NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ SỰ CẦN THIẾT TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NỨƠC HUYỆN TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY - Pdf 75

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ SỰ CẦN THIẾT TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ
NGÂN SÁCH NHÀ NỨƠC HUYỆN TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
1.1 Ngân sách nhà nước
1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước
Trong hệ thống tài chính thống nhất ngân sách nhà nước là khâu tài chính
tập trung giữ vị trí chủ đạo. Ngân sách nhà nước cũng là khâu tài chính được
hình thành sớm nhất, nó ra đời tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời của hệ
thống quản lý nhà nước và sự phát triển của kinh tế hàng hoá tiền tệ. Cho đến
nay, thuật ngữ “ ngân sách nhà nước”được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh
tế xã hội ở mọi quốc gia. Song, quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa
thống nhất. Trên thực tế, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà
nước không giống nhau tuỳ theo quan điểm của người định nghĩa thuộc các
trường phái kinh tế khác nhau hoặc tuỳ theo mục đích nghiên cứu khác nhau.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển thì ngân sách nhà
nước là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu và chi của chính phủ được
thiết lập hàng năm.
Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về
ngân sách nhà nước. Các nhà kinh tế Nga cho rằng “ ngân sách nhà nước là
bảng liệt kê các khoản thu chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của nhà
nước”
Các nhà kinh tế Pháp đưa ra quan điểm: “ngân sách nhà nước là văn kiện
được Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó, các nghiệp
vụ tài chính (thu, chi) của một tổ chức công (Nhà nước, chính quyền địa
phương, đơn vị công) hoặc tư ( doanh nghiệp, hiệp hội) được dự kiến và cho
phép”.
Còn ở Trung Quốc: “ngân sách nhà nước là kế hoạch thu - chi tài chính
hàng năm của Nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định”.
ở Việt Nam, ít nhất cũng có những nghĩa khác nhau về ngân sách nhà
nước :
Giáo trình quản lý tài chính công: ngân sách nhà nước là dự toán hàng năm
về toàn bộ các nguồn tài chính được huy động cho nhà nước và sử dụng các

kiến” chưa xảy ra của ngân sách (trong dự toán ) đồng thời cũng phản ánh quá
trình chấp hành ngân sách ( được thực hiện ); vừa phản ánh tính niên độ của
ngân sách ( trong một năm ) đồng thời thể hiện được tính pháp lý của ngân sách
( đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định ); vừa thể hiện quyền chủ
sở hữu ngân sách (thu, chi nhà nước ) đồng thời cũng thể hiện vị trí, vai trò,
chức năng của ngân sách nhà nước (đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của nhà nước ).
Như vậy định nghĩa về ngân sách như trong Luật ngân sách nhà nước sửa
đổi năm 1998 là đúng đắn. Định nghĩa này đã nhìn nhận ngân sách nhà nước
một cách toàn diện theo nhiều góc độ khác nhau.
1.1.2 Quá trình hình thành và phân cấp ngân sách nhà nước
ở việt nam ngân sách nhà nước xuất hiện và tồn tại từ lâu song các hoạt
động của nó chỉ nhằm phục vụ chủ yếu cho nhu cầu hưởng thụ của vua chúa và
nuôi dưỡng quân đội. Chỉ sau khi sự xâm lăng của thực dân Pháp đã đạt được
kết quả sự cai trị của chúng đã chuyển từ các viên chức quân sự sang tay các
viên chức dân sự và hai thành phố Hà Nội Hải Phòng được công nhận là hai
thành phố có tư cách pháp nhân có ngân sách riêng vào năm 1981 mở đầu cho
việc hình thanhg ngân sách độc lập của các tỉnh và thị xã khác, thì cơ chế tài
chính và hệ thống ngân sách ở nước ta mới được hình thành đầy đủ và hoàn
chỉnh.
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công ( năm 1945) Nhà nước ta đã
thực hiện quyền lực về ngân sách nhà nước đã có nhữung chính sách mang tính
chất cách mạng triệt để, như sắc lệnh về việc bãi bỏ thuế thân, hình thành hệ
thống thuế mới với quan điểm giảm bớt gánh nặng thuế khoá cho dân nghèo.
Tiếp theo đó là hàng loạt các biện pháp nhằm khẳng định quyền lực về tài chính
và củng cố ngân sách của nhà nước Việt Nam, như phát hành tiền kim khí
( ngày 1-12- 1946) và giấy bạc Việt Nam (ngày 3 - 2- 1946); đặt ra “ Quỹ Độc
lập” nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước. Nói chung trong giai đoạn
kháng chiến ( 1946 – 1954) thì vấn đề huy động và chi tiêu của ngân sách nhà
nước đều nhằm mục đích phục vụ kháng chiến thắng lợi. Đến năm 1967 chế độ

Vai trò này thể hiện ở các mặt chủ yếu sau: Xác định một cách khoa học
đặt ra một tỷ lệ huy động tổng sản phẩm xã hội vào ngân sách nhà nước, lấy đó
làm căn cứ để điều chỉnh quan hệ nhà nước với doanh nghiệp và dân cư trong
phân phối tổng sản phẩm xã hội. Xác định quan hệ thuế trong tổng sản phẩm,
đảm bảo nhà nước có nguồn thu thường xuyên, ổn định, thực hiện điều tiết hợp
lý lợi ích trong nền kinh tế quốc dân. Xác định các hình thức huy động ngoài
thuế trên thị trường tài chính, dưới các hình thức công trái quốc gia, trái phiếu
kho bạc, nhằm trang trải bội chi ngân sách nhà nước. Xác định vai trò quyền sở
hữu tài sản công và tài nguyên quốc gia để giải quyết nguồn huy động.
1.1.3.2 Vai trò của ngân sách nhà nước trong ổn định và tăng trưởng kinh
tế
Thể hiện ở việc kích thích, tạo hành lang, môi trường và gây sức ép. Nhà
nước thực hiện chính sách thuế để vừa kích thích vừa gây sức ép. Tạo điều kiện
thuận lợi trên các mặt tài chính, để khuyến khích các thành phần kinh tế có
doanh lợi trong đầu tư phát triển. Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội,
tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư khai thác tài nguyên, sức lao động, thị
trường...Đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn các công trình trọng điểm, các
cơ sở kinh tế then chốt để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, để có thêm những sản
phẩm chủ lực tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật làm chỗ dựa cho các ngành các
thành phần kinh tế trong phát triển kinh tế. Kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn
định tiền tệ giá cả thị trường, góp phần ổn định và phát triển sản xuất, ổn định
đời sống nhân dân.
1.1.3.3 Vai trò của ngân sách nhà nước trong việc ổn định chính trị bảo
vệ thành quả cách mạng
Vai trò của ngân sách nhà nước trong phân phối tổng sản phẩm xã hội,
trong ổn định và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, tạo điều kiện
cho ổn định chính trị thông qua ngân sách nhà nước bảo đảm các nhu cầu và
điều kiện để không ngừng hoàn thiện bộ máy nhà nước, phát huy vai trò của bộ
máy nhà nước trong việc quản lý mọi lĩnh vực của đất nước, bảo đảm an ninh,
quốc phòng, bảo vệ và phát triển những thành tựu đã đạt được trong sự nghiệp

phân cấp như vậy là phù hợp với nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền trong việc
huy động tối đa nguồn lực tài chính. ở thời kỳ này, ngân sách nuyện đóng vai
trò là một cấp dự toán.
Ngày 15 /5 /1978, với chủ chương xây dựng huyện thành một cấp có cơ
cấu kinh tế hoàn chỉnh, có tư cách là một đơn vị kinh tế công nông nghiệp phát
triển toàn diện, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị Quyết 108 /CP xác định quyền
hạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp huyện về quản lý tài chính,
ngân sách. Nghị quyết có quy định các khoản thu, chi ngân sách huyện. Ngày
19 /11 /1983, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị quyết số 138 / HĐBT về cải tiến
phân cấp ngân sách địa phương, nói rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của ngân
sách huyện.
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cùng với đà đổi mới của nền kinh tế đất nước, ngân sách huyện cũng được xác
định lại vai trò, nhiệm vụ của mìmh. Cụ thể, ngày 27 /11 /1989 Hội đồng Bộ
trưởng đã ra nghị quyết số 186 /HĐBT vè phân cấp quản lý ngân sách địa
phương trong đó có Ngân sách Huyện. Ngày 16 /2 /1992 HĐBT ban hành Nghị
quyết số 186 / HĐBT sửa đổi bổ sung nghị quyết186 / HĐBT ngày 27/11/1989.
Kỳ họp thứ 8 Quốc Hội khoá IX khẳng định: huyện là một cấp chính
quyền có ngân sách, ngân sách huyện là một bộ phận hợp thành ngân sách địa
phương thuộc hệ thống ngân sách nhà nước.
Như vậy, ngân sách huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức
năng, nhiệm vụ của ngân sách nhà nước trên phạm vi địa bàn huyện.
Khảo sát quá trình hình thành ngân sách huyện, nhận thấy ngân sách
huyện từ một cấp dự toán đã trở thành một cấp ngân sách có nguồn thu và
nhiệm vụ chi riêng. Đó là một lối đi đúng đắn trong quá trình phát triển nền tài
chính quốc gia. Trước tiên, nó giúp cho Ngân sách cấp tỉnh, trung ương giảm
được khối lượng công việc. Tiếp theo, nó giúp cho các cấp chính quyền có thể
nắm bắt được tình hình kinh tế nói chung và tài chính nói riêng từ cơ sở.
Ngân sách huyện mang bản chất của ngân sách nhà nước, đó là mối quan

tạo cho mình một vị thế nhất định nhằm chủ động trong việc thực hiện chức
năng Nhà nước ở điạ phương. Tuỳ theo phạm vi địa lý, tình hình kinh tế xã hội
trên từng Huyện mà nhu cầu đảm bảo này là khác nhau.
Hiện nay, nước ta có trên hàng triệu công chức đang làm việc trong cả
nước. Để duy trì hoạt động của bộ máy này phải tốn một khoản Ngân sách
khổng lồ. Nhưng trong khi Nhà nước đang chắt chiu từng đồng thì ở một số đơn
vị việc sử dụng Ngân sách vẫn lãng phí, sai phạm. Do vậy, đòi hỏi Ngân sách
Huyện, với tư cách là Ngân sách của các đơn vị cơ sở cần phải quản lý chặt chẽ,
cấp phát đúng chính sách, chế độ, hạn mức làm sao cho bộ máy Nhà nước hoạt
động tốt mà vẫn tiết kiệm, hiệu quả.
Trong các chức năng của Nhà nước, chức năng đảm bảo an ninh trật tự,
quốc phòng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là công cụ quyền lực của Nhà
nước, nhằm bảo vệ ý chí của Nhà nước, tạo điều kiện an toàn để Huyện phát
triển mọi mặt. Để đảm bảo cho chức năng đặc biệt này, Ngân sách Huyện cần
phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết, có các khoản dự phòng hợp lý.
1.2.2.2 Ngân sách Huyện là công cụ thúc đẩy, phát triển ổn định kinh tế
Để thực hiện tốt chiến lược kinh tế - tài chính của cấp tỉnh, cấp trung ương,
cấp Huyện cần phải sử dụng các công cụ sẵn có của mình để điều tiết , định
hướng. Một trong những công cụ đắc lực là Ngân sách. Sẽ không có một cơ câú
kinh tế ổn định, phát triển nếu bỏ qua công cụ này. Các Huyện phải căn cứ vào
thế mạnh của địa phương mình để định hướng, hình thành cơ cấu kinh tế, kích
thích phát triển. Đồng thời các Huyện phải cung cấp kinh phí, vốn đầu tư, hỗ trợ
về cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.
Thuế là một phương tiện đắc lực trong điều tiết vĩ mô kinh tế, Huyện có
thể sử dụng công cụ này để điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Ngoài ra cấp Huyện phải
xây dựng cho mình một tiềm lực kinh tế riêng, đó là các doanh nghiệp Nhà
nước do cấp Huyện quản lý. Loại hình doanh nghiệp này phải đóng vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế Huyện
1.2.2.3 Ngân sách Huyện là phương tiện bù đắp khiếm khuyết thị trường,
đảm bảo công bằng xã hội, gìn giữ môi trường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status