Biện pháp quản lý nề nếp học tập của học sinh trường THPT quảng khê, huyện ba bể, tỉnh bắc kạn - Pdf 13

1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCH Ban chấp hành
BGH Ban giám hiệu
CBQL Cán bộ quản lý
CSVC Cơ sở vật chất
GV Giáo viên
GVCN Giáo viên chủ nhiệm
HS Học sinh
KHTN Khoa học tự nhiên
KHXH Khoa học xã hội
NNHT Nề nếp học tập
PPDH Phương pháp dạy học
QLGD Quản lý giáo dục
SL Số lượng
TB Trung bình
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
XHCN Xã hội chủ nghĩa
1
1
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
2
2
3
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
3
3
4
MỞ ĐẦU

đột phá nâng cao chất lượng dạy và học trong trường phổ thụng phải bắt đầu
từ việc xây dựng nề nếp học tập của học sinh. Phải làm cho học sinh thực sự
là chủ thể của hoạt động học tập, học sinh cùng giáo viên là chủ thể của hoạt
động dạy và học. Việc giáo dục nề nếp, kỷ cương, kỷ luật học tập cho học
sinh phổ thông phải là một trong những nhiệm vụ trọng yếu hàng đầu, là nhân
tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập, đến chất lượng dạy-học ở trường
phổ thông.
Hiện nay, việc xây dựng nề nếp học tập của học sinh đó được các trường
phổ thông quan tâm và có những chuyển biến tích cực. Công tác tổ chức quản
lý nề nếp học tập của học sinh thu được một số kết quả đỏng khích lệ (kỷ luật
học tập được đảm bảo, học sinh có ý thức chấp hành tốt nội quy học tập, đi
học đúng giờ, tích cực tham gia xây dựng bài, có thói quen tự giác học tập,
làm bài tập về nhà, học kỹ lý thuyết trước khi làm bài,… ngăn chặn được tình
trạng vỡ lớp, trò bỏ học). Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được, trong
thực tế việc quản lý nề nếp học tập của học sinh phổ thông nhất là trường phổ
thông vẫn cũn nhiều khó khăn, bất cập, chưa thật sự có hiệu quả (việc chấp
hành nội quy học tập còn mang tính hình thức, đi học không đúng giờ, chưa
chăm chú nghe giảng, lười học, trốn học đi chơi điện tử, không làm bài tập về
nhà, ý thức tự giác học tập chưa cao ). Nguyên nhân chủ yếu là do đa số học
sinh là dân tộc thiểu số, nhận thức cũn chậm, nhiều gia đình chưa thật sự quan
tâm đến việc học của con em mình, phần đông học sinh chưa có kỹ năng và
phương pháp học tập khoa học, hợp lý. Một số giáo viên tuổi đời và tuổi nghề
còn trẻ, năng lực chuyên môn còn nhiều hạn chế, thiếu kinh nghiệm quản lý
học sinh. Do đời sống giáo viên còn nhiều khó khăn, cho nên một số giáo viên
chỉ quan tâm đến dạy học, chưa thực sự quan tâm đến việc hình thành nề nếp
5
5
6
học tập. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách thấu đáo và có hệ thống công tác
quản lý nề nếp học tập của học sinh trường phổ thông nói chung, trường

5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về nề nếp học tập và quản lý nề nếp học tập
của học sinh THPT
5.2. Khảo sát thực trạng nề nếp học tập, các biện pháp quản lý nề nếp học
tập của học sinh trường THPT Quảng Khê
5.3. Đề xuất biện pháp quản lý nề nếp học tập của học sinh trường THPT
Quảng Khê
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
6.1. Nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý nề nếp
học tập của học sinh.
6.2. Khách thể: Đề tài nghiên cứu học sinh trường THPT Quảng Khê, huyện
Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Thời gian: Năm 2009 - 2011.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá các tài
liệu lý luận về nề nếp học tập.
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử vấn đề, phát hiện và khai thác những khía
cạnh mà các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập đến vấn đề về nề nề nếp
học tập và tổ chức nề nếp học tập, làm cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát nề nếp học tập của học sinh trường THPT Quảng
Khê trong mối quan hệ với hoạt động dạy học.
- Phương pháp điều tra bằng ankét về thực trạng nề nếp học tập và quá
trình quản lý nề nếp học tập của học sinh trường THPT Quảng Khê.
7
7
8
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia góp ý về cách xử lý kết quả điều
tra, các biện pháp quản lý.

thẩm mỹ, rèn luyện nghị lực và ý chí, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng
ngày một tốt hơn yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc đổi mới nền
kinh tế của đất nước trong giai đoạn mới.
Bên cạnh đó, chất lượng đào tạo phổ thông hiện còn bộc lộ nhiều hạn
chế cần phải khắc phục. Một trong các nguyên nhân của hạn chế đó là công
tác quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo, trong đó có công tác quản lý nề
nếp học tập của học sinh.
Một trong những giải pháp có tính chất quyết định để nâng cao chất
lượng giáo dục phổ thông là phải cải tiến công tác quản lý nề nếp học tập của
học sinh trung học. Ở các trường THPT, nề nếp học tập của học sinh có vai
trò vô cùng quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng và quản
lý mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học. Chất lượng giáo dục phụ thuộc
rất nhiều vào nề nếp học tập của học sinh trên lớp cũng như tự học ở nhà.
9
9
10
Đến năm 1986, Việt Nam triển khai cải cách giáo dục theo đường lối đổi
mới của Đảng đã được khởi xướng ở Đại hội VI thì vấn đề ổn định giáo dục
phổ thông, thực hiện nề nếp, kỷ luật, kỷ cương trong các trường phổ thông bắt
đầu được chú trọng. Từ năm 1986 đến nay, công tác quản lý nề nếp học tập
của học sinh phổ thông được nhiều nhà giáo dục, nhiều nhà sư phạm quan
tâm, nhiều sáng kiến giảng dạy ở các cấp độ khác nhau được thực hiện .
Điển hình là sáng kiến của Đinh Thị Thanh Loan trường Tiểu học Lý
Thường Kiệt, Quận Đống Đa - Hà Nội về “Những định hướng để hình thành
nề nếp học tập cho học lớp 1” đã chỉ ra một số biện pháp giúp học sinh rèn nề
nếp học tập trên lớp, rèn nề nếp học tập ở nhà, kết hợp với giáo viên bộ môn
và phụ huynh học sinh cùng có biện pháp rèn nề nếp cho học sinh, đồng thời
áp dụng biện pháp nêu gương, khen thưởng đối với những học sinh có nề nếp
học tập tốt, nhờ đó các em đã có ý thức học tập tốt hơn và có hứng thú say mê
trong học tập.

Theo từ điển Tâm lý học, nề nếp lớp học là những chuẩn mực của giáo
viên yêu cầu học sinh thực hiện [27].
Trên cơ sở thừa kế các khái niệm về nề nếp, đề tài đưa ra quan niệm về nề
nếp học tập như sau: Nề nếp học tập là toàn bộ những nội quy, quy chế, quy
định, kỷ luật, lề lối, thói quen học tập được nhà quản lý, giáo viên và học sinh
giữ g ì n , duy trì hoạt động dạy và học một cách hợp lý, có tổ chức và hiệu quả.
11
11
12
Nếu xem xét nề nếp học tập (NNHT) trong mối quan hệ với hoạt động
dạy học hay nói cách khác diễn ra trong quan hệ với giáo viên, thì NNHT diễn
ra dưới các hình thức khác nhau:
- Nề nếp học tập diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của giáo viên và
những phương tiện kỹ thuật trên lớp, học sinh phát huy hết những năng lực,
phẩm chất như nghe giảng, ghi chép bài phân tích, khái quát hoá, để tiếp thu
những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà giáo viên định hướng cho. Từ đó thông
qua việc thiết kế bài giảng, giáo viên tạo điều kiện để học sinh phát huy được
tính tích cực, chủ động sáng tạo, đồng thời sẽ dần hình thành được cho học
sinh một NNHT tốt ở trên lớp.
- Nề nếp học tập diễn ra dưới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên, thì
lúc này học sinh phải biết tự sắp xếp thời gian, điều kiện cơ sở vật chất để tự
học, tự củng cố, tự đào sâu những tri thức hoặc tự hình thành những kỹ năng,
kỹ xảo theo yêu cầu đã được hướng dẫn, và có sự quản lý của chính gia đình học
sinh. Từ đó cũng sẽ dần hình thành được cho học sinh có được một NNHT tốt tại
gia đình.
Việc hình thành NNHT cho học sinh dù có mặt của giáo viên hay không
có mặt của giáo viên đều giúp học sinh phát huy được tính tự giác, tích cực
cao thể hiện ở việc học sinh có một thói quen tốt trong việc tự nguyện, tìm tòi
phương pháp, phương tiện và điều kiện để thực hiện nhiệm vụ học tập.
1.2.2. Quan hệ giữa việc hình thành nề nếp học tập cho học sinh và dạy học

mình và học sinh điều chỉnh việc học của mình.
Phân tích vai trò chủ đạo của GV, chúng ta thấy GV không phải là người
mang tri thức đến cho HS mà là người tổ chức cho HS tự mình tìm ra tri thức.
GV là người tạo ra môi trường học tập để học sinh hoạt động và qua đó lĩnh
hội được tri thức, kĩ năng và nhiều giá trị khác.
13
13
14
Theo Nguyễn Kỳ: “Dạy học là hướng dẫn, hỗ trợ, khuyến khích người
học xử lý, biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người.
Dạy học là khuyến khích học. Dạy học là tri thức hoá con người” [16; tr16].
Quản lý hoạt động dạy học phát huy NNHT của học sinh không phải chỉ
quản lý mục tiêu, nội dung chương trình mà chủ yếu quản lý hoạt động lên
lớp của giáo viên, đặc biệt quản lý phương pháp giảng dạy của giáo viên ở
trên lớp để kích thích và hình thành NNHT cho học sinh.
1.2.3. Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh dân tộc miền núi
* Đặc điểm tâm lý trong học tập
- Đặc điểm về nhận thức
Trong quá trình học tập, sự biến đổi nhận thức của người học chịu sự tác
động của các lực lượng giáo dục, của nội dung, phương pháp và các hình thức
dạy học, trong điều kiện dạy và học cụ thể, dưới ảnh hưởng của điều kiện
kinh tế - xã hội, phong tục tập quán, lối sống đã được hình thành ở học sinh.
Như vậy, đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh dân tộc bao gồm những
yếu tố đã ổn định và những yếu tố mới hình thành và phát triển trong quá
trình dạy học và giáo dục.
Nhìn chung, các nét tâm lý như ý chí rèn luyện, óc quan sát, trí nhớ, tính
kiên trì, tính kỷ luật của học sinh dân tộc chưa được chuẩn bị chu đáo. Việc
học chưa được coi trọng vì thiếu động cơ thúc đẩy, hay nói cách khác, quá
trình chuyển hoá nhiệm vụ, yêu cầu học tập, cũng như cơ chế hình thành ở
bản thân học sinh diễn ra chậm. Tuy nhiên, do sống từ nhỏ trong không gian

giao thoa ngôn ngữ gây khó khăn trong hoạt động nhận thức khi mà công cụ tư
duy bị hạn chế. Trong học tập các em không biết lật đi lật lại vấn đề, phát hiện
thắc mắc, suy nghĩ sâu sắc về vấn đề học tập. Đa số học sinh chỉ cố gắng ghi
nhớ toàn bộ lời giảng của giáo viên rồi lặp lại y nguyên, ngại đào sâu suy nghĩ,
tìm dấu hiệu bản chất của nội dung vấn đề. Trong lối sống, các em không thích
15
15
16
gò bó, thường có những thói quen chưa tốt như tác phong lề mề, chậm chạp,
thiếu ngăn nắp… ảnh hưởng tới công tác giáo dục, dạy học khi các em học ở
trường phổ thông, cũng như khi học ở các trường chuyên nghiệp.
- Đặc điểm nhu cầu
Hoạt động học tập của học sinh, nguồn gốc cơ bản là xuất phát từ một
nhu cầu - nhu cầu hiểu biết và tự hoàn thiện mình. Đối với học sinh dân tộc
nói riêng, đến trường đi học là sự thay đổi căn bản của hoạt động chủ đạo.
Lúc này, nhận thức của các em có sự chuyển biến tích cực, ý thức về mình là
học sinh, là những cán bộ tương lai của địa phương, đất nước. Vì vậy nhà
trường cần phải duy trì được nhu cầu thích học, khẳng định vị trí mới cho
người học là một trong những yêu cầu sư phạm cần thiết để giáo dục học sinh.
ý thức tập thể, kỷ luật học tập phải trở thành nếp sống mới, thói quen mới và
dần được khắc sâu trong học sinh.
Vấn đề là ở nhà trường phổ thông việc tổ chức học tập cho học sinh làm
sao cho hiệu quả, phù hợp với đặc điểm nhận thức, hứng thú của học sinh.
Tuy nhiên việc hình thành và phát triển nhu cầu cho học sinh cần gắn liền với
cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức học tập thích hợp, để nâng
cao kết quả học tập.
- Đặc điểm giao tiếp
Trước khi đến trường, học sinh dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng mạnh
của giao tiếp cộng đồng. Thông qua con đường giao tiếp tự nhiên, học sinh
dân tộc trao đổi thông tin, trao đổi tình cảm trong cuộc sống bằng phương tiện

tượng mà được cụ thể hoá trong mục đích của hoạt động. Có rất nhiều động
cơ học như học để đạt điểm cao, học để có học bổng, học vì để báo đáp công
ơn cha mẹ, học để mở rộng kiến thức, học để lập nghiệp… Tuỳ vào động cơ
học mà học sinh sẽ chọn phương pháp, phương tiện và các điều kiện học
tương ứng. Ví dụ, nếu động cơ học để mở rộng hiểu biết, phát triển chính
mình thì việc học sẽ được thực hiện với sự tự giác, tích cực độc lập cao, học ở
17
17
18
mọi lúc, mọi nơi với mọi đối tượng, kiến thức tiếp thu được đào sâu, được
phát triển và ứng dụng phong phú.
Khi học sinh có động cơ học tập đúng đắn, các em sẽ chủ động tích cực
trong học tập, nỗ lực ý chí vượt qua khó khăn để theo đuổi việc học, từ đó
NNHT thường xuyên được duy trì thực hiện tốt.
Động cơ, mục đích học của học sinh liên quan đến việc nhận thức ý
nghĩa của việc học, môn học, bài học, liên quan đến phạm vi kiến thức và
phương pháp lĩnh hội kiến thức. Do đó hình thành động cơ học cho học sinh,
giáo viên bằng phương pháp sư phạm của mình làm cho học sinh nhận thức
được ý nghĩa của việc học, môn học, bài học đối với cuộc sống, các nhân và
nghề nghiệp tương lai của học sinh.
* Nội dung môn học
Chương trình môn học đã được lựa chọn từ khoa học tương ứng và được
sắp xếp theo logic sư phạm của từng cấp học, bậc học. Và những kiến thức đó
là đối tượng lĩnh hội của học sinh trong quá trình học tập. Nội dung môn học
chủ yếu được thể hiện trong sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, trong các
nguồn thông tin khác. Nội dung môn học được mở đầu ở giáo viên và kết thúc
ở học sinh.
Nội dung môn học không chỉ là hệ thống tri thức mà ẩn chứa trong nó là
cách thức hành động, cách thức tiếp cận. Nội dung môn học hàm chứa tính
mới mẻ, tính tiện ích nên bao giờ nó cũng hấp dẫn, lôi cuốn người học. Tuy

là một yêu tố tác động rất quan trọng đến NNHT của học sinh.
* Môi trường và điều kiện học tập
Con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội. Tính cách con người
nói chung và người học sinh nói riêng không chỉ do ảnh hưởng của giáo dục ở
19
19
20
nhà trường phổ thông mà còn do ảnh hưởng của môi trường xã hội. Giáo dục
gia đình là hạt nhân cơ bản hình thành tính cách người học ngay từ thuở ấu
thơ. Sự giáo dục trong gia đình, tấm gương học tập của bố mẹ, anh chị, phong
trào học tập trong trường, lớp là nhân tố cơ bản định hướng cho sự phấn đấu
đi lên trong học tập, giúp các em hình thành NNHT.
Bên cạnh đó thì điều kiện cơ sở vật chất như phòng học, thư viện,
phương tiện thiết bị, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, hệ thống mạng
Internet, phục vụ cho dạy học cũng ảnh hưởng đến NNHT của học sinh.
1.2.5. Vai trò của việc thực hiện nề nếp học tập ở trường phổ thông đối với
sự phát triển nhân cách của học sinh
Như chúng ta đã biết việc giáo dục nhân cách cho học sinh là một nhu
cầu cần thiết bởi bản chất của quá trình giáo dục là tổ chức toàn bộ cuộc sống,
học tập, hoạt động của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi tối ưu để tiềm năng
của học sinh được phát triển dưới sự giáo dục của nhà trường.
Trong thời đại mở cửa nền kinh tế hiện nay có ảnh hưởng không ít đến
việc học tập và rèn luyện nhân cách của học sinh. Ở độ tuổi này các em rất dễ
bị lôi kéo, rất dễ thể hiện cái tôi, trong khi ngoài xã hội có nhiều cám dỗ vì
vậy quan tâm đến ý thức chuyên cần của học sinh, đến việc rèn cho các em có
một nề nếp học tập tốt là một việc làm rất cần thiết nhằm giúp các em đạt kết
quả tốt trong học tập đồng thời vừa giúp các em xây dựng được nề nếp hành
vi đạo đức, rèn luyện nhân cách, hình thành nền nếp làm việc khoa học, rèn
luyện ý chí phấn đấu, đức kiên trì, óc phê phán và hứng thú học tập.
Như trên đã nói nề nếp lớp học là những chuẩn mực để học sinh phải

động, sản xuất, không thể khai thác, sử dụng có hiệu quả các yếu tố lao động
sản xuất.
Khái niệm quản lý được nhiều tác giả đưa ra theo nhiều cách tiếp cận
khác nhau, chẳng hạn:
21
21
22
- Theo “Từ điển tiếng việt”: “Quản lý là tổ chức và điều hành các hoạt
động theo những yêu cầu nhất định” [28; tr 789].
- Theo Aunpu F.F: “Quản lý là một khoa học và là một nghệ thuật tác
động vào một hệ thống xã hội, chủ yếu là quản lý con người nhằm đạt được
mục tiêu xác định. Hệ thống đó vừa động, vừa ổn định bao gồm nhiều thành
phần có tác động qua lại lẫn nhau” [1; tr75].
- Thomas, J. Robbins - Wayned Morison cho rằng: “Quản lý là một nghề
nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học” [23; tr19].
Ở nước ta, có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:
- Theo tác giả Nguyễn Văn bình thì: “Quản lý là một nghệ thuật đạt
được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ
huy hoạt động của những người khác” [5; tr 176].
- Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có
định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất
các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong
điều kiện biến chuyển của môi trường” [24; tr 43].
- GS Mai Hữu Khuê quan niệm: “Quản lý là sự tác động có mục đích tới
tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và
mục đích đã định trước” [15; tr 19,20].
- GS Đặng Vũ Hoạt và GS Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá
trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá
trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những
mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý

trong quản lý rất quan trọng: Là cơ sở, chất liệu hình thành các quyết định
quản lý. Chất lượng hiệu quả của quyết định quản lý phụ thuộc vào tính đầy
đủ, chính xác, kịp thời của thông tin.
23
23
24
Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và hệ thống thông tin được biểu
diễn thành sơ đồ sau:

Sơ đồ 1: Các chức năng quản lý và thông tin trong quản lý
Như vậy, đối với mỗi hệ thống hoạt động quản lý có thể phân chia
thành 4 nội dung lớn: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch,
kiểm tra đánh giá các hoạt động và thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Trong
những điều kiện cần thiết có thể điều chỉnh lại kế hoạch, điều chỉnh lại mục
tiêu, điều chỉnh lại các hoạt động cụ thể hoặc có thể điều chỉnh động thời hai
hoặc ba nhân tố cho phù hợp.
1.3.2. Quản lý giáo dục
1.3.2.1. Khái niệm về quản lý giáo dục
Ở nước ta các nhà nghiên cứu lý luận cho rằng: Quản lý giáo dục (QLGD)
là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý nhằm đưa hoạt động
sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách có hiệu
quả nhất. Quản lý giáo dục còn được hiểu là một chuỗi tác động hợp lý, có
mục đích, có hệ thống, có kế hoạch, mang tính sư phạm của chủ thể quản lý
đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và
ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào
24
Lập kế hoạch
Thông tin Tổ chức Kiểm tra
Chỉ đạo
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status