1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG………………
LUẬN VĂN Mối quan hệ giữa hợp đồng thuê tàu chuyến với hợp đồng
mua bán quốc tế và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá
L
L
Ờ
Ờ
,
gấp ba lần so với diện tích đất liền. Bờ biển Việt Nam trải dài 3260 km gần
tuyến đường hàng hải quốc tế xuyên Á- Âu và khu vực. Nhờ vị trí có điều kiện
tự nhiên lý tưởng này mà hàng năm Việt Nam xuất khẩu và nhập khẩu khoảng
95 triệu tấn hàng hoá thông qua hệ thống cảng biển. Trong số đó, chiếm tỷ trọng
lớn là hàng lỏng như xăng dầu, dầu thô , hàng khô như gạo, cafe, than, xi
măng Điều này cho thấy vai trò quan trọng của vận tải biển đối với sự phát
triển giao lưu thương mại giữa Việt Nam và các nước khác.
Trong vận tải đường biển, những hàng hoá có tính đồng nhất, khối lượng
lớn thường được chuyên chở bằng tàu chuyến. Song đối với các doanh nghiệp
Việt Nam, nhìn chung nghiệp vụ thuê tàu chuyến khá phức tạp, đòi hỏi người
thuê tàu phải có sự am hiểu cả về chuyên môn lẫn thị trường thuê tàu. Thuê tàu
chuyến là hoạt động không thể tách khỏi chuỗi hoạt động thương mại quốc tế, đó
là: hoạt động mua bán, vận tải và bảo hiểm. Khi ký kết hợp đồng thuê tàu
chuyến, người ta phải căn cứ vào hợp đồng mua bán quốc tế và hợp đồng bảo
hiểm hàng hoá. Nếu những quy định trong hợp đồng thuê tàu chuyến không
thống nhất với quy định trong hợp đồng mua bán quốc tế và trong hợp đồng bảo
hiểm hàng hoá, thì sẽ phát sinh tranh chấp mà đôi khi hậu quả của nó là rất lớn.
Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hợp đồng thuê tàu chuyến với hợp
đồng mua bán quốc tế và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá, đồng thời đưa ra một số
lưu ý về những tranh chấp phát sinh từ mối quan hệ giữa ba hợp đồng, giúp bạn
đọc hiểu rõ hơn về mối quan hệ trên là rất cần thiết.
Kết cấu của đề tài nghiên cứu: gồm ba chương
Chương 1: Khái quát chung về các hợp đồng.
3
Chương 2: Mối quan hệ giữa hợp đồng thuê tàu chuyến với hợp đồng mua bán
quốc tế và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường
biển.
Chương 3: Một số lưu ý về những tranh chấp thường phát sinh từ mối quan hệ
C
C
h
h
ư
ư
ơ
ơ
n
n
g
gI
I:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC HỢP ĐỒNG
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, giao lưu thương mại và
dịch vụ giữa các quốc gia phát triển không ngừng. Hoạt động thương mại và dịch
vụ không chỉ dừng lại ở các nước trong khu vực mà còn vươn tới các nước trên
toàn thế giới. Ngay tại thị trường Việt nam, người tiêu dùng có thể mua những
sản phẩm được sản xuất tại Châu Âu ,Châu Mỹ, Châu Úc với chất lượng cao
và giá thành vừa phải. Rồi những sản phẩm đặc trưng của Việt nam như cà phê,
lúa gạo cũng có mặt trên thị trường các nước khác nhằm đáp ứng nhu cầu của
người tiêu dùng. Kết quả này có được là nhờ sự đóng góp không nhỏ của ngành
Giao thông –Vận tải, đặc biệt là vận tải biển. Với ưu thế vượt trội của mình như:
năng lực vận chuyển hàng hoá rất lớn (có tàu tới 500.000 tấn), các tuyến đường
chuyên chở hầu hết là tuyến đường giao thông tự nhiên, giá thành vận chuyển
thấp vận tải biển luôn chiếm khoảng 75-80% khối lượng vận chuyển hàng hoá
tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể để điền thêm những điều khoản vào chỗ
trống đồng thời gạch đi những câu những từ không có thoả thuận và bổ sung
những điều không có trong mẫu. Hợp đồng thuê tàu chuyến mẫu chỉ mang tính
chất bắt buộc khi hai bên đã thống nhất ký kết.
2. Nội dung cơ bản của hợp đồng thuê tàu chuyến
Mỗi loại hàng hoá có tính chất khác nhau đòi hỏi điều kiện chuyên chở
phù hợp với tính chất hàng hoá đó. Vì vậy ,hợp đồng chuyên chở tương ứng
cũng gồm những điều khoản khác nhau quy định rõ trách nhiệm và quyền lợi của
6
các bên. Song nhìn chung nội dung cơ bản của hợp đồng thuê tàu chuyến gồm
các điều khoản chủ yếu sau:
2.1. Chủ thể của hợp đồng
Chủ thể của hợp đồng thuê tàu chuyến gồm: Người cho thuê tàu là chủ
tàu (ship-owner) hoặc là người thuê tàu của người khác để kinh doanh lấy cước
(carrier). Người thuê tàu là người xuất khẩu hoặc là người nhập khẩu tuỳ theo
điều kiện cơ sở giao hàng được áp dụng trong hợp đồng mua bán quốc tế .
Nếu đại lý hoặc người môi giới được uỷ thác để ký hợp đồng thuê tàu thì
phải ghi rõ ở cuối hợp đồng dòng chữ “as agent only” (chỉ là đại lý) nhằm xác
định tư cách của người ký hợp đồng.
2.2. Điều khoản về tàu
Đây là điều khoản quan trọng bởi vì tàu là công cụ để vận chuyển hàng
hoá, do đó điều khoản này quy định rất cụ thể và rõ ràng các đặc trưng cơ bản
của con tàu chuyên chở :
- Tên tàu: ví dụ The MS Love River
Nếu chủ tàu muốn giành được quyền thay thế tàu thì bên cạnh con tàu sẽ ghi
thêm “hoặc một tàu thay thế khác – or/and Substitute sister ship”. Khi phải thay
thế tàu, chủ tàu phải thông báo trước cho người thuê biết và đảm bảo tàu thay thế
phải có những đặc điểm kỹ thuật tương tự như tàu cũ và phải chở hết hàng hoá.
- Quốc tịch tàu: thể hiện qua cờ tàu
điểm của hàng hoá. Nếu người thuê tàu muốn giành quyền lựa chọn hàng (cargo
8
option) thì cần chú ý ghi chữ “và/ hoặc” để tránh tranh chấp sau này.
VD:10 000MT of Rice or/ and Maize
Căn cứ vào đặc điểm của hàng hoá mà người ta tính số lượng hàng hoá
chuyên chở, có thể tính theo trọng lượng hay thể tích. Song để thuận tiện cho các
chủ thể của hợp đồng, người ta ít khi quy định chính xác số lượng hàng hoá thuê
chuyên chở mà thường kèm theo một tỷ lệ dung sai (tolerance).
VD: 10 000MT of Rice or/ and Maize 5%
Và khi gửi thông báo sẵn sàng xếp hàng, thuyền trưởng sẽ là người tuyên
bố chính thức số lượng hàng hoá chuyên chở. Người thuê tàu có trách nhiệm
cung cấp đầy đủ toàn bộ số lượng hàng hoá được thông báo (full and complete
cargo). Nếu số lượng hàng hoá người thuê tàu giao ít hơn so với số lượng hàng
hoá quy định, thì người chuyên chở có quyền thu tiền cước khống (Dead
Freight). Còn nếu người chuyên chở không nhận hết số lượng hàng hoá quy định
thì phải chịu những chi phí liên quan đến số hàng hoá bị bỏ lại (như chi phí vận
chuyển và lưu kho lưu bãi số hàng hoá đó).
2.5. Điều khoản về cảng xếp-dỡ
Trong hợp đồng có thể quy định tên một hoặc một vài cảng xếp hàng (Port
of shipment), một hoặc một vài cảng dỡ hàng (Port of destination).Tuy nhiên cả
cảng xếp hàng và cảng dỡ hàng phải là cảng an toàn về mặt hàng hải và an toàn
về mặt chính trị xã hội. Có nghĩa là về mặt hàng hải phải đảm bảo cho tàu ra, vào
và đậu một cách thuận tiện “always afloat or safe aground” (tàu luôn luôn đậu
nổi hoặc chạm đất an toàn); Về mặt chính trị xã hội, cảng không có chiến tranh,
binh biến, biểu tình, bãi công.
Nếu quy định một số cảng bốc dỡ hàng hoặc khu vực cảng bốc dỡ (Range
of port), thì phải quy định thêm thứ tự địa lý của cảng xếp dỡ (Port to be in
9
+ Thời gian thanh toán tiền cước: có thể quy định theo các cách sau:
- Cước trả trước: là cước phí thanh toán ở cảng bốc hàng (freight payable
at port of loading), tức là toàn bộ tiền cước phải thanh toán khi ký vận đơn (on
signing of loading) hoặc sau khi ký vận đơn mấy ngày.
- Cước thu sau: là cước thanh toán ở cảng đến (freight payable at port of
destination). Thời gian thanh toán cước phí cảng dỡ được quy định cụ thể hơn
như: cước phí trả trước khi dỡ hàng (freight payable before breaking bulk); cước
phí trả sau khi dỡ hàng xong (freight payable after complete of discharge); cước
phí trả cùng việc dỡ hàng trong mỗi ngày (freight payable concurent with
discharge).
Trên thực tế, cách tốt nhất là quy định cước phí trả trước khoảng 80-90%
tổng số tiền cước, số tiền còn lại sẽ để tính thưởng phạt xếp dỡ.
Và trên hợp đồng còn quy định địa điểm thanh toán, tỷ giá hối đoái của
đồng tiền thanh toán, phương thức thanh toán, tiền cước phí ứng trước
2.7. Điều khoản về chi phí bốc dỡ
Chi phí bốc dỡ chiếm tỷ lệ khá cao trong giá cước chuyên chở hàng hoá.
Thông thường có các điều kiện chi phí bốc dỡ sau:
+ Điều kiện chi phí bốc dỡ theo tàu chợ: nghĩa là chủ tàu có trách
nhiệm bốc dỡ hàng hoá, chủ hàng không phải bận tâm đến chi phí xếp dỡ vì chi
phí đã được tính gộp cả vào cước thuê tàu.
+ Điều kiện miễn chi phí bốc hàng cho người chuyên chở (free in=FI):
nghĩa là chủ tàu được miễn chi phí xếp hàng lên tàu, nhưng vẫn phải chịu chi phí
dỡ hàng ra khỏi tàu. Bên cạnh đó cũng cần quy định rõ chi phí sắp đặt hàng
(Stowage) và san cào hàng (Trimming) trong hầm tàu. Có thể quy định:
11
FIS (Free in and stowage): miễn chi phí bốc hàng và sắp đặt hàng trong hầm tàu
cho người chuyên chở, hoặc
FIT (Free in and trimming): miễn chi phí bốc hàng và san cào hàng trong hầm
tàu cho người chuyên chở
loại ngày làm hàng sau đây:
+ Ngày theo lịch( days): là ngày liên tục 24 tiếng tính từ 0
h
đêm hôm
trước đến 0
h
đêm hôm sau, gồm cả ngày làm vịêc, ngày chủ nhật và ngày lễ.
+ Ngày làm việc(Working days): là những ngày làm việc chính thức tại
các cảng do luật pháp của từng nước quy định.
VD: ở Việt nam ngày làm việc tính từ thứ 2 đến thứ 6, giờ làm việc bắt đầu từ 8
h
đến 4
h
30 chiều
+ Ngày làm việc 24 tiếng (Working days of 24 hours ): là khi làm 24
tiếng mới tính là một ngày cho dù trên thực tế phải mất nhiều ngày mới làm đủ
24 tiếng
+ Ngày làm việc 24 tiếng liên tục (Working days of 24 consecutive hours
): là ngày làm việc 24 giờ liên tục bất kể ngày hay đêm, dù thời tiết có thuận lợi
hay không, không tính chủ nhật ngày lễ.
+ Ngày làm việc tốt trời (Weather working days): là những ngày thời tiết
tốt cho phép tiến hành công việc bốc dỡ hàng hóa. Ngày mưa gió bão là thời
tiết xấu không thể tiến hành bốc dỡ hàng hoá nên không tính.
Tuy nhiên, theo hợp đồng Nubaltwood, nếu số giờ làm việc bị ngưng trệ
do thời tiết ít hơn 1/2tổng số giờ làm việc chính thức của mỗi ngày thì ngày đó
13
sẽ được tính là 1 ngày làm việc đầy đủ. Ngược lại, nếu số giờ bị ngưng trệ này
nhiều hơn 1/2tổng số giờ làm việc của một ngày theo hợp đồng, ngày đó sẽ được
chiều cùng ngày; Nếu NOR được đưa và chấp nhận vào buổi chiều ngày
làm việc thì thời gian bốc dỡ bắt đầu tính vào lúc 6
h
sáng ngày hôm sau.
Nếu người thuê tàu tiến hành công việc bốc dỡ hàng hoá nhanh hơn thời
gian quy định trong hợp đồng thì người thuê tàu sẽ được chủ tàu thưởng một
khoản tiền gọi là tiền thưởng bốc dỡ nhanh (Despatch money). Ngược lại, nếu
người thuê tàu tiến hành công bốc dỡ chậm hơn thời gian quy định trong hợp
đồng thì người thuê tàu sẽ bị chủ tàu phạt một khoản tiền gọi là tiền phạt bốc dỡ
chậm (Demurrage money). Mức tiền thưởng thông thường chỉ bằng 1/2 mức tiền
phạt.
Nguyên tắc của phạt bốc dỡ chậm là khi bị phạt thì luôn luôn bị phạt
(Once on demurrage, always on demurrage), tức là khi đã bị phạt thì những ngày
tiếp theo kể cả chủ nhật, ngày lễ, ngày xấu trời đều bị phạt.
Nhưng tiền thưởng lại quy định theo hai trường hợp: thưởng cho tất cả
thời gian tiết kiệm được( all time saved) và thưởng cho thời gian làm việc tiết
kiệm được (working time saved).
2.9. Điều khoản về trách nhiệm và miễn trách của người chuyên chở
Trách nhiệm của người chuyên chở:
+ Phải cung cấp tàu có đủ khả năng đi biển: nghĩa là tàu phải bền chắc,
chịu đựng được sóng gió; được trang bị biên chế đầy đủ và các hầm quầy hàng
phải thích ứng với việc chuyên chở hàng hoá
+ Phải có trách nhiệm hướng dẫn hàng hoá lên xuống tàu và bảo quản
hàng hoá trong suốt quá trình vận chuyển kể từ khi nhận hàng hoá để chuyên chở
cho tới khi giao xong hàng .
15
+ Phải chịu trách nhiệm đối với những tổn thất xẩy ra với hàng hoá do lỗi
lầm sơ suất hoặc khuyết điểm của thuyền trưởng và thuỷ thủ trong thuật đi biển
và quản trị tàu.
không có quy định gì khác.
+ Là hợp đồng song vụ (synallagmtic contract): có nghĩa là có hai nghĩa
vụ, bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng theo như thoả thuận trong hợp đồng và
bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng đầy đủ và kịp thời.
+ Là hợp đồng đối thường (onerous contract): hay còn gọi là hợp đồng có
bồi thường cho nhau, bên bán giao hàng hoá và nhận được một số tiền tương
ứng, còn bên mua nhận hàng hoá và trả một số tiền có giá trị tương đương.
+ Có sự di chuyển quyền sở hữu .
Hợp đồng mua bán quốc tế là một hợp đồng mua bán có yếu tố nước ngoài, được
thể hiện ở chỗ:
+ Hàng hoá được di chuyển ra ngoài biên giới quốc gia.
+ Đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một trong hai bên tham gia ký
kết hợp đồng.
+ Các bên tham gia ký kết hợp đồng có trụ sở kinh doanh ở các nước khác
nhau.
17
Tuy nhiên đặc điểm thứ nhất có thể không xẩy ra khi hợp đồng mua bán
quốc tế được ký kết giữa một xí nghiệp trong khu chế xuất với một xí nghiệp
ngoài khu chế xuất.
Vậy hợp đồng mua bán quốc tế là một văn bản có giá trị pháp lý điều
chỉnh mối quan hệ giữa các bên ký kết hợp đồng. Nó buộc chủ thể của hợp đồng
phải thực hiện đúng như nội dung của hợp đồng. Nếu bên nào không thực hiện
đúng như quy định của hợp đồng có nghĩa là vi phạm hợp đồng và sẽ phải chịu
hoàn toàn trách nhiệm đối với những hậu quả xẩy ra do hành động vi phạm của
mình gây nên.
2. Các điều khoản quan trọng trong hợp đồng mua bán quốc tế
2.1. Chủ thể của hợp đồng
Chủ thể của hợp đồng là Bên bán (bên xuất khẩu) và Bên mua (bên nhập
khẩu). Bên bán giao một giá trị nhất định và để đổi lại, bên mua phải trả một đối
quốc tế người ta vận dụng những phương pháp xác định phẩm chất sau:
+ Dựa vào mẫu hàng (Sales by sample): nghĩa là chất lượng của hàng hoá
được xác định căn cứ vào chất lượng của một số ít hàng hoá, gọi là mẫu hàng.
Mẫu này có thể do bên bán đưa ra ; hoặc do bên mua đưa ra và bên bán sẽ sản
xuất ra 3 mẫu gọi là 3 mẫu đối (counter sample) và người ta ký kết hợp đồng trên
cơ sở mẫu đối, bởi vì chỉ có mẫu do bên bán sản xuất mới nói lên năng lực sản
xuất của bên bán.
19
Cần làm thành 3 mẫu hàng: Bên bán giữ một để căn cứ vào đó giao hàng,
Bên mua giữ một để đối chiếu và một mẫu được giao cho bên thứ ba do hai bên
chỉ định để khi cần thì lấy ra làm chứng.
VD: Quality as per sample, submitted by the Seller, signed and sealed by both
parties, in possession of the Buyer, the Seller and Vinacontrol (54 Trân Nhân
Tông-Ha noi).
+ Dựa vào phẩm cấp (category) hoặc tiêu chuẩn (standard)
Tiêu chuẩn là những điều mà một cơ quan có thẩm quyền quy định về các
chỉ tiêu chất lượng, phương pháp sản xuất, phương pháp đóng gói bao bì hàng
hoá và trên cơ sở ấy, người ta mới chia ra hàng loại 1,2,3 gọi là phẩm cấp của
hàng hoá. Khi ký hợp đồng dựa vào tiêu chuẩn và phẩm cấp cần:
- Quy định số hiệu của tiêu chuẩn đó: mỗi số hiệu nói lên một tiêu chuẩn
- Quy định năm ban hành tiêu chuẩn đó: năm ban hành tiêu chuẩn khác
nhau thì phẩm chất hàng hoá khác nhau
- Người ban hành tiêu chuẩn
VD: Quality to be conformed to the Vietnam State’s Standard No TCVN 321
published in 2001
+ Dựa vào chỉ tiêu đại khái quen dùng
+ Dựa vào hàm lượng chất chủ yếu: đối với những hàng hoá nhất là hàng
nông sản, khoáng sản, người ta quy định hàm lượng của chất chủ yếu. Hàm
lượng này càng nhiều thì càng dễ phán đoán phẩm chất của hàng hoá .
chiếu đến một tài liệu kỹ thuật như bản vẽ kỹ thuật, sơ đồ lắp ráp, bản thuyết
minh tính năng và tác dụng, bản hướng dẫn sử dụng. Vì vậy, cần chú ý là dựa
vào tài liệu kỹ thuật nào, do ai xuất bản, năm xuất bản?
21
+ Dựa vào mô tả hàng hoá (sales by description): người ta mô tả hàng hoá
rất đầy đủ, người bán chỉ cần làm theo mô tả đó là đã phù hợp với hợp đồng.
Vậy chúng ta có rất nhiều cách để quy định chất lượng của hàng hoá khi
ký kết hợp đồng. Lựa chọn cách quy định nào phải dựa vào tập quán sử dụng đối
với hàng hoá đó.
2.4. Điều khoản số lượng
Là điều khoản nói lên mặt lượng của đối tượng mua bán. Trong điều khoản
này cần quan tâm đến đơn vị tính số lượng (hoặc trọng lượng của hàng hoá),
phương pháp quy định số lượng và phương pháp xác định trọng lượng.
+ Đơn vị tính số lượng: tuỳ theo tính chất và đặc điểm của hàng hoá mà
người ta áp dụng đơn vị tính khác nhau. Đơn vị đó có thể là cái, chiếc (piece,
unit), hay đơn vị đo chiều dài, đơn vị đo diện tích, đơn vị đo khối lượng, đơn vị
đo số lượng tập hợp. Bên cạnh đó, đã xẩy ra những tranh chấp do có sự hiểu trái
ý nhau về đơn vị đo, bởi vì nhiều đơn vị đo lường có cùng một tên gọi nhưng ở
mỗi nước lại có nội dung khác nhau.
VD : Một bao bông ở Ai Cập là 330kg ,ở Braxin là 180kg
Một bì cà phê ở các nước thường là 60 cân Anh(27,13kg), trong khi đó ở
Côlômbia lại là 70 cân Anh (31,7kg)
Và một nguyên nhân nữa là sự áp dụng đồng thời nhiều hệ thống đo lường
trong buôn bán quốc tế. Ngoài đơn vị thuộc mét hệ, người ta còn dùng hệ thống
đo lường của Anh, Mỹ
VD: Metric ton (MT)= 1000kg, Long ton (LT)= 1016kg, Short ton (ST)= 907kg
Vì vậy, phải quy định rất cẩn thận về đơn vị số lượng
+ Phương pháp quy định số lượng:
22
+ Chất lượng của bao bì: có thể quy định theo một trong hai cách sau:
- Chất lượng của bao bì phải phù hợp với phương thức vận tải hàng hoá.
Sở dĩ, người ta có thể thoả thuận chung chung như vậy mà vẫn hiểu nhau được là
vì, trong buôn bán quốc tế đã hình thành một số tập quán quốc tế về các loại bao
bì này
VD: Theo tập quán, bao bì đường biển phải đáp ứng 4 yêu cầu sau: Chắc, bền để
chống đỡ sự va chạm; Thường có hình hộp chữ nhật; Chiều dày của các cạnh
không bao giờ là số lẻ vì số lẻ bao nhiêu cũng tính là số chẵn; Không đóng
chung nhiều loại hàng hoá có suất cước khác nhau vào cùng một kiện hàng.
- Quy định cụ thể: vật liệu làm bao bì, kích thước của bao bì, hình dáng
của bao bì, sức chứa của bao bì, vật liệu gia cố thêm.
+ Phương thức cung cấp bao bì: bao bì do người bán cung cấp hay do
người mua cung cấp?
+ Phương pháp tính giá bao bì: giá của bao bì đã được tính vào trong giá
của hàng hoá chưa? Nó được tính như giá hàng hoá hay được tính riêng?
2.6. Điều kiện giao hàng
Nội dung cơ bản của điều kiện giao hàng là sự xác định thời hạn giao hàng
và điạ điểm giao hàng, sự xác định phương thức giao hàng và việc thông báo
giao hàng.
+ Thời hạn giao hàng: là thời hạn mà người bán phải hoàn thành nghĩa vụ
giao hàng. Nếu các bên giao dịch không có thoả thuận gì khác, thời hạn này cũng
24
là lúc di chuyển rủi ro và tổn thất về hàng hoá từ người bán sang người mua.
Thông thường, có ba kiểu quy định về thời hạn giao hàng :
- Thời hạn giao hàng có định kỳ:
VD: giao hàng vào ngày 31/12/2002; hay giao hàng không chậm qua ngày
31/12/2002.
- Thời hạn giao hàng ngay:
- Thời hạn giao hàng không định kỳ:
xác định mức giá, cơ sở của giá cả và việc giảm giá.
+ Đồng tiền tính giá: có thể là đồng tiền của nước người xuất khẩu hay
của nước người nhập khẩu hoặc của nước người thứ ba. đồng tiền tính giá có thể
trùng với đồng tiền thanh toán. nếu không trùng thì phải quy định tỷ giá hối đoái
giữa hai đồng tiền.
+ Phương pháp quy định giá: trên hợp đồng, giá có thể là:
- Giá cố định (fixed price): là giá cả được khẳng định ngay từ khi ký kết
hợp đồng, trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng giá này không đổi.
- Giá linh hoạt (flexible price): là giá đã được ký kết vào lúc thành lập
hợp đồng nhưng giá này còn được xem xét lại nếu gặp một điều kiện nào đó.
- Giá trượt (sliding price): là giá được xác định ngay khi ký kết hợp đồng
nhưng người ta xác định những thành phần cấu tạo nên giá đó và khi thanh toán
người ta tính toán di động theo với mức thay đổi của các tỷ lệ các yếu tố cấu
thành.