MỤC LỤC
2.4. Đánh giá chung về công tác quản lý chi Ngân sách xã trên địa bàn huyện Kim Thành
trong thời gian qua......................................................................................................................43
2.4.1. Những mặt đạt được của công tác quản lý chi Ngân sách xã trên địa bàn huyện Kim
Thành trong thời gian qua......................................................................................................43
2.4.2. Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân ................................................................45
3.3. Một số giải pháp khác.....................................................................................................57
3.3.1.Về khuôn khổ pháp lý...................................................................................................57
3.3.2. Về đội ngũ cán bộ .......................................................................................................58
3.3.3. Về công tác thông tin tuyên truyền..............................................................................59
3.3.4. Về cơ sở vật chất .........................................................................................................59
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang từng bước hội nhập kinh tế thế giới, hội nhập kinh tế thế
giới là một tiến trình quan trọng trên con đường phát triển của dân tộc Việt Nam,
mở ra thời kì mới với những vận hội mới cho đất nước. Ngày 11 tháng 01 năm
2007 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hội nhập đó. Hệ
thống tài chính quốc gia là một trong những khâu quan trọng nhất để nền kinh tế
có thể hội nhập thành công và Ngân sách nhà nước đóng một vai trò đặc biệt
quan trọng giúp cho Nhà nước Việt Nam thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ, mục
đích kinh tế đặt ra trong thời gian tới.
1
Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 ra đời, có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2004 trên cơ sở sửa đổi bổ sung một số điều của luật Ngân sách Nhà nước
năm 1996 là cơ sở pháp lí quan trọng phát huy hiệu quả công tác quản lí Ngân
sách Nhà nước. Đồng thời, thể hiện sự tập trung, thống nhất, phân cấp mạnh mẽ
tăng cường quyền chủ động tài chính cho chính quyền cấp xã, nâng cao hiệu quả
quản lí Ngân sách xã. Bên cạnh những điểm đã đạt được, còn rất nhiều những
tồn tại chưa thể tháo gỡ và xử lý làm cho Ngân sách xã chưa thực sự phát huy
được vai trò quan trọng trong hệ thống các cấp NSNN, công tác quản lí ngân
sách xã còn nhiều tồn tại ảnh hưởng tới hiệu quả của quản lí, chưa đảm bảo huy
gắng nhưng do khả năng và thời gian hạn chế nên luận văn tốt nghiêp không
tránh khỏi những sai sót. Kính mong thầy cô giáo, các cán bộ phòng Tài chính –
kế hoạch và bạn đọc đóng góp ý kiến để luận văn được hoàn chỉnh.
Em xin chân thành cảm ơn!
3
CHƯƠNG 1
LÍ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH XÃ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI
NÂNG CAO QUẢN LÍ CHI NGÂN SÁCH XÃ
1.1 – Lí luận chung về Ngân sách xã.
1.1.1 Sơ lược về sự hình thành và quá trình phát triển của Ngân sách xã.
1.1.1.1. Sự hình thành của Ngân sách xã
Nước ta, đã có hàng nghìn năm lịch sử tồn tại và phát triển gắn liền với
các triều đại phong kiến và cùng đó là sự hình thành và phát triển của làng xã.
Chính từ việc đặt định và quản lý làng xã từ thời xa xưa, thực thể làng xã và văn
4
minh làng xã đã hiện hình: Từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt lấy
trồng trọt là nông nghiệp lúa nước làm chủ lực, Nhà nước qua các triều đại từ tự
chủ đến đô hộ trải qua các đời trong đó các vấn đề thu- chi ngân sách - thuế khóa
tiền tệ… trong lịch sử là một trong những đặc trưng quan trọng của làng xã và
văn minh làng xã.
Theo nhà sử học Lê Văn Lan, NSX ở Việt Nam có quá trình phát triển từ
rất lâu đời. Trong bản hương ước ngày trước có ghi: “ Nước có thuế nước như:
thuế đinh điền, môn bài để chi công việc công ích trong nước. Dân phải đóng
thuế ở dân như thuế trâu, bò, ngựa, nhà cửa để lo công việc cho dân”. Thuật ngữ
và khái niệm “dân” ở đây chính là dùng cho làng xã.
Câu văn cổ này chính là một tuyên ngôn cho sự ra đời và tồn tại của NSX
trong xã hội và văn minh làng xã ngày xưa. Với lý do: làng xã là một đơn vị có
tính tự tôn - tự trị - tự quản cao, nên cũng cần phải có quỹ làng xã, sự ra đời và
tồn tại “Ngân sách” hiển nhiên là một tất yếu truyền thống.
Theo luật ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2002 và các văn bản hướng
theo luật lệ thống nhất của Nhà nước, góp phần quan trọng trong sự nghiệp giải
phóng miền Nam, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn này
Chính Phủ đã ban hành một số Nghị định hướng dẫn việc thi hành điều lệ NSX.
Kèm theo đó là nội dung cụ thể cũng như nguyên tắc quản lí thu chi thường
xuyên và không thường xuyên. Đồng thời cũng xác định được quyền hạn trách
nhiệm của từng cấp chính quyền trong việc xây dựng quản lí NSX. trong nghị
6
quyết đại hội lần thứ IV của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1978 đã xác định:
NSX là một cấp NSNN nhưng tạm thời chưa tổng hợp thu chi NSX vào ngân
sách huyện
- Giai đoạn từ năm 1983 đến 1996: Hội đồng bộ trưởng nước cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam (nay là Chính Phủ) đã có quyết định hoàn thiện cơ cấu
hệ thống Ngân sách và phân cấp ngân sách với hệ thống NSNN gồm bốn cấp:
Trung ương – Tỉnh – Huyện - Xã . NSX lúc này đã là khâu độc lập trong hệ
thống NSNN, nhưng dự toán và quyết toán NSX vẫn thực hiện theo mục lục
Ngân sách riêng và hạch toán theo chế độ kế toán NSX. trong điều kiện thực
hiện đổi mới kinh tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường,
công tác quản lí ngân sách có nhiều thay đổi liên quan tới hoạt động thu chi.
Trước tình hình đó Bộ tài chính ban hành tạm thời công văn số 35/TC-NSNN
vào tháng 5/1990 hướng dẫn sử dụng NSX nhằm tăng cường công tác quản lí
NSX. Đây là bước đệm quan trọng trong quản lí ngân sách, tạo điều kiện cho các
địa phương làm quen và áp dụng quản lí NSX trong điều kiện mới.
- Giai đoạn từ năm 1996 đến nay: để đáp ứng yêu cầu quản lí NSNN nói
chung và NSX nói riêng Quốc hội đã ban hành luật NSNN ngày 20/03/1996 quy
định NSNN bao gồm NS Trung ương và NS các cấp chính quyền địa phương.
Luật đó khẳng định NSX là một trong bốn cấp NS mang tính độc lập, là một
phương tiện để chính quyền cấp xã thực hiện chức năng nhiệm vụ do pháp luật
quy định. Bên cạnh đó luật NSNN năm 1996 đã quy định cụ thể việc quản lí thu
chi NS cấp xã và hướng dẫn việc tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ tài chính cấp xã
nhằm đáp ứng nhu cầu quản lí NS cấp xã. Để quản lí hoat động thu chi Nhà nước
do nguồn thu của xã có hạn chế và cũng phải nhận trợ cấp từ ngân sách cấp trên
và phụ thuộc vào Ngân sách cấp trên. Do vậy NSX được coi là đơn vị dự toán
cuối cùng đây là một dặc trưng cơ bản của NSX, khác so với các cấp Ngân sách
khác.
- Về chủ thể: Trong các hoạt động thu chi bằng tiền hình thành quỹ Ngân
sách được các chủ thể công tiến hành, mà chủ thể công ở đây chính là chính
quyền Nhà nước cấp xã.
- Về mặt pháp luật: Quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình thu chi
NSX là quan hệ lợi ích giữa hai bên, một bên là lợi ích chung của cộng đồng cấp
cơ sở đại diện là chính quyền xã với một bên là lợi ích chung của các chủ thể
kinh tế khác. Là một đơn vị hành chính cấp cơ sở chịu trách nhiệm trước nhân
dân trong địa giới hành chính của mình và chịu trách nhiệm trước chính quyền
cấp trên. Do vậy NSX không chỉ có mối quan hệ với các chủ thể công trong địa
giới hành chính xã mà còn có mối quan hệ nhất định với các chủ thể của chính
quyền cấp trên, các quan hệ này luôn chịu sự điều chỉnh bởi các luật cung, dựa
trên các quy phạm pháp luật mệnh lệnh, quyền uy.
- Về mặt đặc thù: ngân sách xã vừa là một cấp ngân sách lại vừa là một
đơn vị dự toán đặc biệt không có đơn vị dự toán cấp trực thuộc.
NSX luôn gắn chặt với bộ máy chính quyền cấp xã nhằm duy trì sự tồn tại
và phát huy hiệu lực của bộ máy chính quyền xã, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-
xã hội mà chính quyền cấp xã đảm nhận trong từng thời kì do HĐND xã giao
cho.
1.1.2.2. Nội dung chi ngân sách xã.
9
* Những quy định chung về chi NSX
Ngân sách xã là một bộ phận của ngân sách nhà nước. Ngân sách xã do
Uỷ ban nhân dân xã xây dựng và quản lý, Hội đồng nhân dân xã quyết định và
giám sát.
Chi ngân sách xã gồm: chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Việc
phân cấp nhiệm vụ chi cho ngân sách xã phải căn cứ vào chế độ phân cấp quản
- Khái niệm:
Có thể hiểu chi đầu tư phát triển của ngân sách xã là quá trình phân phối và
sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSX để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh
tế- xã hội, phát triển sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế, thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Nhận thức được tầm quan trọng của đầu tư phát triển, NSX luôn có sự ưu
tiên nguồn vốn dành cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo điều
kiện cho phát triển sản xuất.
- Các khoản chi đầu tư phát triển của NSX gồm:
+ Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội do
địa phương quản lí;
11
+ Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từ
nguồn huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân cho từng dự án nhất định theo
quy định của pháp luật, do HĐND xã quyết định đưa vào NSX quản lí;
+ Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật;
Chi thường xuyên:
- Khái niệm:
Chi thường xuyên của ngân sách xã là quá trình phân phối, sử dụng vốn
NSX để đáp ứng nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ của xã và
một số dịch vụ công cộng mà xã vẫn phải cung ứng.
- Các khoản chi thường xuyên của NSX gồm:
+ Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn
hóa thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, môi trường, các hoạt động sự
nghiệp khác do địa phương quản lí;
+ Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội (phần giao địa phương);
+ Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam
và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương;
+ Hỗ trợ các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật;
sách, cơ chế phân cấp nguồn thu - nhiệm vụ chi ngân sách xã và tỷ lệ phân chia
nguồn thu do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định;
13
- Số kiểm tra về dự toán ngân sách xã do Uỷ ban nhân dân huyện thông
báo;
- Tình hình thực hiện dự toán ngân sách xã năm hiện hành và các năm
trước.
* Trình tự lập dự toán chi ngân sách xã:
- UBND cấp huyện hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán ngân
sách cho các đơn vị trực thuộc và UBND cấp xã.
- Các ban, tổ chức thuộc Uỷ ban nhân dân xã căn cứ vào chức năng nhiệm
vụ được giao và chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi lập dự toán chi của đơn vị tổ
chức mình.
- Kế toán xã lập dự toán chi và cân đối ngân sách xã trình Uỷ ban nhân dân
xã báo cáo Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã để xem xét gửi Uỷ
ban nhân dân huyện và Phòng tài chính – kế hoạch huyện. Thời gian báo cáo dự
toán ngân sách xã do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
- Đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, Phòng Tài chính – kế hoạch
huyện làm việc với Uỷ ban nhân dân xã về cân đối thu - chi ngân sách xã thời kỳ
ổn định mới theo khả năng bố trí cân đối chung của ngân sách địa phương. Đối
với các năm tiếp theo của thời kỳ ổn định, Phòng Tài chính – kế hoạch huyện chỉ
tổ chức làm việc với Uỷ ban nhân dân xã về dự toán ngân sách khi Uỷ ban nhân
dân xã có yêu cầu.
- Quyết định dự toán chi ngân sách xã: Sau khi nhận được quyết định giao
nhiệm vụ chi ngân sách của UBND huyện, UBND xã hoàn chỉnh dự toán chi
NSX và phương án phân bổ ngân sách xã trình HĐND xã quyết định. Sau khi dự
toán chi ngân sách xã được HĐND xã quyết định, UBND xã báo cáo UBND
14
huyện, Phòng tài chính – kế hoạch huyện, đồng thời thông báo công khai dự toán
chi ngân sách xã cho nhân dân biết theo chế độ công khai tài chính về ngân sách
sách nhà nước gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để làm căn cứ thanh toán và
kiểm soát chi.
- Các khoản thanh toán về cơ bản theo nguyên tắc chi trả trực tiếp qua Kho
bạc. Căn cứ vào dự toán cả năm và nhu cầu chi Uỷ ban nhân dân xã lập dự toán
chi gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch. Đối với những xã có các nguồn thu chủ
yếu theo mùa vụ, Uỷ ban nhân dân xã đề nghị Cơ quan tài chính cấp trên thực
hiện tiến độ cấp số bổ sung cân đối trong dự toán đã được giao (nếu có) cho phù
hợp để điều hành chi theo tiến độ công việc.
- Chi NSX chỉ đuợc thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:
+ Có trong dự toán NSX được giao
+ Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định
+ Được chủ tịch ủy ban nhân dân xã hoặc người được ủy quyền quyết
định chi
- Xây dựng kế hoạch thực hiện các chỉ tiêu dự toán chi NSX trong năm kế
hoạch
- Tổ chức thực hiện chi NSX
16
- Kiểm tra thanh tra, giám sát quá trình thực hiện dự toán chi NSX
- Điều chỉnh dự toán chi NSX trong quá trình chấp hành ngân sách trong
trường hợp:
+ Trong quá trình chấp hành dự toán chi ngân sách xã nếu có sự thay đổi
về nguồn thu và nhiệm vụ chi như: giảm số thu thực tế so với dự toán được duyệt
thì phải sắp xếp lại để giảm một số khoản chi tương ứng
+ Phát sinh các công việc đột xuất như chi phòng chống, khắc phục hậu
quả thiên tai, nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng an ninh và các nhiệm vụ chi
cấp bách khác.
1.1.3.3. Quyết toán chi ngân sách xã.
* Mục tiêu:
Thực chất là tổng hợp đánh giá phân tích xác nhận kết quả tổ chức chấp
hành chi NSX
Trường hợp có khả năng hụt thu phải chủ động có phương án sắp xếp lại các
khoản chi để đảm bảo cân đối NSX.
+ Phối hợp với KBNN huyện nơi giao dịch đối chiếu tất cả các khoản chi
NSX trong năm, bảo đảm hạch toán đầy đủ, chính xác các khoản chi theo Mục
lục NSNN.
18
+ Các khoản chi phát sinh vào thời điểm cuối năm được thực hiện theo
nguyên tắc sau:
Nhiệm vụ chi được bố trí trong dự toán ngân sách năm, chỉ được chi trong
niên độ ngân sách năm đó, các khoản chi có trong dự toán đến hết 31/12 chưa
thực hiện được không được chuyển sang năm sau chi tiếp, trừ trường hợp cần
thiết phải chi nhưng chưa chi được, phải được UBND quyết định cho chi tiếp,
khi đó hạch toán và quyết toán như sau: nếu thực hiện trong thời gian chỉnh lý
quyết toán thì dùng tồn quỹ năm trước để chi và quyết toán vào ngân sách năm
trước; nếu được quyết định thực hiện trong năm sau, thì làm thủ tục chuyển
nguồn sang năm sau để chi tiếp và thực hiện quyết toán vào chi ngân sách năm
sau.
1.2 - Sự cần thiết phải nâng cao quản lí chi ngân sách xã.
1.2.1. Vai trò ngân sách xã đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở trong hệ thống chính trị ở nước ta.
HĐND xã là cơ quan quyền lực cao nhất ở địa phương, chịu trách nhiệm giải
quyết các việc quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của địa phương.
Chính quyền cấp xã trực tiếp liên hệ với dân để giải quyết mối quan hệ giữa Nhà
nước với nhân dân.
Ngày nay, công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội ở nông thôn đang diễn ra
mạnh mẽ. Đòi hỏi chính quyền cấp xã phải tăng cường công tác quản lý, phát
huy đầy đủ chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của mình được giao trên các hoạt
động kinh tế, văn hóa, xã hội ở xã. Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ đó của
mình chính quyền xã cần có phương tiện vật chất, khả năng tài chính để đáp
ứng cho nhu cầu đầu tư phát triển, thực hiện các định hướng phát triển kinh tế
tăng cường hiệu lực hiệu quả các hoạt động của chính quyền cấp xã. Ngoài ra
thông qua chi Ngân sách sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng,
trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển
của các thành phần kinh tế. Bên cạnh đó còn giúp giải quyết các vấn đề xã hội:
trợ giúp trực tiếp cho những người có thu nhập thấp hay hoàn cảnh đặc biệt ví dụ
như chi trợ cấp xã hội, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số…
1.2.2.2. Xuất phát từ thực trạng quản lí chi Ngân sách xã ở nước ta.
Thời gian qua cùng với những thay đổi của đất nước, xây dựng nông thôn
mới, NSX có những chuyển biến tích cực tạo nguồn thu ngày càng lớn, đáp ứng
nhu cầu chi tiêu phong phú và đa dạng cho chính quyền cấp xã. Công tác lập dự
toán, chấp hành dự toán, quyết toán chi NSX ở nhiều địa phương đã từng bước
được cải thiện. Nhưng cũng còn có những hạn chế về nhiều mặt: công tác lập ở
một số xã chưa được chính quyền xã quan tâm đúng mức. Công tác chấp hành,
quyết toán chi NSX cũng còn bộc lộ những yếu kém, hạn chế dẫn đến quản lí chi
NSX vẫn còn xảy ra tình trạng thất thoát lãng phí: chi tiêu lãng phí trong quản lí
hành chính; chi hội nghị, tiếp khách quá lớn…
Kết luận: NSX đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an sinh xã hội ở các địa phuơng. Song
thực tế công tác quản lí NSX hiện nay còn nhiều bất cập đòi hỏi cần phải có
những biện pháp để tăng cường, củng cố công tác quản lí chi NSX tạo điều kiện
cho NSX đủ mạnh để đáp ứng được yêu cầu đổi mới, nhiệm vụ mới trong cuộc
sống hiện nay.
21
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CHI NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1. Cơ cấu, chức năng - nhiệm vụ, của phòng Tài chính – kế hoạch huyện
Kim Thành
2.1.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức
22
Kế
toán
chi NS
Kế
toán
quản li
vốn
ĐTXD
CB
Thủ
quỹ
23
- Quản lí cán bộ công chức viên chức, tài sản của phòng theo quy định của
nhà và của địa phương
* Các bộ phận chuyên môn.
Với chức năng nhiệm vụ được giao, bộ máy tổ chức các bộ phận chuyên
môn được chia làm 3 bộ phận chính:
- Bộ phận quản lí ngân sách huyện: Phân bổ dự toán, quản lí tài sản, thu
chi ngân sách huyện, báo cáo thu ngân sách trên địa bàn, hướng dẫn kiểm tra
đôn đốc thực hiện dự toán chi, thẩm tra quyết toán chi ngân sách. Thực hiện
chế độ báo cáo thường xuyên, định kì theo quy định.
- Bộ phận quản lí ngân sách xã: Phân bổ dự toán, quản lí tài sản, thu chi
ngân sách xã, đôn đốc thực hiện dự toán chi ngân sách xã. Thực hiện chế độ
báo cáo thường xuyên, định kì theo quy định.
- Bộ phận kế hoạch đầu tư: Lập kế hoạch tổng thể kinh tế xã hội của
huyện, hướng dẫn kiểm tra đôn đốc thực hiện, thẩm định quyết toán đầu tư xây
dựng cơ bản, cấp phát đăng kí kinh doanh hộ cá thể; thực hiện nhiệm vụ về
công tác giá cả trên địa bàn huyện. thực hiện chế độ báo cáo thường xuyên,
định kì theo quy định.
Trong từng bộ phận nhiệm vụ được phân công nhiệm vụ cán bộ thực hiện
còn có hệ thống tỉnh lộ 188 và 186 đi các huyện khác trong tỉnh tạo điều kiện
thuận lợi để nhân dân phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng giao lưu với các
huyện, tỉnh bạn.
Với điều kiện tự nhiên như vậy có thể thấy Kim Thành là một huyện có vị
trí kinh tế rất quan trọng đối với miền Bắc nói chung và tỉnh Hải Dương nói
riêng.
2.2.2. Điều kiện kinh tế xã hội
Trong những năm qua, nhất là trong 2 năm gần đây, do tác động tiêu cực
của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nên hoạt động sản xuất kinh doanh trên
địa bàn huyện có phần chững lại, do vậy đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác
25