nghiên cứu phương thức quản lý rừng cộng đồng trong phát triển lâm nghiệp bền vững tại huyện ba bể, tỉnh bắc kạn - Pdf 24


Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www:lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ LỆ KHUYÊN
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ RỪNG
CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP
BỀN VỮNG TẠI HUYỆN BA BỂ - TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn”.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Đinh
Ngọc Lan cùng toàn thể các thầy cô, cán bộ Khoa Kinh tế và phát triển
nông thôn, Phòng quản lý đào tạo sau đại học trường Đại học Nông lâm
Thái Nguyên.
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ ban lãnh đạo các cấp của huyện Ba
Bể tỉnh Bắc Kạn; Tổ chức ICRAF, cán bộ dự án của ICRAF, bạn bè đồng
nghiệp, các bạn sinh viên và những người thân trong gia đình đã giúp đỡ và
tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 06 năm 2013
Tác giả Nguyễn Thị Lệ Khuyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1. Mục tiêu tổng quát 3
2.2. Mục tiêu cụ thể 3

3.1.1. Về đặc điểm tự nhiên 25
3.1.2. Về phát triển kinh tế - xã hội 30
3.1.3. Hoạt động trồng rừng 34
3.2. Thông tin về kinh tế xã hội của các hộ gia đình tại Ba Bể 36
3.3. Đặc điểm đất đai của các xã nghiên cứu liên quan đến quản lý
tài nguyên rừng 38
3.3.1. Đặc điểm chung của xã Đồng Phúc liên quan đến quản
lý tài nguyên rừng 38
3.3.2. Đặc điểm chung của xã Quảng Khê liên quan đến quản
lý tài nguyên rừng 44
3.3.3. Đặc điểm chung của xã Bành Trạch liên quan đến quản lý
tài nguyên rừng 50
3.4. Thực trạng sở hữu và sử dụng đất của phương thức quản lý
rừng cộng đồng trên địa bàn huyện Ba Bể 57
3.4.2. Phương thức quản lý rừng tư nhân 60
3.4.3. Phương thức quản lý rừng cộng đồng 63
3.5. Sự chia sẻ lợi ích trong phương thức quản lý rừng cộng đồng
tại huyện Ba Bể 68
3.6. Những xung đột trong phương thức quản lý rừng cộng đồng
tại huyện Ba Bể 75
3.6.1. Xung đột giữa hộ gia đình, cộng đồng với nhà nước 77
3.6.2. Xung đột giữa các hộ gia đình trong quản lý rừng cộng đồng 78 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

v
3.6.3. Xung đột giữa cộng đồng với bên ngoài 79
3.7. Đánh giá về hiệu quả của phương thức quản lý rừng cộng
đồng tại huyện Ba Bể 80

Bảng 3.11: Lược sử thôn Nà Lần, xã Bành Trạch 55
Bảng 3.12: Lược sử thôn Khuổi SLẳng, xã Bành Trạch 56
Bảng 3.13 : Diện tích rừng dưới hình thức nhà nước quản lý tại Ba Bể
năm 2012 59
Bảng 3.14 : Thống kê diện tích các loại rừng dưới hình thức nhà nước
quản lý tại Ba Bể năm 2012 59
Bảng 3.15: Diện tích đất rừng dưới hình thức quản lý tư nhân tại Ba
Bể năm 2012 61
Bảng 3.16: Thống kê diện tích các loại rừng dưới hình thức quản lý tư
nhân tại Ba Bể năm 2012 62
Bảng: 3.17: Thực trạng sở hữu đất của các hộ gia đình tại Ba Bể 63
Bảng 3.18: Diện tích đất rừng dưới hình thức quản lý cộng đồng tại 3
xã nghiên cứu năm 2012 66
Bảng 3.19: Tình hình sở hữu và quản lý rừng cộng đồng tại Ba Bể 67
Bảng 3.20: Đặc trưng về tài nguyên rừng cộng đồng tại Ba Bể 70 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

vii
Bảng 3.21: Chia sẻ lợi ích trong rừng cộng đồng tại Ba Bể 72
Bảng 3.22: Những xung đột trong phương thức quản lý rừng cộng đồng
tại huyện Ba Bể 75
Bảng 3.23: Hiệu quả của phương thức quản lý rừng cộng đồng 80
Bảng 3.24: Thực trạng phương thức bảo vệ rừng cộng đồng 82
Bảng 3.25: Phân tích SWOT cho phương thức quản lý rừng cộng đồng 84


1. Đặt vấn đề
Quản lý rừng cộng đồng đang trở thành một trong những phương thức
quản lý rừng phổ biến ở Việt Nam và tồn tại song song với các phương thức
quản lý khác như quản lý rừng của hệ thống sản xuất kinh doanh lâm nghiệp
nhà nước, quản lý rừng tư nhân. Trong thực tiễn, có nhiều hình thái biểu hiện
khác nhau, đa dạng và phong phú của phương thức quản lý rừng này càng
khẳng định vai trò của quản lý rừng cộng đồng như: rừng và đất rừng do cộng
đồng tự công nhận và quản lý từ lâu đời; rừng và đất rừng sử dụng vào mục
đích lâm nghiệp được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng quản lý,
sử dụng ổn định lâu dài; rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp
của các tổ chức nhà nước khoán cho các cộng đồng khoán bảo vệ, khoanh
nuôi và trồng mới theo hợp đồng khoán rừng; rừng và đất rừng của hộ gia
đình và cá nhân là thành viên trong cộng đồng tự liên kết lại với nhau thành
các nhóm cộng đồng (nhóm hộ) cùng quản lý để tạo nên sức mạnh để bảo vệ,
hỗ trợ, đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp.
Trong những năm qua, nhiều chương trình, đề án, dự án về quản lý
rừng cộng đồng của Chính phủ, các tổ chức Quốc tế được thực hiện ở nhiều
nơi mang lại nhiều kết quả. Nhiều hoạt động về quản lý rừng cộng đồng được
thực hiện trên khắp cả nước đã mang lại nhiều thành công. Bài học từ thực
tiễn chỉ ra rằng có nhiều điển hình tốt về quản lý rừng cộng đồng bởi các quy
ước của cộng đồng, nghĩa vụ và quyền lợi công bằng cho các thành viên trong
cộng đồng, các thành viên trong cộng đồng ý thức về rừng bằng sự tự giác
vốn có, bằng sự nghiêm khắc của cộng đồng và bằng sự tín ngưỡng hoặc tâm
linh. Nhưng điều quan trọng nhất đó chính là xác định được quyền sở hữu
rừng cho cộng đồng, xác định loại hình sử dụng đất nhằm mục tiêu lợi ích tối
đa và phân chia lợi ích từ rừng một cách hợp lí nhất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

3
tài về phát triển rừng cộng động, đặc biệt là vấn đề quyền sở hữu và sử dụng
đất rừng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn còn khiêm tốn, chủ yếu là các báo cáo,
đánh giá của các tổ chức nước ngoài tài trợ thực hiện, những giải pháp phát
triển thực sự chưa đem lại hiệu quả như mong đợi. Xuất phát từ những vấn đề
trên, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu phương thức quản lý
rừng cộng đồng trong phát triển lâm nghiệp bền vững tại huyện Ba Bể -
tỉnh Bắc Kạn”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá tình hình sử dụng đất rừng, sự chia sẻ lợi ích của cộng đồng
dân cư trong phát triển lâm nghiệp cộng đồng trên địa bàn huyện Ba Bể để
đưa ra những giải pháp phát triển lâm nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường và
nâng cao đời sống cho cộng đồng dân cư sống cạnh bìa rừng.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng về quyền sở hữu và sử dụng đất rừng của
cộng đồng dân cư tại huyện Ba Bể.
- Phân tích được sự chia sẻ lợi ích của hình thức quản lý rừng dựa vào
cộng đồng tại huyện Ba Bể.
- Xác định được những xung đột về sử dụng, quản lý rừng trong hình
thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại huyện Ba Bể.
- Đánh giá được sự tác động của hình thức quản lý rừng dựa vào cộng
đồng đến đời sống người dân huyện Ba Bể.
- Đề xuất được các định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đưa ra
những những cơ chế về quyền sở hữu và sử dụng đất hữu hiệu đối với cộng
đồng dân cư sống cạnh bìa rừng.
Trong thời gian gần đây, quản lý rừng bền vững (QLRBV) đã trở thành
một nguyên tắc đối với quản lý kinh doanh rừng đồng thời cũng là một tiêu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

5
chuẩn mà quản lý kinh doanh rừng phải đạt tới. Hiện tại có hai định nghĩa
đang được sử dụng ở Việt Nam.
Theo ITTO (tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế), QLRBV là quá trình quản lý
những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu
quản lý rừng đã đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những
sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di
truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không
mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội.
Theo Tiến trình Hensinki, QLRBV là sự quản lý rừng và đất rừng theo
cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả
năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình
thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của
rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác
hại đối với hệ sinh thái khác. Các định nghĩa trên, nhìn chung tương đối dài
dòng nhưng tựu trung lại có mấy vấn đề chính sau:
Quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục
tiêu đề ra (sản xuất gỗ nguyên liệu, gỗ gia dụng, lâm sản ngoài gỗ ; phòng hộ
môi trường, bảo vệ đầu nguồn, bảo vệ chống cát bay, chống sạt lở đất ; bảo
tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài, bảo tồn các hệ sinh thái ).
Bảo đảm sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, cụ thể:
Bền vững về kinh tế là bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài liên tục với
năng suất, hiệu quả ngày càng cao (không khai thác lạm vào vốn rừng; duy trì
và phát triển diện tích, trữ lượng rừng; áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm

Nguyên lý thứ ba là: Sự bình đẳng và công bằng trong sử dụng tài
nguyên rừng ở cùng thế hệ: Đây là một vấn đề khó, bởi vì trong khi cố tạo ra
sự công bằng cho các thế hệ tương lai thì chúng ta vẫn chưa tạo được những
cơ hội bình đẳng cho những người sống ở thế hệ hiện tại. Rawls, 1971 cho
rằng, sự bình đẳng trong cùng thế hệ hàm chứa hai khía cạnh:
- Tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng về sự tự do thích hợp trong
việc được cung cấp các tài nguyên từ rừng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

7
- Sự bất bình đẳng trong xã hội và kinh tế chỉ có thể được tồn tại nếu:
sự bất bình đẳng này là có lợi cho nhóm người nghèo trong xã hội và tất cả
mọi người đều có cơ hội tiếp cận nguồn tài nguyên rừng như nhau.
Nguyên lý thứ tư là tính hiệu quả: Tài nguyên rừng phải được sử dụng
hợp lý và hiệu quả nhất về mặt kinh tế và sinh thái.
1.1.4. Phát triển bền vững trong Lâm nghiệp cộng đồng
Trong chiến lược quản lý tài nguyên rừng, để đạt được mục tiêu bền
vững của nguồn tài nguyên rừng, hiện nay người ta đã sử dụng một số phương
pháp tiếp cận nhằm huy động sự tham gia của các bên liên quan như sau:
Quản lý tài nguyên đất/thiên nhiên dựa vào cộng đồng: Quản lý tài
nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng là chiến lược toàn diện nhằm xác định
những vấn đề mang tính nhiều mặt ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên và
môi trường thông qua sự tham gia tích cực và có ý nghĩa của những cộng
đồng địa phương.
Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên: Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên
là một cách tiếp cận đa nguyên để quản lý tài nguyên thiên nhiên bằng cách kết
hợp nhiều đối tác với nhiều vai trò, với mục đích cuối cùng là bảo vệ môi
trường, quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên và phân chia đồng đều những

Nam” được tổ chức tại Hà Nội tháng 11/2001cho rằng: “Cộng đồng bao gồm
toàn thể những người sống thành một xã hội có những điểm tương đồng về
mặt văn hoá truyền thống, có mối quan hệ sản xuất, đời sống gắn bó với nhau
và thường có danh giới không gian trong một làng bản”.
Theo điều 3 của Luật bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) năm 2004,
thì cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng
một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương.
Như vậy, cộng đồng có thể là cộng đồng dân cư thôn, làng bản, cộng
đồng các dòng họ, các nhóm người có những đặc điểm và lợi ích chung,…
trong phạm vi nghiên cứu này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa cộng đồng địa
phương là thôn, xóm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

9
Quản lý rừng cộng đồng là quản lý tài nguyên rừng mà trong đó phát huy
được năng lực nội sinh của cộng đồng cho hoạt động quản lý. Những giải pháp
quản lý rừng cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của phong tục tập quán,
ý thức tôn giáo, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình,
họ hàng, làng xóm, chính sách pháp luật,… trong khi các nước công nghiệp phát
triển đề cao vai trò cá nhân, thì các nước đang phát triển đặc biệt là vùng Châu Á
- Thái Bình Dương vấn đề gia đình và cộng đồng lại được đánh giá cao.
Trong nhiều trường hợp, quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng
đồng đã đem lại những hiệu quả to lớn cho phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ
môi trường sinh thái.
Quản lý rừng cộng đồng là hoạt động quản lý rừng được thực hiện trên
diện tích được giao cho các hộ gia đình, các nhóm hộ, các tổ chức chính trị xã
hội ở thôn bản, hay cho cả thôn bản. Trên cơ sở giao đất lâm nghiệp, các tổ
chức lâm nghiệp của Nhà nước hỗ trợ cộng đồng thôn bản tự quản lý một

1.2.3. Đặc điểm chủ yếu của LNCĐ
Đặc điểm liên quan đến vai trò của cộng đồng trong quá trình quản lý
tài nguyên rừng:
- Cộng đồng ra các quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định quản
lý rừng. Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào công tác quản lý rừng là
cần thiết ngay từ những bước ban đầu của quá trình lập kế hoạch và ra quyết
định cho tới khi thực thi.
- Cộng đồng tự chịu trách nhiệm về các chi phí, sự may rủi và hưởng lợi
ích từ rừng theo quy định của pháp luật và theo quy ước/hương ước của họ.
Đặc điểm liên quan đến mục đích quản lý rừng: Rừng cộng đồng không
phải sản xuất hàng hoá lâm sản để bán trên thị trường mà chủ yếu là sản xuất
những lâm sản gia dụng, tư liệu tiêu dùng trong đời sống gia đình và cộng
đồng đồng thời bảo vệ môi trường của thôn, đặc biệt là bảo vệ, duy trì nguồn
nước cho cộng đồng, góp phần vào việc đáp ứng những yêu cầu về xã hội như
tín ngưỡng, truyền thống văn hoá Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

11
Đặc điểm về sử dụng lao động và nguồn lực để quản lý rừng: Sử
dụng nguồn vốn và lao động hiện có của cộng đồng là chủ yếu kết hợp với
sự giúp đỡ tài chính của Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ trong nước
và ngoài nước.
Đặc điểm về hoạt động quản lý rừng: Hoạt động quản lý rừng tương
đối linh hoạt, chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh
tự nhiên rừng. Các hoạt động thực tiễn của LNCĐ chủ yếu trong phạm vi cá
nhân, hộ gia đình và cộng đồng thôn. Nó được thể hiện thông qua hệ thống
trang trại nông lâm nghiệp hộ gia đình, rừng cộng đồng, chế biến sản phẩm,
dịch vụ trong phạm vi thôn và hộ gia đình. Ngoài ra còn bao gồm các hoạt

thả gia súc.
Cộng đồng dân cư thôn có nhu cầu sử dụng một số khu rừng vì lợi ích
chung của cộng đồng như rừng bảo vệ nguồn nước, rừng gỗ quý, rừng thiêng,
rừng ma gắn liền với phong tục tập quán, tín ngưỡng của các đồng bào dân tộc.
- Tùy theo vị trí, đặc điểm và khả năng kinh doanh của cộng đồng, rừng
cộng đồng sẽ dần có khả năng sản xuất hàng hoá. Cộng đồng sẽ hình thành
các tổ chức kinh tế để kinh doanh hàng hoá dựa trên cơ sở tài nguyên do cộng
đồng quản lý theo đúng các quy ước của cộng đồng và luật pháp của Nhà
nước. Do khả năng sản xuất hàng hoá còn thấp nên những lợi ích mà các
thành viên cộng đồng được hưởng lợi thường là những sản phẩm được khai
thác từ rừng cộng đồng.
Quản lý rừng cộng đồng được thực hiện chủ yếu thông qua sử dụng các
nguồn lực sẵn có của cộng đồng kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước .
Đây là tiêu chí quan trọng để phân biệt rừng cộng đồng với rừng của
các tổ chức kinh tế khác. Phần lớn các cộng đồng sử dụng nguồn lao động của
chính cộng đồng để bảo vệ và phát triển rừng. Một vấn đề mang tính đặc thù
là rừng cộng đồng chủ yếu đáp ứng nhu cầu về lâm sản gia dụng, bảo vệ môi
trường sản xuất và sinh sống ở cộng đồng nên nhìn chung, cộng đồng không
có doanh thu và lợi nhuận đáng kể từ rừng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

13
Cộng đồng không có sẵn nguồn tài chính thu từ rừng để trả công lao
động. Tuy nhiên, cộng đồng dân cư thôn có nguồn lao động dồi dào, có những
kiến thức bản địa tốt về lâm sinh, nông lâm kết hợp và quản lý rừng. Mặc dù
dân còn nghèo, nhưng nếu biết huy động tốt các nguồn lực lao động và kiến
thức bản địa cũng sẽ tạo nên một nguồn lực rất quan trọng để phát triển rừng
cộng đồng. Mặt khác, Chính phủ có nhiều chính sách hỗ trợ để tăng cường sự

lý bảo vệ rừng thôn, hình thành nhóm hộ gia đình, các câu lạc bộ trong cộng
đồng để luân phiên tuần tra rừng hoặc huy động các tổ chức đoàn thể cấp
cộng đồng tham gia bảo vệ rừng. Các hình thức tổ chức cứng nhắc như kiểu
làm công, thuê khoán thì đó không phải là quản lý rừng cộng đồng.
1.3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới
Trong giai đoạn hiện nay quản lý rừng cộng đồng đang được xem như
là một giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, hỗ trợ
giải quyết tình trạng suy thoái tài nguyên, đã có không ít những mô hình quản
lý tài nguyên cộng đồng được hình thành ở Trung Quốc, Thái Lan Đây là
những bài học quý giá cho quá trình xây dựng những giải pháp quản lý bền
vững tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam.
Ở Canada, trong bài viết của Sherry, E,1999 về quản lý rừng cộng
đồng ở vườn quốc gia (VQG) Vutut vừa là một khu bảo tồn thiên nhiên
(BTTN) vừa là khu di sản văn hoá của người thổ dân ở vùng Bắc Cực. Ban
quản lý VQG đã phối hợp với chính quyền và thổ dân huy động lực lượng
đã làm thay đổi chiều hướng bảo tồn tự nhiên hoang dã và tăng các giá trị
của VQG. Sự tham gia quản lý rừng cộng đồng đã kết hợp được các mối
quan tâm và kiến thức bản địa với mục tiêu bảo tồn. Ban quản lý VQG giúp
về kỹ thuật xây dựng các mô hình bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế
xã hội, còn dân bản địa có thể thực hiện các mô hình đó. Quản lý rừng cộng
đồng đã giải quyết hài hoà mâu thuẫn giữa chính sách của chính quyền và
bản sắc truyền thống của người dân, đảm bảo cho sự thành công của công Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

15
tác bảo tồn hoang dã và bảo tồn các di sản văn hoá. Quản lý rừng cộng
đồng tại VQG Vutut được đánh giá là rất thành công, theo tác giả thì nó

thường rất thành thạo khi đóng vai trò là người bảo vệ hoặc tham gia quản lý
khu Bảo tồn. Poffenberger, M. và McGean, B. 1993. trong báo cáo “Liên
minh cộng đồng quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại VQG
Dong Yai nằm ở Đông Bắc và khu rừng phòng hộ Nam Sa ở phía Bắc Thái
Lan. Đó là những vùng quan trọng đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học,
đồng thời cũng là những vùng có nhiều điểm độc đáo về kinh tế xã hội, về thể
chế truyền thống của cộng đồng người dân địa phương trong quản lý và sử
dụng tài nguyên thiên nhiên. Tại Dong Yai, người dân đã chứng minh được
khả năng của họ trong việc tự tổ chức các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối
hợp với Cục Lâm nghiệp Hoàng gia xây dựng quản lý hệ thống quản lý rừng
đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái cũng như phục vụ lợi ích của người
dân trong khu vực. Tại Nam Sa, cộng đồng dân cư cũng rất thành công trong
công tác quản lý rừng phòng hộ. Họ khẳng định rằng nếu Chính phủ có chính
sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực thì họ chắc chắn sẽ thành công
trong việc kiểm soát các hoạt động khai thác quá mức nguồn tài nguyên rừng,
các hoạt động phá rừng và tác động tới môi trường.
Quản lý rừng cộng đồng ở Thái Lan có thể trở thành bài học kinh
nghiệm quý báu cho Việt Nam, bởi Thái Lan cũng là một nước vùng Đông
Nam Á, có một số đặc điểm tương đồng với Việt Nam về điều kiện tự nhiên
và văn hoá xã hội.
1.3.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
1.3.2.1. Quá trình phát triển lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam
Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đã là yếu tố quan trọng tạo
nên cơ sở cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ và phát
triển tài nguyên rừng. Vì vậy, vấn đề phát huy vai trò của các cộng đồng để
quản lý nguồn tài nguyên này là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền
thống, vừa có thể tạo ra một cách quản lý tài nguyên có hiệu quả và bền vững
hơn, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới.

Trích đoạn Đặc điểm chung của xã Bành Trạch liên quan đến quản lý Phương thức quản lý rừng tư nhân Phương thức quản lý rừng cộng đồng Xung đột giữa hộ gia đình, cộng đồng với nhà nước Xung đột giữa các hộ gia đình trong quản lý rừng cộng đồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status