đây. Riêng nhóm bưu chính - viễn
thông giảm giá gần 0,1%.
Tuy không được tính vào rổ hàng hóa CPI nhưng diễn biến giá vàng và đôla Mỹ
cũng đáng chú ý. Sau nhiều tháng tăng liên tiếp, giá vàng đã giảm gần 1% trong tháng
12 vừa qua. Tính chung cả năm, mặt hàng này vẫn tăng giá khoảng 39%. Đôla Mỹ
tăng giá nhẹ 0,02% trong tháng và kết thúc năm với mức tăng 8,47%.
Năm 2012
Tổng cục Thống kê đánh giá, lạm phát năm 2012 chỉ “nhỉnh” hơn mức tăng 6,52%
của năm 2009 – năm suy giảm kinh tế mạnh và thấp hơn nhiều so với mức tăng
11,75% của năm 2010 và mức tăng 18,13% của năm 2011.
8
GVHD: thầy Ngô Đức Chiến
Cơ quan này phân tích, CPI tăng không quá cao vào hai tháng đầu năm (tăng 1,0%
vào tháng 1 và tăng 1,37% vào tháng 2) nhưng tăng cao nhất vào tháng 9 với mức tăng
2,20%. Đây là tháng chịu tác động chủ yếu của nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm
giáo dục. Sau đó, mức tăng chỉ số giá tiêu dùng đã chậm dần trong những tháng cuối
năm.
Trong năm, có tới 7 tháng CPI chỉ tăng dưới 1% và hầu hết các tháng chỉ tăng dưới
0,5%. Một điều khác thường nữa của thị trường giá cả trong nước năm nay là CPI
không giảm vào sau Tết âm lịch mà giảm vào hai tháng giữa năm (Tháng 6 và tháng
7).
Chỉ số giá vàng tháng 12/2012 tăng 0,46% so với tháng trước; tăng 0,4% so với tháng
12/2011. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2012 tăng 0,03% so với tháng trước; giảm
0,96% so với tháng 12/2011.
Năm 2013
Theo tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2013 tăng 0,51% so với
tháng trước và tăng 6,04% so với tháng 12/2012. Đây là năm có chỉ số giá tiêu dùng
tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2013 tăng
6,6% so với bình quân năm 2012.
Trong các nhòm hàng hóa và dịch vụ, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng có chỉ số giá
người dân do thuế là 1 trong những nguồn bù đắp ngân sách lớn nhất của ngân sách
nhà nước mà việc thu thuế cần phải dựa vào mức thu nhập của người dân, hơn nữa nhà
nước có thể lựa chọn vay từ dân cư trong nước mà để định mức vay hợp lý thì lại phải
dựa trên thu nhập và mức sống của người dân
2.1.2 Phân loại: Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm
hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ.
• Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách
tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô
chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,
• Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh
tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ khi
nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm
xuống trong khi chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên.
10
GVHD: thầy Ngô Đức Chiến
2.2. Tình hình thâm hụt ngân sách nhà nước năm 2010 đến nay
(Đvt: tỷ đồng)
2010 2011 2012 2013(dự toán)
Thu NSNN 777.283 962.982 1.038.451 816.000
Chi NSNN 850.874 1.034.244 1.170.924 978.000
hâm hụt
NSNN
-109.191 -112.034 -173.815 -162.000
Tỷ lệ phần
trăm (%) bội
chi NSNN so
với GDP
-5.5% -4.4% -5.36% -4.8%
Tình hình thâm hụt NSNN 2010-2013
Qua thống kê cho thấy, trong những năm trở lại đây tỷ lệ thâm hụt NSNN so với GDP
nếu lượng vay từ bên ngoài vào bù đắp thâm hụt NSNN quá lớn.
Còn phần bù đắp thâm hụt NSNN từ nguồn vay trong dân về cơ bản, chỉ thu tiền từ
trong lưu thông vào NSNN và sau đó, lại chuyển ra lưu thông nên không làm tăng
lượng tiền cơ bản trên thị trường mà chỉ làm cho vòng quay tiền tệ có thể tăng nhanh
hơn, tạo ra hệ số nở tiền cao hơn mức cần thiết. Điều này, cũng tạo ra tăng cung tiền tệ
do vòng quay tiền tệ lớn, có tạo ra tác động một phần gây ra lạm phát, nhưng không
lớn bằng trực tiếp phát hành tiền ra và vay vốn từ bên ngoài để bù đắp thâm hụt
NSNN.
Nhìn lại quá trình những năm trước đây có thể thấy, chúng ta đã thực hiện một chính
sách tài khoá lỏng lẻo thể hiện tỷ lệ bội chi NSNN bằng khoảng 5% GDP hằng năm,
cộng với đó là phát hành trái phiếu, công trái giáo dục cho đầu tư. Hơn nữa, chúng ta
cũng đã có lúc phát hành tiền ra để kích cầu đầu tư, đầu tư cho một số công trình lớn,
phát hành tiền cho một số công việc… mà chưa thống kê hết. Đây chính là sự tích tụ
tiền tệ các năm trước đó góp một phần làm cho lượng tiền tệ trong lưu thông tăng cao
dẫn đến lạm phát cao.
Chương 4 : Giải pháp kiểm soát bội chi NSNN và kiềm chế lạm phát trong thời gian
tới
12
GVHD: thầy Ngô Đức Chiến
Như trên đã phân tích nguyên nhân của lạm phát cao về cơ bản đã rõ, trong đó có một
phần quan trọng của chính sách tài khoá lỏng lẻo trong những năm qua mà thể hiện ở
bội chi NSNN tăng liên tục qua các năm.
Vấn đề đặt ra hiện nay là rà soát cắt giảm chi tiêu NSNN chưa thật cần thiết và kém
hiệu quả như đề ra các tiêu chí, tiêu chuẩn để cắt bỏ, đình hoãn những công trình đầu
tư chưa thật bức bách, kém hiệu quả hoặc chưa khởi công. Đây là một trong những
nhiệm vụ cực kỳ khó khăn, nhưng với số NSNN hiện có thì với tình hình trượt giá như
hiện nay sẽ không thể có điều kiện thực hiện được hết các dự án, công trình đã bố trí.
Do vậy, cần có sự rà soát để chuyển vốn từ các công trình chưa khởi công, khởi công
chậm, hoặc thủ tục không đầy đủ sang cho các công trình chuyển tiếp, công trình cấp
bách, công trình có hiệu quả kinh tế cao. Việc làm này, đỏi hỏi phải có sự đồng tâm
Danh mục tài liệu tham khảo:
• Website Bộ Tài Chính: />• Bài viết thâm hụt ngân sách trên wikipedia link : />%C3%A2m_h%E1%BB%A5t_ng%C3%A2n_s%C3%A1ch
15
GVHD: thầy Ngô Đức Chiến
• Bài viết” BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI LẠM
PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY” trên link : />nha-nuoc-trong-moi-quan-he-voi-lam-phat-o-viet-nam-hien-nay.html
• .v v
16