1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
QLSV: Quản lý sinh viên
QLNNSH: Quản lý nề nếp sinh hoạt
GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
HSSV: Học sinh, sinh viên
THPT: Trung học phổ thông
VH: Văn hoá
TDTT: Văn hoá thể dục, thể thao
QLHSSV: Quản lý học sinh sinh viên
UBND: Uỷ ban nhân dân
QLGD: Quản lý giáo dục
SV: Sinh viên
ĐTNCSHCM: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Mịnh
CNH- HĐH: Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
KT - XH: Kinh tế - xã hội
KTX: Ký túc xá
ĐH - CĐ: Đại học - Cao đẳng
BQLKTX: Ban quản lý ký túc xá
QLHSSV: Quản lý học sinh, sinh viên
QLSVKNT: Quản l ý sinh viên khu nội trú
CBQLSV: Cán bộ quản lý sinh viên
QLKNT: Quản lý khu nội trú
BMC: Bộ môn chung
1
1
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
2
2
3
4
5
Có thể nói chất lượng đào tạo ở các cơ sở giáo dục là kết quả tổng hoà
của các lực lượng giáo dục, trong đó có một phần đóng góp quan trọng của
công tác quản lý học sinh sinh viên ở nhà trường. Công tác QLSV, nề nếp
sinh hoạt sinh viên trong nhà trường, thực chất là quá trình QLSV trong quá
trình học, rèn luyện tại trường, là một khâu quan trọng trong quá trình đào
tạo, thực hiện mục tiêu thực hiện đào tạo chung, nhằm hình thành nhân cách,
phẩm chất, năng lực, đạo đức người công dân. Thông qua công tác quản lý
HS-SV sẽ góp phần giáo dục ý thức nghề nghiệp, đạo đức tác phong và lối
sống cho học sinh, sinh viên theo môi trường tập thể. Qua đó bản thân mỗi
học sinh, sinh viên sẽ tự điều chỉnh hành vi, nâng cao ý thức sinh hoạt tự học,
tự rèn luyện để trở thành người công dân có đầy đủ phẩm chất sau này, từ đó
chất lượng đào tạo của nhà trường sẽ được nâng lên, sản phẩm đào tạo sẽ
được xã hội thừa nhận, tin tưởng tiếp nhận. Từ vấn đề trên việc quản lý nề
nếp sinh hoạt đối với học sinh, sinh viên thực hiện tốt nội quy, quy chế của
nhà trường là điều hết sức quan trọng và cần thiết của mỗi nhà trường; đặc
biệt là công tác quản lý nề nếp sinh hoạt cho học sinh, sinh viên nội trú ký túc
xá trong các trường Đại học và Cao đẳng là việc làm cần thiết trong công tác
giáo dục và đào tạo hiện nay.
Sự chuyển đổi cơ chế quản lý những năm qua đã mở ra nhiều cơ hội,
điều kiện cho việc phát triển, mở rộng quy mô đào tạo của các trường Đại học
và Cao đẳng, đồng thời cũng đặt ra những khó khăn thách thức to lớn với
ngành GD&ĐT, trong đó có công tác quản lý nhà trường. Sự tác động cơ chế
thị trường đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội cùng với những mặt tích
cực thì mặt trái của nó cũng có tác động không nhỏ, có ảnh hưởng xấu đến các
hoạt động của xã hội, từng ngày từng giờ len lỏi vào cuộc sống của sinh viên.
Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn là đơn vị sự nghiệp chịu sự quản
lý của UBND tỉnh Bắc Kạn. Hàng năm nhà trường tuyển sinh với quy mô
5
6
7
Đảng và Nhà nước, cho địa phương để sau khi ra trường mỗi sinh viên đều trở
thành những công dân tốt, có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có năng
lực cùng với những phẩm chất đạo đức tốt phục vụ quê hương đất nước.
Tuy đã có một số đề tài nghiên cứu về các biện pháp quản lý sinh viên
nội trú ở các cơ sở giáo dục, song vẫn còn có rất ít đề tài nghiên cứu các biện
pháp quản lý sinh viên nội trú ký túc xá vùng cao, vùng sâu và sinh viên các
dân tộc thiểu số. Từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý nề
nếp sinh hoạt của sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn”.
làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành với mong muốn đóng góp công sức
nhỏ bé của mình trong việc nâng cao chất lượng quản lý sinh viên nội trú của
trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ những cơ sở lý luận về quản lý khoa học, quản lý giáo dục, quản lý
nhà trường, quản lý sinh viên và quá trình phân tích thực trạng về hoạt động
quản lý nề nếp sinh hoạt của sinh viên. Đề tài nghiên cứu đề xuất các biện
pháp tổ chức hoạt động QLSV, QLNNSHSV nội trú ký túc xá ở trường Cao
đẳng Cộng đồng Bắc Kạn.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Sinh viên nội trú ký túc xá trường Cao đẳng
Cộng đồng Bắc Kạn.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý nề nếp sinh hoạt của sinh
viên nội trú ký túc xá ở trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn.
4. Giả thuyết khoa học
Quản lý sinh viên nói chung và QLNNSH của SV nội trú ký túc xá nói
riêng là một nội dung quan trọng trong quản lý GD&ĐT. Những năm qua
công tác QLNNSHSV nội trú của trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn đã có
nhiều tiến bộ nhưng còn bộc lộ một số tồn tại bất cập và hạn chế. Chất lượng
7
8
8
9
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích tổng hợp các tư liệu, tài
liệu khoa học có liên quan đến lĩnh vực quản lý nói chung, QLNNSH của SV
nói riêng
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, khảo sát, tổng kết kinh
nghiệm, nghiên cứu sản phẩm hoạt động, trò chuyện và phỏng vấn sâu, phương
pháp quan sát, phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động học tập
7.3. Các phương pháp hỗ trợ khác: Phương pháp thống kê toán học,
phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia, hội thảo khoa học, tra cứu tài liệu
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài danh mục chữ viết tắt, phần mở đầu, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục. Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý sinh viên.
Chương 2. Thực trạng quản lý nề nếp sinh hoạt của sinh viên khu nội trú
ký túc xá ở trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn.
Chương 3. Các biện pháp quản lý nề nếp sinh hoạt sinh viên khu nội trú ký
túc xá ở trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn.
9
9
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SINH VIÊN
1.1. Một số khái niệm về quản lý sinh viên
1.1.1. Khái niệm về quản lý
Sự tồn tại và phát triển con người là một tất yếu khách quan. Trong quá
trình kỳ lịch sử mỗi thời đều gắn với một phương thức sản xuất khác nhau, từ
phương thức cộng sản nguyên thuỷ đến nền văn minh hiện đại, trình độ tổ
con người. Xã hội càng phát triển, các loại hình lao động càng phong phú
phức tạp thì quản lý càng có vai trò quan trọng và trở thành một ngành khoa
học [16;24].
Theo nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp Henry Fayol (1841 - 1925)
Thì nội hàm của khái niệm quản lý là “Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối
hợp và kiểm tra” [20;21].
Theo Mary Parker Follet, nhà khoa học, nhà triết học Mỹ thì quản lý là
nghệ thuật khiến công việc thực hiện thông qua người khác [12;23].
Ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ quản lý cũng có rất nhiều cách giải
thích khác nhau . Thuật ngữ quản lý có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau, tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau.
Kinh tế học, hành chính học, luật học và các ngành khoa học như xã hội
học… đều sử dụng thuật ngữ quản lý với nội dung phù hợp với đối tượng
nghiên cứu của mình. Như vậy, có thể kể đến một số khái niệm sau:
“Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ
vào quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá
trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý và nhằm đạt được những
mục đích đã định trước”. Theo khái niệm này, quản lý được hiểu theo góc độ
hành động, góc độ quy trình công nghệ của tác động (quản lý và điều khiển).
11
11
12
“Quản lý là việc đảm bảo của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi
liên tục của hệ thống và môi trường, là việc chuyển hệ thống tới trạng thái
mới tương ứng với hoàn cảnh đó”.
“Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng
quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi
của cá nhân, dẫn tới mục đích hoạt động chung cho phù hợp với khách quan”
[21, 61].
Tóm lại: Quản lý là thuật ngữ chỉ “hoạt động có ý thức của con người
hệ giữa người quản lý và người bị quản lý.
- Về phương diện kỹ thuật tổ chức: Quản lý là quá trình điều khiển giữa
hệ thống hình thức các thủ pháp, phương pháp tiến hành, điều hành công việc.
Điều khiển là chức năng của những hệ có tổ chức, nó bảo toàn cấu trúc xác
định của các hệ thống, duy trì chế độ hoạt động và thực hiện hoạt động, xem
xét góc độ này, quản lý phản ánh sự tiến bộ của xã hội nên quản lý không
mang tính giai cấp.
Quản lý là một công việc hoạt động đặc biệt, mang tính sáng tạo. Hoạt
động quản lý cũng phát triển không ngừng từ thấp đến cao, gắn liền với quá
trình phát triển, đó là sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý
nhằm thực hiện mục tiêu chung của quản lý.
Phân công gắn liền với hợp tác, phân công chuyên môn hoá càng sâu
đòi hỏi sự hợp tác càng cao, mối liên hệ càng chặt chẽ với trình tự nhất định
giữa các chức năng quản lý.
Chức năng quản lý có vai trò rất quan trọng, nó xác định vị trí mối liên
hệ giữa các bộ phận, các khâu trong hệ thống quản lý.
Mỗi hệ thống quản lý đều có nhiều bộ phận nhiều khâu, nhiều cấp khác
nhau, gắn liền với những mục tiêu xác định nào đó, nếu không có chức năng
quản lý thì bộ phận đó không còn lý do để tồn tại. Trong cuốn “Giáo trình
13
13
14
khoa học quản lý” của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2004) có nêu 7 chức
năng quản lý như sau:
1. Dự báo.
2. Kế hoạch.
3. Tổ chức.
4. Động viên.
5. Điều chỉnh.
6. Kiểm tra.
nào trong chuỗi các chức năng thì kết quả quản lý sẽ không đạt được mục
tiêu mong muốn.
1.1.2. Khái niệm quản lý giáo dục
Cùng với sự phát triển của xã hội là việc chuyên môn hoá các hoạt
động của con người trong đời sống xã hội, đây chính là cơ sở khách quan của
việc phân chia các hoạt động của xã hội thành các ngành khác nhau.
“Quản lý theo ngành là hoạt động quản lý các đơn vị, tổ chức kinh tế,
văn hoá, xã hội có cùng cơ cấu kinh tế - kỹ thuật hoặc hoạt động với mục
đích giống nhau làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị này phát triển
một cách đồng bộ, nhịp nhàng, đáp ứng được với yêu cầu của nhà nước và
xã hội” [37;155].
Để quản lý theo ngành đòi hỏi phải có một tổ chức đứng ra thực hiện
công việc này. Theo Nghị định 15/CP ngày 2/3/1993, các bộ (cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ) được thành lập để thực hiện việc thống nhất
quản lý một ngành, lĩnh vực chuyên môn hoặc một vài ngành, lĩnh vực
chuyên môn có liên quan trong phạm vi toàn quốc.
Quản lý giáo dục là quản lý một lĩnh vực xã hội, giáo dục đồng nghĩa
với sự phát triển. Nó là cái hiện hình trong mọi sản phẩm vật chất và tinh
thần. Quản lý giáo dục là điển hình nhất về quản lý con người. Quản lý sự
15
15
16
hình thành và phát triển nhân cách là cái gốc để có dân trí, nhân cách và
nhân tài.
Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý giáo
dục, nhưng cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung và bản chất. Cũng
như khái niệm chung về quản lý. Quản lý giáo dục cũng có chủ thể quản lý,
khách thể quản lý và quan hệ quản lý.
- Chủ thể quản lý: Bộ máy quản lý giáo dục các cấp
- Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học
Mục tiêu quản lý giáo dục là điều khiển hệ thống giáo dục đạt đến
trạng thái mong muốn trong tương lai đối với hệ thống giáo dục, đối với
trường học hoặc đối với vài thông số chủ yếu của hệ thống giáo dục của
nhà trường.
Như vậy, quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là “Hoạt động điều
hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát
triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển của giáo dục thường
xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà dành cho mọi
người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục
được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ
thống giáo dục quốc dân [20;120].
Mục tiêu quản lý giáo dục:
- Đảm bảo quyền học sinh vào học các ngành học, các cấp học, lớp học
đúng chỉ tiêu và tiêu chuẩn.
- Đảm bảo chỉ tiêu và chất lượng đào tạo.
- Xây dựng và sử dụng bảo quản tốt cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ
cho dạy và học.
- Phát triển tập thể sư phạm đủ và đồng bộ nâng cao về trình độ chuyên
môn nghiệp vụ và đời sống.
17
17
18
- Xây dựng và hoàn thiện các tổ chức chính quyền, Đảng, và đoàn thể
quần chúng, các mối quan hệ giữa giáo dục và xã hội để thực hiện tốt nhiệm
vụ GD & ĐT.
Phương pháp quản lý giáo dục: Cũng như bất cứ hệ thống quản lý
nào, QLGD phải sử dụng các phương pháp quản lý chung. Tuy nhiên, các
phương pháp quản lý không phải là hoàn thiện, toàn diện, hoàn toàn đúng với
mọi trường hợp nên khi thực hiện áp dụng phải vận dụng linh hoạt, mềm dẻo,
sáng tạo để có hiệu quả cao.
- Phải xác định rõ mục tiêu quản lý của nhà trường là những mục
tiêu hoạt động của nhà trường được dự kiến trước khi triển khai hoạt động
năm học.
- Xác định cụ thể nội dung, nhiệm vụ trên cơ sở đó hoặch định các mục
tiêu một cách tổng thể, đây là những điều kiện để cho mục tiêu trở thành hiện
thực khi tổ chức thực hiện trong năm học.
- Nhà trường là một cơ sở GDĐT là một đơn vị độc lập, thực hiện sứ
mệnh chính trị của mình là dạy học và giáo dục thế hệ trẻ, vì vậy các mục tiêu
nội dung hoạt động quản lý nhà trường rất phong phú, đa dạng.
1.1.4. Khái niệm quản lý sinh viên
1.1.4.1. Khái niệm sinh viên
Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng La tinh “students” có nghĩa
là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm khai thức trí thức. Nó
được dùng nghĩa tương đương với từ “student” trong tiếng Anh, “etudiant”
trong tiếng Pháp để chỉ những người theo học ở bậc ĐH và CĐ.
Sinh viên là những người đang học ở bậc CĐ, ĐH mang tính chất
nghiên cứu.
Theo quy định của trường ĐH và Cao Đẳng thì lứa tuổi SV hiện nay
là từ 17 đến 23 tuổi.
19
19
20
Khái niệm SV được sử dụng rộng rãi hiện nay và được các nhà nghiên
cứu chấp nhận với nghĩa: SV là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt, là
những người đang trong quá trình tích luỹ tri thức nghề nghiệp để trở thành
những chuyên gia có trình độ chuyên môn cao, hoạt động, lao động trong
một lĩnh vực nhất định có ích cho xã hội.
1.1.4.2. Khái niệm sinh viên nội trú
Theo Quy chế Công tác học sinh, sinh viên Khu nội trú thì: Sinh viên
nội trú là những người đang học tại trường và được nhà trường bố trí ở trong
quá trình đào tạo thực chất là hoạt động của các phòng, ban chức năng; các
cán bộ, viên chức trong nhà trường đối với sinh viên thực hiện kế hoạch và
nội dung đào tạo của nhà trường.
Như vậy, nhiệm vụ quản lý sinh viên trong quá trình đào tạo tức là
quản lý sinh viên về các mặt:
- Chính trị, tư tưởng
- Nề nếp, sinh hoạt
- Quá trình học tập, tự học, tự nghiên cứu
- Cơ sở vật chất khu nội trú
Quá trình đào tạo có thể được phân chia thành 2 bộ phận là:
- Quá trình đào tạo chính khoá
- Quá trình đào tạo ngoài chương trình chính khoá
Quá trình đào tạo chính khoá được hiểu là quá trình đào tạo theo kế
hoạch, chương trình giảng dạy và học tập do nhà trường xây dựng theo từng
học kỳ, năm học và cả khoá học. Quá trình đào tạo ngoài chương trình chính
khoá được hiểu là bao gồm việc tự học, tự rèn luyện, vui chơi, giải trí, nhưng
hoạt động sinh hoạt tập thể, tham gia các câu lạc bộ và các hoạt động xã hội
khác.
1.2.2. Nguyên tắc QLSV
Quản lý sinh viên là một bộ phận trong tổng thể các hoạt động quản lý
của Quản lý nhà nước trên lĩnh vực giáo dục. Vì vậy, Công tác quản lý sinh
viên nói chung và QLNNSH của SV nói riêng phải được căn cứ vào các văn
21
21
22
bản pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các vấn đề về công tác
sinh viên trong môi trường giáo dục và đào tạo. Việc sử dụng các văn bản
pháp luật để quản lý sinh viên cho thấy đây là hoạt động có tính tổ chức,
mang quyền lực Nhà nước, mang tính bắt buộc chung. Các trường trong hệ
thống giáo dục của nước ta và mọi sinh viên đang sinh hoạt và học tập tại các
tạo ở phạm vi của một nhà trường. Nhà trường không đứng ngoài công tác
chính trị mà phải làm tốt công tác chính trị, đây là nguyên tắc cơ bản để giải
quyết các vấn đề lí luận, thực tiễn trong quá trình đào tạo hiện nay.
1.2.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính tập trung dân chủ
Nguyên tắc này phải thể hiện mối quan hệ giữa lãnh đạo tập trung của
nhà nước về giáo dục và phát huy tối đa dân chủ các sáng kiến đóng góp của
cộng đồng xã hội vào công tác tổ chức và quản lý giáo dục. Mặt khác phải
tăng cường công tác quản lý tập trung, thống nhất của người lãnh đạo, quản
lý. Phải phát huy mở rộng tối đa quyền tự chủ của các đơn vị, cá nhân trong
tập thể nhà trường.
1.2.2.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, tính kế hoạch
Cần đảm bảo tính khoa học, tính kế hoạch trong hoạt động quản lý và
phải được xây dựng trên cơ sở khoa học, phù hợp với trình độ, yêu cầu quản
lý thực tế của nhà trường, có những kế hoạch kiểm tra, đánh giá, giám sát việc
thực hiện các nội dung chương trình đã đề ra.
1.2.2.4. Nguyên tắc đảm bảo tính cụ thể, thiết thực và hiệu quả
Quản lý sinh viên nội trú ký túc xá là một hoạt động quản lý phức tạp,
kết quả của nó là kết quả của cả quá trình giáo dục đào tạo liên tục, cụ thể và
thiết thực, do vậy đòi hỏi trong QLNNSH của SV người quản lý phải nắm bắt
được thông tin cụ thể và chính xác, giải quyết đúng đắn phù hợp với thực tiễn,
nguyện vọng của sinh viên.
23
23
24
1.2.3. Nhiệm vụ Quản lý sinh viên nội trú ký túc xá
Thực tế hiện nay, nhu cầu chỗ ở cho sinh viên trở nên rất cấp bách, đa
số các sinh viên ngoại tỉnh khi thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, việc
đầu tiên họ quan tâm là việc ăn ở như thế nào. Họ đều mong muốn được ăn ở
trong ký túc xá của trường. Việc thuê trọ ở nhà dân, sinh viên không bị quản
lý về giờ giấc, có nhiều điều kiện sinh hoạt và hoạt động xã hội, nhưng HSSV
Ban quản lý sinh viên, sinh viên nội trú cần tổ chức tốt các nhiệm vụ
QLSV nội trú, chủ thể quản lý cần lập kế hoạch tổ chức lãnh đạo và chỉ tiến
hành kiểm tra, đánh giá, qua đó để nắm bắt được các thông tin về công tác
quản lý sinh viên nội trú ký túc xá và có bổ sung điều chỉnh hợp lý mục tiêu
quản lý sinh viên nội trú ký túc xá đề ra.
1.3. Đặc điểm tâm lý sinh viên và quản lý sinh viên nội trú của các trường
Cao đẳng
1.3.1. Hệ thống các trường Cao đẳng trong hệ thống GDĐT
Các loại hình trường Đại học, Cao đẳng được tổ chức theo loại hình
công lập và tư thục. Hiện nay, hệ thống các trường Cao đẳng chủ yếu phân bố
ở các tỉnh, thành phố nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người học và thực hiện
mục tiêu phát triển GD & ĐT ở các địa phương.
1.3.2. Đặc điểm tâm lý sinh viên các trường Cao đẳng
1.3.2.1. Đặc điểm tâm lý của sinh viên
Sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng với tư cách là đại biểu của
nhóm xã hội đặc biệt, đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh
thần của xã hội, sinh viên đang tích cực chuẩn bị thực hiện vai trò xã hội và
khẳng định chuyên môn của mình trong các lĩnh vực. Họ là lực lượng tri thức
tiến bộ bổ sung cho nguồn nhân lực xã hội hiện tại và cả trong tương lai.
Theo nhà tâm lý học, xã hội học: sinh viên là những người thuộc lứa
tuổi từ 18 đến 25, ở lứa tuổi này con người đã đạt đến độ hoàn thiện về mặt
thể chất và ổn định về các nét tính cách. Chính sự hoàn thiện này cho phép
25
25