Tóm lược lý thuyết vê mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế - Pdf 30

Đề Tài 5: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giũa nợ công và tăng trưởng kinh tế
Liên hệ facebook : https://www.facebook.com/luanvanhaynhat hoặc sdt
0982601826 để cập nhật luận văn hay nhất.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA KẾ TOÁN
Tiểu luận
Tóm lược lý thuyết vê mối quan hệ
giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế
LỜI MỞ ĐẦU
Nợ công đang trở thành vấn đề nóng bỏng không chỉ ở riêng Châu Âu, Mỹ, Nhật
Bản mà nhiều nước đang phát triển trên thế giới cũng đang phải đối mặt, trong đó
có Mệt Nam. Bộ Tài chính dự kiến nợ công của Việt Nam năm 2011 ở mức
khoảng 1.375 nghìn tỷ đồng, tương đương 58,7% QDP. Mặc dù chỉ số tiền vẫn
được xem là trong ngưõng an toàn nhưng nếu không có một chương trình và kế
hoạch quản lý nợ công hiệu quả, đặc biệt là nợ nước ngoài thì nguy cơ mất kiểm
soát nợ công trong tương lai là điều có thể xảy ra.
Nợ công đang đe dọa đến đà phục hồi và sự ổn định của nền kinh tế toàn thế giói,
viễn cảnh của cuộc tái suy thoái kinh tế toàn cầu cũng đã được đặt ra. Trong khi
đó, đối với những quốc gia phát triển và những nền kinh tế thị trường mới nổi nối
quan hệ giũa nợ công và tăng trưởng kinh tế biểu hiện rõ nhất khi nợ vượt mức
90-100% CDP; lúc này, nợ càng tăng, tăng trưởng kinh tế giảm đáng kể.
Như vậy, việc đánh giá đúng nợ công và "thực chất" nợ công của một nền kinh tế,
một quốc gia là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong những thời điểm nhạy cảm.
Bởi lẽ, nếu chỉ chú trọng vào con số tỉ lệ nợ công cao một cách thuần tuý sẽ gây
nên hiệu ứng tâm lý dễ gây rối loạn nền kinh tế, thậm chí dẫn nền kinh tế đến bên
Liên hệ facebook : https://www.facebook.com/luanvanhaynhat hoặc sdt
0982601826 để cập nhật luận văn hay nhất.
Đề Tài 5: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giũa nợcông và tăng trưởng kinh tế 2
bờ vực phá sản. Ngược lại, nếu yên tâm với tỉ lệ nợ công còn trong giới hạn an
toàn, mà không phân tích cẩn trọng, chú ý đúng mức đến khoản nợ đó được hình
thành như thế nào, bằng cách nào, thực trạng nền kinh tế ra sao và khả năng trả nợ

chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ công. Trước nay mọi người thường chỉ
nghĩ đến nợ Chính phủ khi nói đến tổng nợ công. Khi Chính phủ phát hành 1 tỷ
đô-la trái phiếu ở nước ngoài, ai cũng biết nó được tính vào tổng nợ công nhưng
khi đọc tin một doanh nghiệp thu xếp ký kết một khoản vay 2 tỷ đô-la với một
ngân hàng nước ngoài nào đó, có sự bảo lãnh của Chính phủ, có thể có người vẫn
nghĩ đó là nợ doanh nghiệp, không phải nợ công.
Ngoài ra cần chú ý thêm khái niệm “nợ nước ngoài của quốc gia”: Là tổng
các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của
doanh nghiệp và tổ chức khác vay theo phương thức tự vay, tự tả (Luật quản lý nợ
công năm 2009). vốn vay từ ADB hay WB đương nhiên là nợ nưóc ngoài rồi
nhưng một doanh nghiệp vay từ đối tác nước ngoài vài trăm triệu đô- la, chẳng
hạn, dù có hay không có bảo lãnh của chính phủ, thì khoản tiền đó vẫn phải tính
vào tổng nợ nước ngoài của quốc gia.
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của chính phủ, khi chi tiêu của chính phủ lớn hơn
số thuế, phí, lệ phí thu được. Do đó, Nhà nước phải đi vay (trong hoặc ngoài nước)
để trang trải thâm hụt ngân sách. Các khoản vay này sẽ phải hoàn tả gốc và lãi khỉ
đến hạn, Nhà nước sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp. Vì vậy, suy cho cùng nợ
công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay
thế hệ khác. Vay nợ thực chất là cách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ
các nước sử dụng để tài trợ cho các hoạt động chi ngân sách. Nợ chính phủ thể
hiện sự chuyển giao của cải từ thế hệ sau (thế hệ phải trả thuế cao) cho thế hệ hiện
tại.
II. TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TẢNG IRƯỞNG KINH TẾ - Ý
Liên hệ facebook : https://www.facebook.com/luanvanhaynhat hoặc sdt
0982601826 để cập nhật luận văn hay nhất.
Đề Tài 5: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giũa nợcông và tăng trưởng kinh tế 4
NGHĨA CỦA NGƯỠNG NỢ VÀ TRẦN NỢ QUỐC GIA
“Nợ công là một trong những nguồn cần thiết của cấu trúc vốn mỗi quốc
gia Nó góp phần tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng
lại gây tổn hại cho nền kinh tế trong dài hạn, do gánh nặng thực hiện nghĩa vụ trả

của nó.
Theo quan đểm của Folorunso s. Ayadi và Felix o. Ayad (2008): Nợ là
mộttrong những nguồn thuộc cấu trúc vốn tài chính của bất kỳ một nền kinh tế nào,
đậc trung bởi một cấu trúc vốn nội bộ không thỏa đáng. Do đó, luôn gặp phải vòng
luẩn quẩn của năng suất thấp vì thiếu nguồn vốn đầu tư nâng cấp và xây dụng cơ sở
hạ tầng, cập nhật công nghệ kỹ thuật, thu nhập thấp, kéo theo là tiết kiệm cũng thấp
và tiếp tục quay lại vói cấu trúc vốn nội bộ thiếu thốn. Vì vậy, lúc này, những kiến
thức thuộc về chuyên môn, bộ máy quản lý tải chính quốc gia và sự hỗ trợ tài chính
từ những nước Phuơng Tây để khắc phục sự khó khăn về nguồn lục là điều trở nên
rất cần thiết. Mặt khác, nợ nước ngoài như là một sự ràng buộc chính yếu đến cấu
trúc vốn của những quốc gia đang phát triển. Trong đó, nợ dồn tích lại bởi vì những
yêu cầu thanh toán cả vốn gốc và lãi của nó, dần dần nợ không góp phần một cách
đáng kể cho sự phát triển kinh tế tại những đất nước đang phát triển trong dài hạn.
Phát triển những ý tưởng ừên.
Theo Bmendorf rò Mankiw (1999): Nợ công có ảnh hưởng quan trọng đến
nền kinh tế cả trang ngắn và dài hạn. Các khoản nợ (phản ánh tài tĩợ thâm hụt) có thể
kích thích tổng cầu và sản lượng trong ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu huy động vốn của
những cá nhân và tổ chúc ừong nền kinh tế. Nợ công cao có thể ảnh hưởng bất lợi
đến tích lũy vốn và tăng trưởng thông qua lãi suất dài hạn cao han, bóp méo hệ thống
thuế ừong tương lai cao hơn, lạm phát và sự không chắc chắn cao hơn về các triển
vọng và chính sách.
❖ Thứ hai:
Đối với những quốc gia phát triển và những nền kinh tế thị trường mới nổi,
mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế biểu hiện ĩõ
nhất khi nợ vượt mức 90-100% GDP; lúc này, nợ càng tăng, tăng trưởng kinh
tế giảm đáng kể.
Liên hệ facebook : https://www.facebook.com/luanvanhaynhat hoặc sdt
0982601826 để cập nhật luận văn hay nhất.
Đề Tài 5: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giũa nợcông và tăng trưởng kinh tế 6
Theo M. Reinhart và s. Rogoff : Đã xem xét mối quan hệ giữa nợ công và tăng

toàn cầu và kèm theo đó là những nghĩa vụ nợ đã gây trở ngại đến tăng trưởng và
phát triển kinh tế. Hơn thế nữa, gánh nặng nợ quốc gia gây cản ừở chi tiêu công cho
đầu tư phát triển, hạn chế việc tích lũy nguồn vốn và có khuynh hướng cản trở áp
dụng những chính sách tiền tệ linh hoạt để củng cố những doanh nghiệp vừa và nhỏ
do nguồn thu được phải đáp ứng phần lán ngtùá vụ nợ cả gốc và lãi. Điều này đã ảnh
hưởng một cách gián tiếp đến việc làm, học vấn và sự bần cùng, nghèo khó của
người dân trong một quốc gia.
❖ Thứ tư:
Tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm và đàu tư có mối quan hệ vói nhau, khi vốn
nội địa không đủ để tài trợ cho chi tiêu đàu tư trong nước thì vay nợ là tất yếu
để phục vụ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, vay nợ luôn kèm theo những rủi ro
do lãi suất, thời hạn, cơ cấu vay mượn, gây ảnh hưởng tiêu cực lên tăng trưởng
kinh tế, do đó vấn đề quản lý nợ hiệu quả đang trở nên cấp thiết.
Theo Hunt (2007): Sự tăng lên trong tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế dẫn đến
tăng trưởng kinh tế. Sachs (2002) tranh luận rằng sự tăng truởng sẽ không tăng cho
đến khi tổng lượng vốn tăng đạt đến một ngưỡng nhất định. Lý thuyết “dual-gap” nói
rằng đầu tư là một hàm của tiết kiệm, và ừong những quốc gia đang phát triển, mức
độ tiết kiệm nội địa không đủ để tài trợ cho đầu tư cần thiầ để đảm bảo phát triển
kinh tế và thật hợp lý khỉ tìm kiếm sử dụng những sản phẩm và dịch vụ từ bên ngoài.
Cdaco (1985): Đã giải thích tính chất nhạy cảm của việc thanh toán nợ đối với
những nước đang phát triển thông qua sử dụng ba kịch bản:
(i) Quy mô khoản nợ nước ngoài đạt đến một mức độ mà lớn hơn so với
vốn tự có, dẫn đến sự không cân bằng giữa nợ và vốn tự có;
(ii) Tỷ lệ nợ vói lãi suất thả nổi tăng đột ngột, vĩ vậy những người vay
mượn phải đối mặt trục tiếp với việc lãi suất tăng cao;
Liên hệ facebook : https://www.facebook.com/luanvanhaynhat hoặc sdt
0982601826 để cập nhật luận văn hay nhất.
Đề Tài 5: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giũa nợcông và tăng trưởng kinh tế 8
(iii) Thời hạn vay lút ngắn đảng kể, một phần bởi vĩ sự giảm đi của những
nguồn chính thức. Do đó, điều cần tham khảo ở đây chính ]à ác định đúng

Development Fmance, and Reinhart and Rogoff (2009b) và những nguồn được trỉch
dẫn tại đó
Sau đây là mối quan hệ giũa tỷ lệ tăng trưởng GDP và các múc DỢ khác
nhau của 20 nước phát triển trong khoản gthời gian 1946 - 2009. Quan sát hàng
Liên hệ facebook : https://www.facebook.com/luanvanhaynhat hoặc sdt
0982601826 để cập nhật luận văn hay nhất.
Đề Tài 5: Tóm lượclý thuyấ về mối quan hệ giũa nợcông và tăng trưởng kirỉi tế 10
năm được gộp thành 4 nhóm, dựa theo tỷ lệ nợ trên CDP trong suốt phạm vi quan
sát, cụ thể như: những năm khi nợ công/GDP đưới 30% (nợ thấp) , những năm mà
nợ công/GDP từ 30% đến 60% (nợ trung bình), 60 đến 90% (nợ cao),và ừên 90%
(lất cao).
Có tổng số 1142 quan sát hàng năm, cụ thể là: 502 quan sát cho Nợ/GDP dưới
30%, 385 cho Nợ/GDP từ 30 đến 60%, 145 cho Nợ/GDP từ 60 đến 90%, và 110 cho
Nợ/GDP trên 90%. Đáng ngạc nhiâi là mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng thì
tương tự nhau một cách đáng chú ý ở cả những thị trường mói nổi lẫn những nền
kinh tế phát triển.Trong giai đoạn 1946 đến 2009, tốc độ tăng trưởng trung vị và bình
quân ấp xỉ khoảng 4 - 4,5% cho tất cả những mức độ nợ khoảng 90% GDP. Tuy
nhiên, tốc độ tăng tniởng GDP trung vị giảm mạnh còn 2,9% đối với tỉ lệ nợ tĩền
90%, sự sụt giảm này còn lớn hơn khi ?ét đến tốc độ tăng trưởng bình quân, giảm chỉ
còn 1%. Như vậy, đối với những nước mới nổi, tỷ lệ nợ có ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế nhiều nhất cíăng được tìm thấy là mức 90% GDP. Do đó, có thể nói,
mức nợ 90% GDP là mức nợ đe dọa chung đến tăng trưởng kinh tế của tất cả các
nhóm nước, từ đó, giúp các Chính Phủ có thể nhận định được ngưỡng nợ trung bình
tác động tiêu cực đến tăng truởng kinh tế trên thế giói.Tuy nhiên, những kết quả ừên
được tính toán cho trung bình các quốc gia, do đó, chưa kể đến môi trường kinh tế
đặc trung, chính sách quản lý và điều hành đất nước của mỗi Chính Phủ, do đó, việc
phân tích những đặc trưng riêng cho mỗi nước là điều cần thiếtvà ngưỡng nợ của mỗi
quốc gia sẽ thay đổi khác nhau. Khu vục sử dụng đồng tiền chung Châu Âu CUỘC
khủng hoảng 2008 - 2009 đã tạo ra những căng thẳng đáng kể lên Gnh vực tài chính
công trong khu vực đồng tiền chung châu Âu, cụ thể là nợ công của mỗi quốc gia.

Development Finance, and Reinhart and Rogoff (2009b) và những nguồn được trick dẫn
tại đó
^ Khi nợ công quá lớn cũng sẽ đặt các quốc gia vào tình trạng khó khăn:
Khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách "thắt lưng
buộc bụng" để giảm thâm hụt ngân sách là điều kiện phải đáp ứng để được nhận
sự hỗ trợ cần thiết từ các tổ chức tín dụng quốc tế, thế nhưng, "thắt lưng buộc
bụng" lại dẫn tới những cuộc biểu tình phản đối của quần chúng, gây căng thẳng,
bất ổn chính trị, xã hội, bởi những người nghèo, những người yếu thế trong xã hội
là những người bị tác động mạnh nhất từ chính sách cắt giảm
Atmiic SirOừu Avc;íiạ; Median MciittL A*CT«|£C MCUẼKI
Liên hệ facebook : https://www.facebook.com/luanvanhaynhat hoặc sdt
0982601826 để cập nhật luận văn hay nhất.
Đề Tài 5: Tóm lượclý thuyấ về mối quan hệ giũa nợcông và tăng trưởng kirỉi tế 13
phúc lợi, cắt giảm chi tiêu của chính phả Chẳng hạn, để được nhận gói cứu trợ
nhằm giải quyết khủng hoảng nợ, Chính phủ Hy Lạp đã phải quyết định tăng
nhiều loại thuế, từ thuế giá trị gia tăng đến thuế thu nhập, thuế bất động sản; và
đánh thuế vào nhiều sản phẩm như rượu, thuốc lá._, đồng thời chấp nhận áp dụng
các biện pháp cắt giảm chi tiêu mạnh tay. Để phản đối chính sách này của chính
phủ, các cuộc tổng ánh công đã diễn ra, hàng chục ngàn người đã tham gia biểu
tình trên khắp đất nước Hy Lạp, nhất là tại thủ đô A-ten. Năm 2001, Ác-hen-ti-na
đã phải đối mặt với tình trạng rói bạn nghiêm trọng do các làn sóng biểu tình khắp
nơi phản ứng các biện pháp "thắt img buộc bụng", để rồi Tổng thống Ác-hen-ti-na
khi đó là ông Féc-nan-đô đơ la Rua đã phải từ chức, và 4 ngày sau đó, người kế
nhiệm là A-đôn-phơ RÔ4Ì-get Saa phải tuyên bố tình trạng vỡ nợ quốc gia, với
khoản nợ 90 tỉ USD - mức nợ lớn nhất trong lịch sử đất nước này.
Trong thòi điểm hiện nay, khi nền kinh tế toàn cầu mới thoát khỏi khủng
hoảng, bắt đàu có dấu hiệu phục hồi do kết quả của các gói kích thích kinh tế mà
chính phủ các nước đã chi ra trong những năm trước đây, thì việc cắt giảm chi
tiêu, tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồi của nền kinh tế, làm
chậm tốc độ tăng truởng, thậm chí có thể đẩy nền kinh tế vào "khủng hoảng kép".

Nhật Bản do người dân nước này nắm giũ; trong khi 70% nợ chính phủ Hy Lạp
do người nước ngoài nắm giữ. Bên cạnh đó, Nhật còn tự chủ về tỉ giá hối đoái, dự
trữ ngoại tệ của Nhật cũng ở múc rất cao (theo con số mà Bộ Tài chính Nhật Bản
công bố ngày 12-5, tính đến cuối tháng 4-2010, đự trữ quốc gia của Nhật là
1.046,873 tỉ USD). Do vậy, nền kinh tế Nhật Bản, mặc dù ngoài nợ công cao còn
đứng trước nhiều khó khăn khác nữa, nhưng vẫn được dự báo là khó có thể ừở
thành mục tiêu tấn công của giói đàu cơ quốc tế. Như vậy, việc đánh giá đúng nợ
công và "thực chất" nợ công của một nền kinh tế, một quốc gia là vô cùng quan
ừọng, đặc biệt trong những thời điểm nhạy cảm. Bởi lẽ, nếu chỉ chú ừọng vào con
số tỉ lệ nợ công cao một cách thuần tuý sẽ gây nên hiệu ứng tâm lý hoang mang,
kích động, thiếu tin tưởng, làm gia tăng căng thẳng xã hội, bị giới đầu cơ bi đụng
tấn công, dễ gây rối loạn nền kinh tế, thậm chí dẫn nền kinh tế đến bên bờ vực
phá sản. Ngược lại, nếu yên tâm với tỉ lệ nợ công còn trong giói hạn an toàn, mà
Liên hệ facebook : https://www.facebook.com/luanvanhaynhat hoặc sdt
0982601826 để cập nhật luận văn hay nhất.
Đề Tài 5: Tóm lượclý thuyấ về mối quan hệ giũa nợcông và tăng trưởng kirỉi tế 15
không phân tích cẳn ừọng, chú ý đúng múc đến khoản nợ đó được hình thành như
thế nào, bằng cách nào, thực trạng nền kinh tế m sao và khả năng trả nợ thế nào ,
cững sẽ dễ đẩy nền kinh tế Bơi vào vòng xoáy thâm hụt ngân sách - "thắt lung
buộc bụng" - tác động tiêu cực đến tăng trưởng.
KẾT LUẬN
Tóm ki từ những phân tích ở trên cho thấy giữa nợ công và sự tăng trưởng kinh tế
có 1 mối quan hệ mật thiết vói nhau.Khi chính phủ vay nợ để bù đắp cho thâm
hụt ngân sách do cắt giảm các nguồn thu từ thuế trong khi mức chi tiêu công
không thay đổi sẽ tác động đến hành vi tiêu đùng của người dân, từ đó hạn chế
tăng trưởng kinh tế, dẫn đến nền kinh tế ừì trệ, chậm phát triển .Ngược lại, xét về
mặt tích cục, Chính phủ các quốc gia có thể sử dụng nợ công như là một công cụ
để tài trợ vốn, đảp ứng nhu cầu đầu tư cho các dự án, công trình trọng điểm quốc
gia, khuyến khích phát triển sản xiất, kích thích tăng truởng kinh tế.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng, nợ công vẫn thật sự cần thiết cho nền kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status