NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NỨƠC HUYỆN TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY - Pdf 67

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NỨƠC HUYỆN TRONG ĐIỀU KIỆN
HIỆN NAY
1.1NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1: Khái niệm ngân sách nhà nước.
Trong hệ thống tài chính thống nhất ngân sách nhà nước là khâu tài
chính tập trung giữ vị trí chủ đạo. Ngân sách nhà nước cũng là khâu tài chính
được hình thành sớm nhất, nó ra đời tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra
đời của hệ thống quản lý nhà nước và sự phát triển của kinh tế hàng hoá tiền
tệ. Cho đến nay, thuật ngữ “ ngân sách nhà nước”được sử dụng rộng rãi trong
đời sống kinh tế xã hội ở mọi quốc gia. Song, quan niệm về ngân sách nhà nước
lại chưa thống nhất. Trên thực tế, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân
sách nhà nước không giống nhau tuỳ theo quan điểm của người định nghĩa
thuộc các trường phái kinh tế khác nhau hoặc tuỳ theo mục đích nghiên cứu
khác nhau.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển thì ngân sách nhà
nước là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu và chi của chính phủ được
thiết lập hàng năm.
Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về
ngân sách nhà nước. Các nhà kinh tế Nga cho rằng “ ngân sách nhà nước là
bảng liệt kê các khoản thu chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của nhà
nước”
Các nhà kinh tế Pháp đưa ra quan điểm: “ngân sách nhà nước là văn kiện
được Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó, các nghiệp
vụ tài chính (thu, chi) của một tổ chức công (Nhà nước, chính quyền địa
phương, đơn vị công) hoặc tư ( doanh nghiệp, hiệp hội) được dự kiến và cho
phép”.
Còn ở Trung Quốc: “ngân sách nhà nước là kế hoạch thu - chi tài chính
hàng năm của Nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định”.
Ở Việt Nam, ít nhất cũng có những nghĩa khác nhau về ngân sách nhà
nước:

Trong khi đa số đều dừng ở khâu dự toán thì quan niệm của Luật Ngân
sách nhà nước đã đề cập đến khâu lập và thực hiện dự toán ngân sách. Quan
niệm của Luật ngân sách là sâu sắc hơn cả, vừa phản ánh được nội dung cơ
bản của ngân sách ( toàn bộ các khoản thu, chi ) vừa thể hiện được tính chất
“dự kiến” chưa xảy ra của ngân sách (trong dự toán ) đồng thời cũng phản ánh
quá trình chấp hành ngân sách ( được thực hiện ); vừa phản ánh tính niên độ
của ngân sách ( trong một năm ) đồng thời thể hiện được tính pháp lý của
ngân sách ( đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định ); vừa thể
hiện quyền chủ sở hữu ngân sách (thu, chi nhà nước ) đồng thời cũng thể hiện
vị trí, vai trò, chức năng của ngân sách nhà nước (đảm bảo thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của nhà nước ).
Như vậy định nghĩa về ngân sách như trong Luật ngân sách nhà nước sửa
đổi năm 1998 là đúng đắn. Định nghĩa này đã nhìn nhận ngân sách nhà nước
một cách toàn diện theo nhiều góc độ khác nhau.
1.1.2 Quá trình hình thành và phân cấp ngân sách nhà nước
Ở việt nam ngân sách nhà nước xuất hiện và tồn tại từ lâu song các hoạt
động của nó chỉ nhằm phục vụ chủ yếu cho nhu cầu hưởng thụ của vua chúa và
nuôi dưỡng quân đội. Chỉ sau khi sự xâm lăng của thực dân Pháp đã đạt được
kết quả sự cai trị của chúng đã chuyển từ các viên chức quân sự sang tay các
viên chức dân sự và hai thành phố Hà Nội Hải Phòng được công nhận là hai
thành phố có tư cách pháp nhân có ngân sách riêng vào năm 1981 mở đầu cho
việc hình thanhg ngân sách độc lập của các tỉnh và thị xã khác, thì cơ chế tài
chính và hệ thống ngân sách ở nước ta mới được hình thành đầy đủ và hoàn
chỉnh.
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công ( năm 1945) Nhà nước ta đã
thực hiện quyền lực về ngân sách nhà nước đã có nhữung chính sách mang
tính chất cách mạng triệt để, như sắc lệnh về việc bãi bỏ thuế thân, hình thành
hệ thống thuế mới với quan điểm giảm bớt gánh nặng thuế khoá cho dân
nghèo. Tiếp theo đó là hàng loạt các biện pháp nhằm khẳng định quyền lực về
tài chính và củng cố ngân sách của nhà nước Việt Nam, như phát hành tiền

trọng của ngân sách trong cơ chế thị trường. Vai trò này về mặt cụ thể có thể
đề cập đến ở nhiều nội dung và những biểu hiện đa dạng khác nhau song trên
góc độ tổng hợp có thể khái quát trên ba khía cạnh sau:
1.1.3.1 Vai trò của ngân sách nhà nước trong phân phối tổng sản
phẩm xã hội
Vai trò này thể hiện ở các mặt chủ yếu sau: Xác định một cách khoa học
đặt ra một tỷ lệ huy động tổng sản phẩm xã hội vào ngân sách nhà nước, lấy
đó làm căn cứ để điều chỉnh quan hệ nhà nước với doanh nghiệp và dân cư
trong phân phối tổng sản phẩm xã hội. Xác định quan hệ thuế trong tổng sản
phẩm, đảm bảo nhà nước có nguồn thu thường xuyên, ổn định, thực hiện điều
tiết hợp lý lợi ích trong nền kinh tế quốc dân. Xác định các hình thức huy động
ngoài thuế trên thị trường tài chính, dưới các hình thức công trái quốc gia, trái
phiếu kho bạc, nhằm trang trải bội chi ngân sách nhà nước. Xác định vai trò
quyền sở hữu tài sản công và tài nguyên quốc gia để giải quyết nguồn huy
động.
1.1.3.2 Vai trò của ngân sách nhà nước trong ổn định và tăng
trưởng kinh tế
Thể hiện ở việc kích thích, tạo hành lang, môi trường và gây sức ép. Nhà
nước thực hiện chính sách thuế để vừa kích thích vừa gây sức ép. Tạo điều kiện
thuận lợi trên các mặt tài chính, để khuyến khích các thành phần kinh tế có
doanh lợi trong đầu tư phát triển. Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội,
tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư khai thác tài nguyên, sức lao động, thị
trường...Đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn các công trình trọng điểm, các
cơ sở kinh tế then chốt để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, để có thêm những sản
phẩm chủ lực tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật làm chỗ dựa cho các ngành các
thành phần kinh tế trong phát triển kinh tế. Kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn
định tiền tệ giá cả thị trường, góp phần ổn định và phát triển sản xuất, ổn định
đời sống nhân dân.
1.1.3.3 Vai trò của ngân sách nhà nước trong việc ổn định chính trị
bảo vệ thành quả cách mạng

nước để phát huy vai trò thúc đẩy tăng trưởng, ổn định và điều khiển kinh tế
vĩ mô của ngân sách nhà nước.
1.2 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HUYỆN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG
CƯỜNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HUYỆN TRONG ĐIỀU
KIỆN HIỆN NAY
1.2.1 Lịch sử hình thành ngân sách nhà nước huyện
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, ngân sách nhà nước ta
tổ chức thành hai cấp: Ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh, thành phố.
Việc phân cấp như vậy là phù hợp với nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền trong
việc huy động tối đa nguồn lực tài chính. ở thời kỳ này, ngân sách nuyện đóng
vai trò là một cấp dự toán.
Ngày 15 /5 /1978, với chủ chương xây dựng huyện thành một cấp có cơ
cấu kinh tế hoàn chỉnh, có tư cách là một đơn vị kinh tế công nông nghiệp phát
triển toàn diện, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị Quyết 108 /CP xác định quyền
hạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp huyện về quản lý tài
chính, ngân sách. Nghị quyết có quy định các khoản thu, chi ngân sách huyện.
Ngày 19 /11 /1983, HĐBT ra Nghị quyết số 138 / HĐBT về cải tiến phân cấp
ngân sách địa phương, nói rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của ngân sách
huyện.
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng XHCN. Cùng với đà
đổi mới của nền kinh tế đất nước, ngân sách huyện cũng được xác định lại vai
trò, nhiệm vụ của mìmh. Cụ thể, ngày 27 /11 /1989 HĐBT đã ra nghị quyết số
186 /HĐBT vè phân cấp quản lý ngân sách địa phương trong đó có Ngân sách
Huyện. Ngày 16 /2 /1992 HĐBT ban hành Nghị quyết số 186 / HĐBT sửa đổi
bổ sung nghị quyết186 / HĐBT ngày 27/11/1989.
Kỳ họp thứ 8 Quốc Hội khoá IX khẳng định: huyện là một cấp chính quyền
có hgân sách, ngân sách huyện là một bộ phận hợp thành ngân sách địa
phương thuộc hệ thống ngân sách nhà nước.
Như vậy, ngân sách huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status