Tiểu luận môn lý thuyết tài chính tiền tệ TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ VÀ LẠM PHÁT - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ-TP HCM
KHOA KIỂM TOÁN
ĐỀ TÀI 4: TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ MỐI
QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ VÀ LẠM PHÁT
Giảng viên hướng dẫn : Trưong Minh Tuấn
Nhóm thực hiện : nhóm ?
Lớp : VB15KI001

Các thành viên của nhóm:
1. Hà Thị Kim Ngân STT:…………Chữ ký:
2. Nguyễn Minh Hải STT:………… Chữ ký:
3. Phạm Nguyễn Quỳnh Lan STT:………… Chữ ký:
4. Nguyễn Quốc Hùng STT:………… Chữ ký:
5. Hoàng Trọng Phú STT:………… Chữ ký:
- 1 -
A. Lý luận cơ bản về lạm phát và tỷ giá hối đoái:
1. Lạm phát:
a. Các khái niệm:
Nhiều nhà kinh tế học đã đi tìm một định nghĩa đúng cho thuật ngữ lạm
phát nhưng nói chung chưa có một sự thống nhất hoàn toàn. Một số định
nghĩa lạm phát như sau:
- Lạm phát là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh từ chế độ lưu
thông tiền giấy. Điều này xuất phát từ chỗ tiền giấy chỉ mang giá trị
danh nghĩa không mang giá trị nội tại. Do đó, khi có hiện tượng thừa
tiền giấy trong lưu thông, lượng tiền thừa này sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến sản xuất và lưu thông hàng hóa.
- Theo quan điểm cổ điển thì lạm phát xảy ra khi số tiền lưu hành vượt
quá dự trữ vàng làm đảm bảo của ngân hàng phát hành.
- Quan điểm khác lại cho rằng lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và
hàng trong nền kinh tế.

chuyển sang phải làm giá cả hàng hóa tăng liên tục kéo theo sự gia tăng
của lạm phát. Một số nguyên nhân làm tổng cầu tăng: do chính sách mở
rộng tiêu dùng, do chính sách mở rộng tiền tệ (cung tiền tăng liên tục)…
• Lý thuyết lạm phát do chi phí đẩy: Trường hợp này xảy ra khi chi phì gia
tăng một cách độc lập với tổng cầu, đường cung dịch chuyển sang trái
làm lạm phát tăng. Chi phí tăng cao có thể do áp lực tăng chi phí tiền
lương công nhân từ chính phủ, doanh nghiệp muốn lợi nhuận nhiều hơn
nên tăng giá bán, do công ty phải nhập khẩu nguyên vật liệu trong khi tỷ
giá hối đoái cao làm giá chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng, hoặc do
thiếu hụt nguồn nguyên vật liệu đầu vào nên sản phẩm tạo ra khá khan
hiếm
c. Tác động của lạm phát:
• Tác động phân phối lại thu nhập và của cải:
Tác động này xuất phát từ những sự khác nhau trong các loại tài sản và nợ
nần của nhân dân. Khi lạm phát xảy ra, những người có tài sản, những người
đang vay nợ là có lợi vì giá cả các loại tài sản nói chung đều tăng lên, còn giá
trị đồng tiền thì giảm xuống. Ngược lại, những người làm công ăn lương,
những người gửi tiền, những người cho vay là bị thiệt hại.
• Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm:
Trong điều kiện nền kinh tế chưa đạt đến mức toàn dụng, lạm phát vừa phải
sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối tiền tệ trong
lưu thông, cung cấp thêm vốn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, kích thích
sự tiêu dùng của chính phủ và nhân dân.
- 3 -
Lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến: khi lạm paht1 tăng lên
thì thất nghiệp giảm xuống và ngược lại khi lạm phát giảm xuống thì thất
nghiệp tăng lên.
• Các tác động khác:
- Thay đổi cơ cấu nền kinh tế: vì khi làm phát tăng cao và không dự
đoán trước được, các nhà kinh doanh thường hướng đầu tư vào những

đơn vị tiền tệ của một nước được biểu hiện bằng khối lượng các đơn vị tiền
tệ nước ngoài.
b. Vai trò của tỷ giá hối đoái:
Trong nền kinh tế mở, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng rất lơn đối với hoạt động
thương mại quốc tế, trạng thái cán cân thanh toán, tốc độ tăng trưởng kinh tế,
việc làm và lạm phát.
• Tỷ giá hối đoái và hoạt động thương mại quốc tế:
- Khi tỷ giá hối đoái thay đổi, đồng nghĩa với sức mua của hai đồng tiền
thay đổi, điều này làm cho giá cả hàng hóa xuất – nhập khẩu của hai
quốc gia trong hệ tỷ giá trên thị trường quốc tế cũng thay đổi. Từ đó
làm ảnh hưởng đến quy mô thương mại quốc tế.
- Chẳng hạn, khi đồng nội tệ mất giá thì giá cả hàng hóa xuất khẩu của
quốc gia đó trên thị trường quốc tế trở nên rẻ hơn, đồng nghĩa là sức
cạnh tranh của hàng hóa đó trên thị trường quốc tế cao hơn, mức cầu
mở rộng và khối lượng hành hóa xuất khẩu sẽ gia tăng – quy mô
thương mại quốc tế tăng. Nền kinh tế thu được nhiều ngoại tệ và cán
cân thanh toán được cải thiện. Ngược lại khi đồng nội tệ tăng giá, xuất
khẩu giảm, nhập khẩu tăng.
- Tuy nhiên, khi đồng nội tệ mất giá thì cán cân thanh toán không thể
thay đổi ngay mà còn phụ thuộc vào thời gian thích ứng đối với việc
thay đổi giá cả hàng hóa của người tiêu dùng trong nước và nước
ngoài. Trong thời gian đầu, cán cân thanh toán có thể bị giảm đi, sau
đó mới đạt trạng thái cải thiện dần.
• Tỷ giá hối đoái và lạm phát, tăng trưởng kinh tế và việc làm:
- Khi đồng nội tệ mất giá sẽ kích thích xuất khẩu, từ đó gây tác động lan
truyền thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển và tạo việc làm ổn định
cho người lao động. Tuy nhiên, đồng nội tệ mất giá (tỷ giá hối đoái
tăng) sẽ làm cho giá cả hàng hóa nhập khẩu tăng cao, mặt bằng giá cả
trong nước tăng cao và sức ép lạm phát trong nước trở nên mạnh mẽ
hơn.

đó cung ngoại tệ trong nước sang đồng nội tệ tăng lên, từ đó làm cho
đồng nội tệ lên giá và ngược lại. Nếu mức lãi suất thực giữa các quốc
gia ngang bằng nhau thì các luồng vốn quốc tế không tiếp tục chảy vào
hay chảy ra ngoại đối với một quốc gia.
- Chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ: Khi chính phủ thực hiện thay
đổi các chính sách kinh tế vĩ mô và làm ảnh hưởng đến các chỉ số về
tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, bội chi ngân sách… tất cả đều
gây ảnh hưởng đến sự thay đổi tỷ giá hối đoái.
- 6 -
- Yếu tố tâm lý: Từ các sự kiện kinh tế, chính trị… người ta dự đoán
chiều hướng phát triển của thị trường và thực hiện những hành động
đầu tư về ngoại hối, làm cho tỷ giá có thể đột biến tăng, giảm trên thị
trường.
B. Quan điểm về mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái:
 Theo bài nghiên cứu: “Tác động của chính sách tỷ giá đến lạm phát ở
Việt Nam” của ThS. Nguyễn Thị Thái Hưng (Quan điểm 1)
1. Các kênh tác động của chính sách tỷ giá tới lạm phát
Trong nền kinh tế mở, tỷ giá tác động gián tiếp đến lạm phát chủ yếu
thông qua các con đường: xuất khẩu ròng, cán cân thanh toán, giá hàng hóa
nhập khẩu và đây đều là mối quan hệ đồng biến.
a. Kênh thứ nhất : tác động của tỷ giá tới lạm phát thông qua xuất khẩu
ròng
Khi đồng nội tệ giảm giá so với đồng ngoại tệ, xuất khẩu ròng tăng
lên. Do xuất khẩu ròng là một phần của tổng cầu AD, nên khi xuất khẩu
ròng tăng đường AD dịch chuyển sang phải(mô hình AD-AS) tác động
làm lạm phát tăng.
b. Kênh thứ hai: Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua cán cân thanh toán.
Cơ chế tác động này có hai giai đoạn.
- Khi tỷ giá tăng, xuất nhập khẩu ròng tăng, đường IS dịch chuyển sang
phải( mô hình IS-LM). Lãi suất trong nước tăng lên,trong ngắn hạn

giai đoạn siêu lạm phát, sau đó chỉ có giai đoạn 1997-2003 lạm phát duy trì ở
mức độ thấp <5% và ổn định. Sau giai đoạn này, lạm phát tiếp tục gia tăng và
biến động khó lường.
Giai đoạn 1999 -2003 tỷ lệ lạm phát thấp, riêng năm 2000 còn rơi vào tình
trạng giảm phát nhẹ mặc dù trong suốt giai đoạn này cung tiền và tốc độ tăng
trưởng tín dụng khá cao(30 -40%/ năm) và VNĐ phá giá mạnh( khoảng 36%
trong giai đoạn 1997-2003). Tuy nhiên,để đánh giá tác động của tỷ giá tới
diển biến lạm phát giai đoạn 1997 – 2011 khá khó khăn.
Giai đoạn 1997-1999 lạm phát được kiềm chế do tác động ổn định của tỷ giá
không nhiều mà chủ yếu là do kết quả của những chính sách khác. Trong hai
năm 1998 và 1999 tỷ giá tăng mạnh nhưng lạm phát vẫn ở mức thấp, cho
thấy ảnh hưởng của tỷ giá đến lạm phát giai đoạn này rất hạn chế. Năm 2000-
2003 lạm phát và tỷ giá duy trì ổn định.
Sau một giai đoạn lạm phát ở mức thấp, năm 2004 lạm phát tăng lên mức
9,5% do nguyên nhân: (1) tác động của việc tăng cung tiền (2) biến động trên
thế giới làm tăng giá một số mặt hàng nhập khẩu như xăng dầu, sắt thép…(3)
tổng cầu tăng lên sau giai đoạn khủng hoảng cùng với sự tăng lên của tiền
lương danh nghĩa khiến giá cả tăng lên.
- 8 -
Năm 2006 lạm phát giảm nhẹ so với 2 năm trước đó, tuy nhiên khi NHNN
thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng cùng với kỳ vọng lạm phát dẫn đến lạm
phát thực tế tăng lên ở giai đoạn tiếp theo của chu kỳ kinh tế. Chính sách tỷ
giá chỉ có tác động cộng hưởng với tác động của chính sách tiền tệ chứ
không có tác động trực tiếp tới lạm phát.
Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO (11/2006) luồng vốn nước ngoài vào Việt
Nam rất lớn, để ổn định tỷ giá hối đoái NHNN phải tăng cung tiền để hút
ngoại tệ vào làm tăng áp lực lạm phát.
Ngoài ra trong một thời gian dài NHNN “neo” giá VND quá lâu vào đồng
USD. Trong khi đó đồng USD liên tục mất giá so với đồng tiền mạnh khác,
làm cho mức độ mất giá của đồng VND so với các đồng tiền khác càng trầm

hiệu ứng “nhập khẩu lạm phát” là nói đến “hiệu ứng trung chuyển tác động của
tỷ giá”- ERPT, có thể hiểu nôm na là nếu cơ chế ERPT diễn ra hoàn hảo thì 1%
tăng lên của tỷ giá có thể khiến giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng nội tệ tại quốc
gia nhập khẩu tăng lên 1%, giả định các nhân tố khác không thay đổi. Đồng thời,
giá hàng hóa nhập khẩu được tính trong chỉ số giá xác định lạm phát, khi giá
hàng hóa nhập khẩu tăng thì lạm phát cũng tăng. Thông qua việc nghiên cứu
ERPT cho thấy tỷ giá và lạm phát có mối quan hệ 2 chiều: Việc phá giá đồng
nội tệ có thể làm gia tăng lạm phát, nhưng sự ổn định của lạm phát với kỳ vọng
lạm phát được “neo” chắc chắn có thể là nền tảng làm giảm đi tác động ERPT
của tỷ giá.
Hiện trạng tại Việt Nam, cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ không bắt đầu từ lãi
suất mà từ lượng cung tiền Chính Phủ phê duyệt, tỷ giá vừa là công cụ của chính
sách tiền tệ vừa là mục tiêu trung gian. Tỷ giá là công cụ tiền tệ khi Ngân hàng
Nhà nước quy định tỷ giá bình quân liên ngân hàng, các Ngân hàng thương mại
dựa vào đó mà cộng thêm biên độ giao dịch theo đúng quy định. Tỷ giá là mục
tiêu trung gian khi Ngân hàng Nhà nước mua bán ngoại tệ để đạt mức tỷ giá
bình quân liên ngân hàng như mong muốn.
Theo kết quả đúc kết từ các nghiên cứu và nhận định của tác giả thì tỷ giá
USD/VND với lạm phát CPI tỷ lệ thuận và trong khi lạm phát chưa thể giảm
xuống mức thấp nhanh chóng, tỷ giá ổn định sẽ giúp lấy lại niềm tin vào giá trị
đồng Việt Nam. Vì nền sản xuất của Việt Nam có giá trị gia tăng thấp, phụ
thuộc phần lớn vào nguồn máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu.
Đơn cử như ngành hàng dệt may hiện đang là ngành hàng xuất khẩu chủ lực của
nước ta thì cũng phải nhập khẩu đến 90% nguyên liệu. Hay thậm chí nước ta là
nước nông nghiệp, có thế mạnh về các sản phẩm nông nghiệp như lúa gạo, thủy
sản xuất khẩu nhưng từ phân bón, thuốc trừ sâu đến thức ăn chăn nuôi cũng đều
phải nhập từ nước ngoài. Với một nền kinh tế phụ thuộc vào bên ngoài lớn như
vậy, tác động gián tiếp của việc tăng tỷ giá đến lạm phát CPI thông qua tăng chi
phí sản xuất do tăng giá nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị tính
bằng VND thì có thể sẽ tương đối lớn.

tiếp giá cả các hàng hóa nhập khẩu trung gian và nhập khẩu tiêu dùng cuối
cùng do thay đổi tỉ giá.
Hiệu ứng gián tiếp: Chuỗi hiệu ứng gián tiếp dựa trên giả thuyết về sự
thay thế lẫn nhau của hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu.
Hiệu ứng gián tiếp bao gồm sự thay thế giữa hàng hóa sản xuất trong nước và
hàng hóa nhập khẩu tiêu dùng cuối cùng trên thị trường nội địa (sự thay thế
bên trong, internal substitution) và trên thị trường nước ngoài (sự thay thế
bên ngoài, external substitution).
- 12 -
Hiệu ứng FDI: Sự giảm giá mạnh của đồng Rúp năm 1998 đã làm
giảm mạnh cầu đối với nhiều loại hàng hóa nhập khẩu và giảm mạnh tiền
lương danh nghĩa tính bằng ngoại tệ. Trước đó, các tập đoàn xuyên quốc gia
đã cung cấp nhiều hàng hóa vào nước Nga, trong thời gian khủng hoảng phải
đối mặt với tình thế lưỡng nan: hoặc đánh mất thị phần thị trường xuất khẩu
của mình hay bắt đầu xây dựng cơ sở sản xuất tại nước Nga nhằm tận dụng
các lợi thế so sánh về tiền lương và công nghệ. Nhiều tập đoàn đã mở chi
nhánh và dịch chuyển các cơ sở sản xuất vào nước Nga (FDI flows). Tăng
trưởng sản xuất làm tăng cầu lao động và tăng tiền lương. Đến lượt mình,
điều này đã đẩy giá tăng lên.
Tóm lại, có một số cơ chế song hành, thông qua đó, giá cả trong nước
phản ứng với những thay đổi của tỉ giá danh nghĩa.
2/ Học thuyết ngang giá sức mua (PPP) và những nguyên nhân làm cho
tỉ giá lệch khỏi PPP:
Hiệu ứng trung chuyển tác động của tỉ giá đối với giá trong nước là
nhân tố then chốt trong việc lan truyền các cơn sốc trong một nền kinh tế
mở. Nhưng các mô hình kinh tế vĩ mô truyền thống lại ít quan tâm đến vấn đề
này. Chẳng hạn, đa số các mô hình tiền tệ với giá thả nổi ủng hộ học thuyết
ngang giá sức mua và do đó, ERPT là toàn phần.
Học thuyết ngang giá sức mua (Quy luật một giá) - cơ sở luận của
ERPT, cho rằng sự trung chuyển tác động của tỉ giá sang giá trong nước phải

chuyển làm tăng giá trị hàng hóa nhập khẩu và phân đoạn thị trường. Ngay cả
khi hàng hóa nhập khẩu là hoàn toàn có thể thay thế hàng hóa sản xuất ở
trong nước, thì chúng cũng không thể được tiêu thụ với khối lượng lớn (tỉ lệ
nhập khẩu nhỏ), bởi vì giá của chúng tương đối cao. Trong trường hợp này,
sự thay đổi tỉ giá tác động yếu đến sự biến động của chỉ số CPI.
Một phương pháp tiếp cận tương tự (McCallun & Nelson (1999) cho
rằng bản thân hàng hóa chỉ chiếm một tỉ lệ không lớn so với phần cá nhân tiêu
thụ. Người tiêu dùng cũng sẵn sàng thanh toán các dịch cụ marketing, các
dịch vụ phân phối và dịch vụ bán lẻ mà thông qua các kênh này, hàng hóa đến
tay người tiêu dùng. Có thể, các khoản chi phí này chiếm tỉ trọng khá lớn
trong giá trị của hàng hóa. Khi đó, những thay đổi của tỉ giá sẽ không tác
động lớn đến giá trị hàng hóa tiêu dùng cuối cùng, bởi vì chúng chỉ tác động
đến một phần không lớn giá trị của hàng hóa. Burstein, Neves & Rebelo
(2002) và Burstein, Eichenbaum & Rebelo (2002) cho rằng vai trò của hàng
hóa và dịch vụ trung gian nội địa trong khu vực phân phối là khá quan trọng
về mặt lượng, nhưng không thể giải thích đầy đủ những khác biệt của ERPT.
Mức ERPT thấp có thể không phải là kết quả của sự cố định tương đối
giá cả, mà là chính sách phân biệt hóa về giá tối ưu.
Thay thế và bổ sung cho phương pháp tiếp cận nêu trên là mô hình
Bachetta & Wincoop (2002). Trong mô hình của mình, các tác giả bỏ qua chi
phí phân phối và tập trung vào chiến lược định giá tối ưu của công ty. Luận
- 14 -
cứ của mô hình là ở chỗ, đồng tiền được chọn để định giá phụ thuộc vào mức
độ cạnh tranh hàng nhập khẩu với hàng hóa sản xuất trong nước. Nếu mức độ
cạnh tranh là cao thì các công ty nhập khẩu sẽ định giá bằng nội tệ, do đó,
ERPT bằng 0. Ngay cả khi công ty đối mặt với vấn đề rủi ro tỉ giá, nó cũng
không muốn thay đổi giá cả hàng tiêu dùng cuối cùng để bảo vệ thị phần. Như
vậy, mức độ cạnh tranh giữa nhà nhập khẩu và nhà sản xuất trong nước càng
lớn thì ERPT trong ngành càng nhỏ.
Một phương pháp tiếp cận khác cho rằng hàng hóa nhập khẩu là hàng

rằng các ngành có tính cạnh tranh càng cao (lợi nhuận biên nhỏ) và tỉ trọng
hàng nhập khẩu trong tổng doanh thu bán hàng càng lớn thì ERPT càng lớn.
Nếu thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và được phân đoạn, phản
ứng của các công ty đối với biến động của tỉ giá có thể khác nhau. Ví dụ, nếu
công ty có quyền lực thị trường, và họ kì vọng tối đa hóa lợi nhuận của mình,
ERPT sẽ phụ thuộc nhiều vào các nhân tố khác (Phillips, 1998). Ngược lại,
nếu công ty hướng đến mục tiêu tối đa hóa thị phần của mình, ERPT sẽ nhỏ
hơn (Hooper & Mann, 1989; Ohno, 1990). Hơn nữa, nếu tồn tại khả năng
phân biệt hóa giá cả giữa các thị trường, có thể phát sinh tình huống “định
giá theo thị trường”, dẫn đến việc hình thành ERPT khác nhau trên các phân
đoạn thị trường khác nhau (Krugman, 1986; Gagnon & Knetter, 1992). Cuối
cùng, chiến lược định giá của công ty phụ thuộc vào kì vọng biến động tương
đối của tỉ giá trong tương lai và khung thời gian dự báo (Froot & Klemperer,
1988; Ohno, 1990).
Trên cơ sở các nguyên tắc này, Feinberg (1986, 1989) kết luận, ERPT
đến giá của nhà sản xuất trong nước sẽ mạnh hơn ở các ngành có mức độ tập
trung nhỏ hơn và ở các ngành, nơi có tỉ trọng nhập khẩu cao hơn. Yang
(1997) cho rằng, ERPT có mối tương quan cùng chiều với mức độ phân biệt
hóa sản phẩm (nghĩa là có mối tương quan nghịch với khả năng thay thế của
hàng hóa) và có mối tương quan nghịch với độ co giản của chi phí biên theo
sản lượng.
Menon (1996) đã đánh giá ERPT đến giá cả một số nhóm hàng hóa
riêng biệt và phát hiện rằng, ERPT tỉ lệ nghịch với các hạn chế định lượng
(quota) đối với nhập khẩu, kiểm soát của nước ngoài (sự hiện diện của tập
đoàn đa quốc gia), mức độ tập trung hóa sản xuất, mức độ phân biệt hóa sản
phẩm và tỉ lệ nhập khẩu trong tổng doanh thu bán hàng và tỉ lệ thuận với độ
co dãn thay thế giữa hàng nhập khẩu và hàng trong nước. Một phần kết luận
của Menon có sự đối lập với kết luận của Yang và một số tác giả khác.
Trên phạm vi quốc gia, ERPT phụ thuộc vào ba nhân tố chính: độ co
dãn tương đối của cầu và cung, môi trường kinh tế vi mô và các điều kiện

chất lâu dài, chứ không phải mang tính tạm thời thì nhiều khả năng, công ty
sẽ thay đổi giá cả hàng hóa, chứ không phải tỉ suất lợi nhuận, nên dẫn đến
việc ERPT sẽ cao hơn. Vì vậy, ERPT phải cao hơn ở các nước, nơi mà
những thay đổi của tỉ giá thường kéo dài hơn (tỉ giá ổn định hơn).
Một biến kinh tế vĩ mô khác có ảnh hưởng đến độ lớn của ERPT - đó là
tính ổn định của tổng cầu (Mann, 1986). Nhưng thay đổi của tổng cầu cùng
với dao động của tỉ giá có ảnh hưởng đến tỉ suất lợi nhuận của nhà nhập khẩu
trên thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, đồng thời làm giảm ERPT. Vì vậy,
ERPT phải thấp hơn ở các quốc gia có tổng cầu biến động nhiều hơn.
Đồng tiền định giá hàng hóa cũng ảnh hưởng đến ERPT. Lí do lựa chọn
đồng tiền định giá, được nghiên cứu ở nhiều công trình khoa học (Bachetta &
Van Wincoop, 2001; Devereux & Engel, 2001; Giovannini, 1998) được
- 17 -
cho là tính ổn định của nội tệ. Một nước với đồng tiền quốc gia kém ổn định
có tỉ lệ nhập khẩu khá lớn được định giá bằng ngoại tệ thì việc yết giá bằng
ngoại tệ cũng sẽ có lợi hơn đối với các công ty chỉ kinh doanh trên thị trường
nội địa. Trong tình huống này, tỉ giá có những tác động không chỉ đối với giá
hàng hóa nhập khẩu, mà còn đối với giá hàng hóa phi ngoại thương (non-
tradables), và ERPT sẽ toàn phần (Tsesliuk, 2002).
Một nhân tố khác giải thích những khác biệt về ERPT giữa các quốc
gia có thể là những khác biệt trong mức lạm phát. Taylor (2000) khẳng định
môi trường lạm phát ở trong nước càng thấp và ổn định thì ERPT cũng càng
nhỏ. Giả thiết của Taylor về mối quan hệ giữa lạm phát và ERPT đã được
kiểm định trong bài viết “Exchange Rate Pass-Through To Domestic Prices:
Does The Inflationary Environment Matter?” của Ehsan U. Choudhri và
Dalia S. Hakura vào năm 2001.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ERPT giảm dần khi tình hình
kinh tế vĩ mô ổn định hơn, cạnh tranh tăng lên và hành vi của các công ty
hướng đến việc tối đa hóa thị phần của mình. Theo kết luận của Dubravko &
Marc (2002), ERPT đã giảm từ giữa những năm 90 ở các nước đang phát

Bài viết nghiên cứu lượng hóa ERPT, đánh giá tác động của tỉ giá đối
với lạm phát, từ đó, có những khuyến nghị chính sách thích hợp. Lưu ý rằng,
tác giả định nghĩa ERPT theo nghĩa hẹp, theo đó, ERPT là phần trăm thay đổi
giá nhập khẩu khi tỉ giá tiền tệ giữa nước nhập khẩu và nước xuất khẩu thay
đổi 1%. ERPT được gọi là toàn phần khi những thay đổi của tỉ giá được trung
chuyển toàn bộ sang giá nhập khẩu; trong khi đó, ERPT được gọi là không
toàn phần khi toàn bộ những thay đổi của tỉ giá không được trung chuyển
sang giá nhập khẩu. Tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận VAR để nghiên
cứu ERPT (Đây cũng là phương pháp mà McCarthy đã sử dụng trong nghiên
cứu ERPT của các nước phát triển). Dữ liệu tháng được sử dụng trong giai
đoạn từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 2 năm 2007 với 73 quan sát. Tỉ giá hiệu
lực danh nghĩa (NEER) được sử dụng vì nó phản ảnh tốt hơn tỉ giá giữa đồng
tiền Việt Nam với đồng tiền các đối tác thương mại, được tính bằng số đơn vị
nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ. Do đó, một sự gia tăng của NEER có nghĩa là
VND giảm giá và ngược lại.
Độ co dãn của giá nhập khẩu trong năm thứ nhất bình quân bằng 0,61;
nghĩa là 61% thay đổi của tỉ giá được trung chuyển sang giá nhập khẩu. Đặc
biệt, các giai đoạn từ 5 đến 7 cho thấy sự trung chuyển còn hơn cả toàn phần.
Điều này là hợp lí, bởi vì phần lớn các hợp đồng nhập khẩu dựa trên cơ sở
giao hàng trong tương lai. Khi nhà xuất khẩu và nhập khẩu phát hiện cơn sốc
tỉ giá vào thời điểm kí hợp đồng, họ sẽ đưa những thay đổi này vào hợp đồng
được giao hàng trong các tháng sau. Tác động của tỉ giá đến giá nhập khẩu
được loại bỏ hoàn toàn vào tháng thứ 15 sau các cơn sốc tỉ giá. Trong 15
tháng này, độ co giãn giá nhập khẩu dao động trong khoảng 0.07 và 1.32, hay
bình quân là 0.61.
- 19 -
So với độ co dãn giá nhập khẩu, ERPT là nhỏ và chậm hơn. Một cơn
sốc dương của tỉ giá dẫn đến một cơn sốc dương của CPI từ giai đoạn thứ 5
đến giai đoạn thứ 15. Phản ứng cao nhất của CPI nằm ở giai đoạn thứ 10 và
11 sau cơn sốc tỉ giá và chỉ số CPI tăng 0.21% khi nội tệ giảm giá 1%. Mặc

mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là các nguyên liệu đầu vào, như: phân bón, thức ăn
- 20 -
gia súc, thuốc trừ sâu, hay đối với ngành dệt may cũng là một ngành khá phát
triển ở nước ta cũng phải nhập nguyên liệu bông, sợi từ nước khác… và hàng
hóa tiêu dùng có mẫu mã đa dạng và chất lượng hơn. Như vậy giá trị hàng nhập
khẩu là 1 bộ phận cấu thành giá trị của CPI. Khi xét các yếu tố khác không thay
đổi, nếu tỷ giá tăng (đồng nội tệ mất giá so với đồng ngoại tệ) sẽ có các yếu tố
thay đổi kéo theo: giá trị hàng nhập khẩu cũng tăng theo, dẫn đến sự gia tăng giá
cả tiêu dùng trong nước từ đó làm chỉ số lạm phát tăng; hoặc nhìn chung làm
cho lãi suất đồng ngoại tệ trong nước tăng hơn các quốc gia khác, dẫn đến nhiều
nguồn vốn ngoại tệ chảy vào, từ đây nếu Ngân hàng trung ương mua ngoại tệ
thừa này để đảm bảo tỷ giá không thay đổi làm cho cung tiền tăng dẫn đến lạm
phát tăng, và nếu Ngân hàng trung ương không mua ngoại tệ và quốc gia đang bị
đô la hóa cao thì cũng dẫn đến lạm phát cao; hay xuất khẩu ròng tăng nên nhu
cầu hàng hóa đó tăng, giá trong nước sẽ tăng làm lạm phát tăng.
Trong trường hợp, lạm phát tăng không vì nguyên nhân tỷ giá thì đến lượt
lạm phát sẽ làm ảnh hưởng tỷ giá thông qua sức mua đồng nội tệ. Khi lạm phát
tăng sức mua đồng nội tệ giảm so với ngoại tệ, làm cho tỷ giá hối đoái tăng và
khi lạm phát giảm, sức mua đồng nội tệ tăng so với ngoại tệ, làm cho tỷ giá hối
đoái có xu hướng tăng.
Một kết luận nữa của các bài nghiên cứu trên là khi phá giá đồng nội tệ 1%
(tăng tỷ giá 1%) thì lạm phát cũng thay đổi nhưng tỷ lệ thay đổi của lạm phát có
tương ứng với 1% hay nhỏ hơn 1% bao nhiêu thì còn cần có thời gian để các nhà
kinh tế học nghiên cứu và xác định.
Tuy nhiên, việc giảm tỷ giá có làm giảm lạm phát thì chưa có kết quả chắc
chắn. Theo bài nghiên cứu “Tác động của tỷ giá tới lạm phát” của tác giả Phí
Đăng Minh, đăng trên trang web của Ngân hàng nhà nước, có viện dẫn kinh
nghiệm của 02 nước Mêhicô và Nhật Bản:
Mêhicô:
Đầu những năm 90, chính phủ rất coi trọng chính sách kiềm chế lạm phát,

phải có thời gian để nghiên cứu. Vì ở mỗi quốc gia, chính sách tiền tệ khác nhau
nên ảnh hưởng của tỷ giá đến làm phát có thể khác nhau. Khi chỉ xét 02 yếu tố
tỷ giá và lạm phát thay đổi, những yếu tố khác không đổi thì tỷ giá có ảnh hưởng
đến lạm phát và ngược lại, nhưng trong thực tiễn ngoài tỷ giá và lạm phát còn
nhiều yếu tố khác cũng thay đổi liên tục theo nhiều hướng khác nhau và riêng
bản thân yếu tố lạm phát còn bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau, trong
trường hợp đó, tỷ giá không phải là nguyên nhân gây nên lạm phát thì có làm
giảm tỷ giá cũng không làm giảm lạm phát.
KẾT LUẬN:
Tóm lại, tỷ giá tăng chắc chắn sẽ làm tăng lạm phát, nhưng tỷ giá giảm thì
cần có thời gian nghiên cứu thêm để xác định lạm phát trong trường hợp của
mỗi quốc gia. Và khi lạm phát tăng sẽ chắc chắn làm tăng tỷ giá, lạm phát giảm
sẽ làm giảm tỷ giá./.
- 22 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status