Ngân sách nhà nước và thực trạng thâm hụt Ngân sách nhà nước ở Việt Nam - Pdf 46

LỜI MỞ ĐẦU
Ngân sách nhà nước đóng vai trò vô cùng quan trọng trong mọi thời đại và
trong mọi nền kinh tế, nó là công cụ huy động tài chính đảm bảo việc thực
hiện hoạt động của bộ máy nhà nước, là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh
tế xã hội, có vai trò quan trọng trong cơ chế thị trường. Bởi vậy, mỗi quốc
gia đều xây dựng cho mình một hệ thống ngân sách nhà nước quy định cụ
thể chi tiết và hoàn chỉnh các vấn đề về thu, chi, phân cấp cũng như quản lý
ngân sách…Ngoài ra, mỗi năm còn có hội nghị thường niên nhằm báo cáo
các kết quả đạt được của ngân sách nhà nước trong năm và đề ra những chỉ
tiêu, nhiệm vụ về ngân sách cho năm tới.
Tại Việt Nam, tình hình kinh tế trong những năm gần với, với việc thu và chi
tiêu ngân sách không hợp lý và kém hiệu quả đã khiến cho ngân sách nhà
nước luôn luôn bị thâm hụt và ở mức khá cao. Nguồn thu của ngân sách nhà
nước hiện tại còn rất nhiều hạn chế về mặt cơ cấu cũng như quản lý nguồn
thu trong khi nhu cầu đầu tư các dự án và chương trình kinh tế lớn của nhà
nước cần một số lượng vốn lớn, chính những điều đó đã dẫn tới việc bội chi
ngân sách và tác động không nhỏ tới sự phát triển chung của đất nước.
Đó cũng chính là lý do em chọn đề tài : “ Ngân sách nhà nước và thực trạng
thâm hụt Ngân sách nhà nước ở Việt Nam”. Để có thể hiểu rõ hơn về các vai
trò của ngân sách nhà nước cũng như các khoản mục thu chi, đặc biệt là về
thâm hụt ngân sách cũng như các biện pháp khắc phục nó, cấu trúc của bài
đề án gồm 3 phần:
Chương 1: Tổng quan về Ngân sách nhà nước và thâm hụt Ngân sách nhà nước.
Chương 2: Thực trạng Ngân sách nhà nước và thâm hụt Ngân sách nhà nước tại
Việt Nam.
Chương 3: Kết luận về Ngân sách nhà nước và thâm hụt Ngân sách nhà nước tại
Việt Nam.
1
Chương 1: Tổng quan về Ngân sách nhà nước và thâm hụt
Ngân sách nhà nước
I. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Ngân sách nhà nước:

khoản thu, chi bằng tiền của nhà nước trong một thời gian nhất định, thường là
một năm do cơ quan lập pháp của quốc gia ban hành.
- Xét về bản chất kinh tế: Ngân sách nhà nước là tập hợp các mối quan hệ
trong phân phối, gắn liền với việc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung.
- Về tính chất xã hội: Ngân sách nhà nước là công cụ kinh tế của nhà nước,
nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
2. Đặc điểm:
- Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh
tế - chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được
nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định.
- Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài
chính, nó thể hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước.
- Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng
những lợi ích chung, lợi ích công cộng.
- Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét
khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà
nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi
dùng cho những mục đích đã định.
- Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc
không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
3
3. Vai trò của Ngân sách nhà nước:
3.1. Ngân sách nhà nước – công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo
các nhu cầu chi tiêu của nhà nước:
Đây là vai trò lịch sử của ngân sách nhà nước, mà trong cơ chế nào và trong thời
đại nào ngân sách nhà nước cũng phải thực hiện. Vai trò này của ngân sách nhà
nước được xác định trên cơ sở bản chất kinh tế của ngân sách nhà nước. Sự hoạt
động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội luôn đòi hỏi phải có
các nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định. Các nhu cầu chi tiêu
của nhà nước phải được thỏa mãn từ các nguồn thu bằng hình thức thuế và thu

nước cũng là một vấn đề cần phải xem xét thận trọng khi quyết định thực
hiện các biện pháp huy động tiền vay.
3.2.2. Về mặt xã hội:
- Đầu tư của ngân sách để thực hiện các chính sách xã hội : chi Giáo dục -
đào tạo, y tế, kế hoạch hóa gia đình, văn hóa, thể thao, truyền thanh, chi
bảo đảm xã hội, sắp xếp lao động và việc làm, trợ giá mặt hàng ...
- Thông qua thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm điều
tiết thu nhập để phân phối lại cho các đối tượng có thu nhập thấp.
- Thông qua thuế gián thu nhằm hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm. Tuy
nhiên, vấn đề sử dụng công cụ NSNN để điều chỉnh các vấn đề xã hội
không đơn giản, đòi hỏi phải được nghiên cứu đầy đủ và phải có sự thống
nhất giữa chính sách và biện pháp. Chẳng hạn: Khi trợ giá điện, xăng dầu,
công tác truyền hình . . . thì những đối tượng được hưởng không phải là
người nghèo, mà chính là những người có thu nhập trung bình hoặc cao.
3.2.3. Về mặt thị truờng:
Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các chính sách về
ổn định giá cả, thị trường và chống lạm phát. Bằng công cụ thuế, phí, lệ phí,vay và
chính sách chi ngân sách nhà nước có thể điều chỉnh được giá cả, thị trường một
cách chủ động.
- Một chính sách ngân sách thắt chặt hay nới rộng đều có thể tác động mạnh
mẽ đến cung - cầu xã hội.
5
- Việc huy động của ngân sách nhà nước dưới các hình thức thuế, phí, lệ
phí,vay và kể cả bảo hiểm xã hội trên GDP và GNP chiếm tỉ trọng cao thì
sự cung ứng vốn đầu tư dài hạn, vốn tiền tệ ngắn hạn của các nhà đầu tư và
đầu tư của dân sẽ giảm, vốn tự đầu tư sẽ khan hiếm hơn. Mặt khác, nó sẽ
làm cho cầu về hàng hóa, dịch vụ của dân cư giảm xuống, nhưng ngân sách
nhà nước lại có điều kiện để tăng cầu với quy mô lớn và chi cho đầu tư lớn
sẽ kích thích tăng cung.
Ngược lại, nếu ngân sách nhà nước huy động trên GDP và GNP chiếm tỉ trọng

+ Phát hành thêm tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách là nguyên nhân trực tiếp
của tình trạng lạm phát gia tăng.
- Mặt khác, NSNN có cân bằng hay không sẽ tác động sâu sắc đến sự cân bằng
của cán cân thanh toán quốc tế, bởi vì:
+ Cân bằng của ngân sách tác động trực tiếp đến sự cân bằng của cán cân
thương mại.
+ Cân bằng của ngân sách thực hiện được hay không nói lên khả năng trả nợ
đến hạn các khoản vay nước ngoài có thực hiện được hay không.
II. Thu ngân sách nhà nước:
1. Khái niệm, đặc trưng:
Để thực hiện các chức năng của mình Nhà nước phải huy động một bộ phận
nguồn tài chính của xã hội tập trung vào NSNN. Bộ phận nguồn tài chính này
được tập trung vào quỹ tiền tệ của Nhà nước bằng những phương thức và hình
thức khác nhau. Hình thức cổ truyền được sử dụng từ trước cho đến nay để tạo
nguồn thu cho NSNN đó là thuế. Ngoài ra Nhà nước còn có các nguồn thu khác
như: thu từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu từ vay nợ, viện trợ . . .
a. Khái niệm:
Ta có khái niệm : “ Thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước sử dụng quyền lực
của mình để tập trung một phần hoặc toàn bộ nguồn lực tài chính quốc gia để tạo
thành quỹ Ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước”.
Hay nói các khác, bản chất của thu NSNN phản ánh quan hệ kinh tế nảy sinh
trong quá trình phân chia các nguồn tài chính giữa nhà nước với các chủ thể trong
xã hội. Nó mang tính bắt buộc, cưỡng chế các chủ thế kinh tế khác phải thực hiện
trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nước.
b. Đặc trưng:
7
Thu NSNN được đặc trưng bởi một số đặc điểm sau:
- Cơ cấu các khoản thu NSNN đều gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và quyền
lực chính trị của nhà nước. Trên cơ sở quyền lực chính trị của mình, nhà nước
định ra các chính sách thu NSNN. Ngược lại, các khoản thu NSNN là tiền đề để

với yêu cầu của quản lý kinh tế, tài chính. Các sắc thuế chủ yếu hiện đang được áp
dụng ở nước ta hiện nay gồm có: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập đối với ngưới có thu
nhập cao, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp,…
Thu để bù đắp sự thiếu hụt của NSNN:
Bao gồm các khoản vay trong nước và ngoài nước cho chi tiêu ngân sách nhà
nước khi các khoản chi ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu trong cân đối
của ngân sách.
- Vay trong nước: gồm cả vay của các tầng lớp dân cư, các doanh nghiệp, các
tổ chức kinh tế, xã hội trong nước. Việc vay này được thực hiện dưới hình thức
phát hành các công cụ nợ của chính phủ (ngắn hạn, trung hạn và dài hạn) như các
tín phiếu kho bạc Nhà nước, trái phiếu Chính phủ.
- Vay ngoài nước:
Ngoài ra còn một số các phân loại thu NSNN:
• Căn cứ vào tính chất kinh tế của các nguồn thu: Thu NSNN chia làm 2 loại:
- Thu từ thuế và các khoản mang tính chất thuế như phí, lệ phí. Đây là các
khoản thu có tính chất bắt buộc, không hoàn trả và là nguồn thu chủ yếu của ngân
sách.
- Các khoản thu không mang tính chất thuế hay thu ngoài thuế.
Các phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định tỷ lệ động viên từ thuế vào
ngân sách hay tỷ suất thuế ( tỷ lệ giữa số thuế thu được/ GDP) dùng trong việc
phân tích đánh giá chính sách động viên vào NSNN từ thuế. Ngoài ra nó còn có ý
nghĩa tỏng việc xác định và đánh giá tỷ trọng nguồn thu thuế trong tổng số thu.
• Căn cứ vào tính chất thường xuyên của các khoản thu, thu NSNN bao gồm:
- Thu thường xuyên bao gồm chủ yếu từ thuế, lệ phí, phí. Ngoài ta có các
khoản thu khác là:
+ Thu từ sở hữu tài sản ngoài thuế như thu từ hoạt động sự nghiẹp, thu sử dụng
vốn ngân sách, tiền cho thuê mặt đất…
9
+ Thu lãi từ các khoản cho vay

- Tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được thực hiện ở tầng vĩ mô và
mang tính toán diện cả về hiệu quả kinh tế trực tiếp, hiệu quả xã hội và
chính trị ngoại giao.
- Phần lớn các khoản chi ngân sách đều là các khoản cấp phát không hoàn
trả trực tiếp và mang tính bao cấp. Vì vậy, các nhà quản lý cần có sự
phân tích tính toán cẩn thận khi đưa ra các quyết định chi tiêu để tránh
được những lãng phí không cần thiết.
2. Nội dung, phân loại chi ngân sách nhà nước:
2.1. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, chi NSNN phân thành:
- Chi đầu tư kinh tế: Là những khoản chi nhằm hoàn thiện và mở rộng nền
sản xuất xã hội. Khoản chi này có vai trò điều tiết quan trọng, được thực
hiện qua nhiều kênh khác nhau, tạo ra sự tác động tổng hợp kích thích sự
phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, tạo thế cân bằng cho nền kinh tế.
- Chi cho y tế : bao gồm các khoản chi để duy trì và mở rộng hoạt động y tế.
- Chi cho giáo dục: bao gồm các khoản chi cho việc duy trì và phát triển hoạt
động giáo dục đào tạo.
- Chi cho phúc lợi xã hội: là những khoản chi mà xã hội cần chính phủ quan
tâm, giúp đỡ. Đó là các khoản trợ cấp cho người già, người tàn tật, trẻ mồ
11
côi, người lao động chưa có việc làm, nhân dân các vùng thiên tai, địch họa,
cho thương binh, gia đình liệt sĩ...
- Chi cho quản lý hành chính : là những khoản chi nhằm duy trì hoạt động
của các cơ quan quản lý thuộc chính quyền các cấp, Quốc hội, Hội đồng
nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân, chi về ngoại giao . . .
- Chi cho an ninh và quốc phòng: là những khoản chi dành cho các lực
lượng vũ trang và công tác bảo vệ trị an trong nước.
2.2. Căn cứ vào mục đích kinh tế - xã hội, chi NSNN được phân thành:
- Chi tích lũy: bao gồm các khoản chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi cấp vốn
lưu động cho các doanh nghiệp nhà nước, chi dự trữ . . .
- Chi tiêu dùng: chi tiêu dùng đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với chi tích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status