z
LUẬN VĂN:
MỐI QUAN HỆ GIỮA TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI CHỦ
NGHĨA MÁC
I. MỐI QUAN HỆ GIỮA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI CHỦ
NGHĨA MÁC - LÊ-NIN.
1 - Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là đỉnh cao của tư duy nhân loại; là thế giới quan,
phương pháp luận khoa học và cách mạng, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân
của quan niệm đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
2 - Tư tưởng Hồ Chí Minh là "kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại".
- Ở luận điểm này, có hai vấn đề cần làm rõ:
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, lấy chủ
nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là sự kế thừa,
phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nổi bật là chủ nghĩa yêu nước,
tinh thần đoàn kết dân tộc, và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, cả phương Đông và
phương Tây. Hồ Chí Minh đã từng tỏ rõ thái độ của mình đối với việc học tập, tiếp thu
những học thuyết của các lãnh tụ chính trị, xã hội, tôn giáo trong lịch sử. Người nói:
"Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê-su có
ưu điểm là lòng nhân ái cao cả.
Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn
Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta.
Khổng Tử, Giê-su, C. Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung
đó sao? Họ đều muốn "mưu hạnh phúc cho loài người, mưu hạnh phúc cho xã hội ".
Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy".
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong hệ tư tưởng Mác - Lê-nin, bắt nguồn
chủ yếu từ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhưng không hoàn toàn đồng nhất với chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, mà là sự tổng hòa, sự kết hợp giữa tinh hoa văn hóa truyền thống Việt
Nam, tinh hoa văn hóa nhân loại với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trên nền tảng chủ nghĩa
Mác - Lê-nin.
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin Vậy sự vận dụng và phát triển sáng tạo đó như thế nào? Ngay từ năm 1924, sau khi đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trở thành một cán
bộ của Đảng Cộng sản Pháp và của Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh đã vạch rõ sự
khác nhau giữa thực tiễn của các nước tư bản phát triển ở châu Âu mà C. Mác, Ph.
chủ nghĩa thực dân Pháp đối với các dân tộc thuộc địa; nêu rõ nỗi đau khổ, của kiếp nô
lệ, nguyện vọng khát khao được giải phóng và những cuộc đấu tranh của các dân tộc
thuộc địa. Đây là những tài liệu “có một không hai” về chủ nghĩa thực dân; ở đó, sự
phân tích về chủ nghĩa thực dân của Hồ Chí Minh đã vượt hẳn những gì mà những nhà
lý luận mác-xít đề cập đến(f). Những luận điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa thực
dân, đặc biệt là hình ảnh về "con đỉa hai vòi", "con chim hai cánh", đã không chỉ có tác
dụng thức tỉnh các dân tộc thuộc địa, mà còn cảnh tỉnh các đảng cộng sản ở chính
quốc.
Hồ Chí Minh là người chiến sĩ tiên phong trong phê phán chủ nghĩa thực dân,
đồng thời cũng là người lãnh đạo dân tộc mình thi hành bản án chôn vùi chủ nghĩa thực
dân ở Việt Nam, mở đầu cho thời kỳ sụp đổ của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới.
Đề cương Về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I. Lê-nin, viết năm 1920, đã
thức tỉnh Nguyễn Ái Quốc, đưa Người đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vì đây là chủ
nghĩa duy nhất quan tâm đến vấn đề thuộc địa. Nhưng vượt trên những hạn chế lúc bấy
giờ trong nhận thức và đánh giá về phong trào cách mạng thuộc địa: Cách mạng thuộc
địa phụ thuộc vào cách mạng chính quốc, là "hậu bị quân" của cách mạng vô sản chính
quốc; cách mạng chính quốc thắng lợi thì các thuộc địa mới được giải phóng, Hồ Chí
Minh vốn là người dân thuộc địa, hiểu sâu sắc khát vọng và tiềm năng, sức mạnh to lớn
của các dân tộc thuộc địa, nên đã nêu lên luận điểm: Cách mạng giải phóng dân tộc ở
các nước thuộc địa quan hệ chặt chẽ với cách mạng chính quốc, nhưng không hoàn
toàn phụ thuộc vào cách mạng chính quốc. Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ
thuộc có thể "chủ động đứng lên, đem sức ta mà giải phóng cho ta", giành thắng lợi
trước cách mạng chính quốc và qua đó, thúc đẩy cách mạng chính quốc.
- Khi phân tích xã hội của các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng
quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách sáng
tạo, chủ yếu xuất phát từ mâu thuẫn cơ bản của các nước thuộc địa, đó là mâu thuẫn
giữa chủ nghĩa đế quốc, thực dân thống trị và bè lũ tay sai với toàn thể nhân dân, dân tộc, không phân biệt giai cấp, tôn giáo Theo Người, ở Việt Nam cũng như ở các nước
xây dựng lực lượng vũ trang toàn dân với ba thứ quân chủ lực, địa phương, dân quân tự
vệ; về nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, hiện đại
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sau khi cách mạng vô sản thắng
lợi, giai cấp vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên chính vô sản. Vận dụng sáng tạo quan
điểm đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, một cuộc cách mạng từ giải phóng dân tộc
mà phát triển lên, Hồ Chí Minh cho rằng, "mục đích của Quốc tế Cộng sản là làm thế
giới vô sản cách mạng, thiết lập vô sản chuyên chính", nhưng chúng ta phải căn cứ vào
trình độ chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước mà đề ra đường lối, chiến lược cách
mạng phù hợp, "chứ không phải nước nào cũng phải làm cách mạng vô sản, lập chuyên
chính như nhau". Vì vậy, ngay từ Chánh cương vắn tắt (1930), Người đã nêu: Thiết lập
Chính phủ công nông binh; tổ chức ra quân đội công nông. Tại Hội nghị Trung ương 8
(tháng 5-1941), Người đề ra chủ trương thành lập "một nước Việt Nam dân chủ mới
theo tinh thần Tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không
phải thuộc quyền riêng một giai cấp nào, mà của chung toàn thể dân tộc".
- Về vấn đề chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam, trước hết, Người khẳng định: Sau khi cơ bản hoàn thành cách mạng dân tộc dân
chủ, chúng ta nhất định phải quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có xây dựng chủ nghĩa
xã hội, chúng ta mới thực sự giải phóng được dân tộc, xã hội và con người. Vì vậy, chủ
trương tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược (miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, miền Nam tiếp tục hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng dân tộc
dân chủ) là một sáng tạo lớn, có tính cách mạng cao và phù hợp với thực tiễn đất nước.
Người chỉ rõ bản chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là
"đánh thắng lạc hậu và bần cùng, để xây dựng hạnh phúc muôn đời cho nhân dân ta,
cho con cháu ta". Đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam là "từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải
kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của
chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền
Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại, có
văn hóa và khoa học tiên tiến".
Trong những sự khác nhau trên đây, sự khác nhau của họ về sở hữu đối với tư
liệu sản xuất có ý nghĩa quan trọng quyết định nhất. Tập đoàn người nào nắm tư liệu
sản xuất sẽ trở thành giai cấp thống trị xã hội và tất yếu sẽ chiếm đoạt những sản phẩm
lao động của các tập đoàn khác. Đó là bản chất của những xung đột giai cấp trong các
xã hội có giai cấp đối kháng.
Trong các xã hội có giai cấp, ngoài giai cấp thống trị và giai cấp bị trị còn có
những tầng lớp và giai cấp trung gian khác. Bộ phận này không có vị trí cơ bản trong
phương thức sản xuất, nó thường xuyên bị phân hoá. Nhân tố chi phối sự phân hoá của
các tầng lớp trung gian là lợi ích. Các giai cấp và tầng lớp trung gian ngả về phía giai
cấp thống trị hay bị trị là tuỳ thuộc vào vị trí lợi ích của họ Giai cấp là một phạm
trù kinh tế - xã hội có tính lịch sử. Nó luôn luôn vận động biến đổi cùng với sự biến đổi
của lịch sử.
2. Nguồn gốc hình thành giai cấp.
Trong xã hội có nhiều nhóm xã hội khác nhau. Sự khác nhau ấy được phân biệt
bởi những đặc trưng khác nhau như giới tính, nghề nghiệp, chủng tộc, dân tộc Những
khác biệt ấy tự nó không tạo ra sự đối lập về mặt xã hội. Chỉ có những giai cấp xuất
phát từ sự khác biệt căn bản về lợi ích mới tạo ra những xung đột xã hội mang tính chất
đối kháng. Mác chỉ ra rằng: “Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với các giai đoạn
phát triển lịch sử nhất định của sản xuất”. Sự phân chia một xã hội thành giai cấp
trước hết là do nguyên nhân kinh tế.
Trong xã hội nguyên thuỷ, lực lượng sản xuất chưa phát triển, năng suất lao
động rất thấp, sản phẩm làm ra chưa đủ nuôi sống người nguyên thuỷ. Để tồn tại họ
phải sống nương tựa vào nhau theo bầy đàn, lệ thuộc nhiều vào tự nhiên, giai cấp chưa
xuất hiện.
Sản xuất ngày càng phát triển với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Công cụ
sản xuất bằng kim loại ra đời thay thế công cụ bằng đá, năng suất lao động nhờ đó tăng
lên đáng kể phân công lao động nhờ đó từng bước được hình thành, của cải dư thừa
xuất hiện, những người có chức quyền trong các thị tộc, bộ lạc đã chiếm đoạt của cải
cấp nào cũng tồn tại một tầng lớp xã hội có vai trò quan trọng về kinh tế, xã hội, chính
trị, văn hoá, đó là tầng lớp trí thức.
4. Đấu tranh giai cấp
Trong xã hội có giai cấp tất yếu nảy sinh đấu tranh giai cấp. V.I.Lênin định
nghĩa đấu tranh giai cấp là “cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp
bức và lao động, chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc
đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những
người hữu sản hay giai cấp tư sản”.
Thực chất của đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn về mặt
lợi ích giữa quần chúng bị áp bức, vô sản đi làm thuê chống lại giai cấp thống trị,
chống lại bọn đặc quyền, đặc lợi, những kẻ đi áp bức bóc lột.
Đấu tranh giai cấp có nguyên nhân khách quan từ sự phát triển mang tính xã hội
hoá ngày càng sâu rộng của lực lượng sản xuất với quan hệ chiếm hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất. Biểu hiện của mâu thuẫn này về phương diện xã hội: Mâu thuẫn giữa một
bên là giai cấp cách mạng, tiến bộ, đại diện cho phương thức sản xuất mới, với một bên
là giai cấp thống trị bóc lột đại biểu cho những lợi ích gắn với quan hệ sản xuất lỗi
thời, lạc hậu.
5. Đấu tranh giai cấp - một trong những động lực phát triển của xã hội có
giai cấp
Đỉnh cao của cuộc đấu tranh giai cấp tất yếu sẽ dẫn đến cách mạng xã hội, thay
thế phương thức sản xuất cũ bằng một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn. Phương
thức sản xuất mới ra đời mở ra địa bàn mới cho sự phát triển của sản xuất xã hội. Sản
xuất phát triển sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ đời sống xã hội. Dựa
vào tiến trình phát triển của lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng đỉnh
cao của đấu tranh giai cấp là cách mạng xã hội. Cách mạng xã hội như là đòn bẩy thay
đổi các hình thái kinh tế xã hội vì vậy “đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của lịch
sử các xã hội có giai cấp”.
Đấu tranh giai cấp góp phần xoá bỏ các thế lực phản động, lạc hậu đồng thời cải
tạo cả bản thân giai cấp cách mạng. Giai cấp nào đại biểu cho phương thức sản xuất
Bởi vì cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, cơ cấu giai cấp, nội dung, tính chất, vị trí của các giai cấp
trong xã hội ta cũng đã thay đổi nhiều, khác với thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ
trong những năm đầu chúng ta mới giành được chính quyền. Mối quan hệ giữa các giai
cấp, sự phát triển của các giai cấp trong sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc
dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước không còn như trước đây.
Ngày nay, mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp chủ yếu là mối quan hệ hợp tác
và đấu tranh trong nội bộ nhân dân nhằm tăng cường đoàn kết trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân thống
nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội dân, giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Cuộc đấu
tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa gắn
liền với cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, chống áp bức bất công, chống bóc lột
chống nghèo nàn lạc hậu đấu tranh chống tình trạng đói nghèo, kém phát triển. Vì vậy,
nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay ở nước ta là thực hiện
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
khắc phục tình trạng nước nghèo kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp
bức, bất công, đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực,
sai trái, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù
địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn
vinh, nhân dân hạnh phúc. Đồng thời Đảng ta cũng khẳng định: Động lực chủ yếu để
phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với
nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và
xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã
hội.
III. QUAN HỆ GIAI CẤP-DÂN TỘC VÀ GIAI CẤP-NHÂN LOẠI.
1. Quan hệ giai cấp - dân tộc
Trong một cộng đồng dân tộc bao giờ cũng có nhiều giai cấp và các tầng lớp xã
1. Giải phóng giai cấp.
Trong khi đề cao mục tiêu giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh không bao giờ xa
rời mục tiêu giải phóng giai cấp. Hồ Chí Minh đã xem cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít
của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới, là một cách của cách mạng vô sản.
Khác với Mác, Ăngghen và Lênin, Hồ Chí Minh không xem cách mạng giải phóng dân
tộc phụ thuộc vào cách mạng vô sản chính quốc mà đặt hai cuộc cách mạng này ngang
hàng nhau, có mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại lẫn nhau. Người còn cho rằng,
cách mạng giải phóng dân tộc có khả năng, điều kiện nổ ra và thành công sớm hơn
cách mạng vô sản ở chính quốc và giúp cho cách mạng vô sản ở chính quốc giành
thắng lợi. Đây là điểm mấu chốt trong việc phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin về vấn đề giải phóng giai cấp và cách mạng vô sản trong điều kiện mới của chủ
nghĩa đế quốc.
Hồ Chí Minh đã xuất phát từ tình hình thực tế ở các nước thuộc địa phương
Đông lúc bấy giờ, trong đó có Việt Nam, để xác định đúng đắn nhiệm vụ lúc này
không phải là làm ngay một cuộc cách mạng vô sản, mà trước hết là phải đấu tranh
giành lại độc lập, có độc lập dân tộc rồi mới có địa bàn để làm cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Người cho rằng trong điều kiện một nước thuộc địa thì giải phóng giai cấp gắn
bó chặt chẽ với giải phóng dân tộc. Giải phóng dân tộc là động lực lớn mà người cộng
sản phải nắm lấy và phát huy, là một bước quan trọng để tiến tới giải phóng giai cấp.
Cách mạng giải phóng dân tộc là điều kiện để tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa và
góp phần thiết thực vào sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản trên thế giới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự gắn bó thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong
thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải
phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
2. Vẫn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam.
Sau khi tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc cho nhân dân ta, Hồ Chí
tế III? Hồ Chí Minh trả lời: “Rất giản đơn. Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến
lược, chiến thuật vô sản và nhiều điểm khác. Nhưng tôi hiểu rõ một điều: Quốc tế III
rất chú ý đến vấn đề thuộc địa… Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy
là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu.” Cũng ngay tại nước Pháp, giữa năm 1922, sau khi làm việc với Bộ trưởng Bộ
Thuộc địa Pháp Anbe Xarô, Hồ Chí Minh đã nói thẳng với ông ta mong muốn của
mình và của nhân dân Việt Nam rằng: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi
được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập…”
Năm 1945, đứng trước thời cơ mới của cách mạng nước ta, khi nói chuyện với
đồng chí Võ Nguyên Giáp, Hồ Chí Minh khẳng định: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới,
dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải cương quyết giành cho được độc lập.”
Năm 1966, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không
quân và hải quân, Hồ Chí Minh kêu gọi: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20
năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn
phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do.”
Hồ Chí Minh coi mục tiêu đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc, tự do của đồng bào
là lẽ sống của mình. Quyền độc lập dân tộc không tách rời quyền con người và độc lập
là điều kiện tiên quyết để mang lại hạnh phúc cho mọi người dân của đất nước mình.
Đồng thời, độc lập dân tộc còn là điều kiện để dân tộc Việt Nam được quyền sống bình
đẳng với các dân tộc khác trên thế giới và các dân tộc trong nước ta được chung sống
bên nhau một cách bình đẳng, hoà thuận và cùng nhau đi tới cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc.
-Thứ hai, sau khi giành được độc lập dân tộc phải đưa đất nước tiến lên xây
dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm giải phóng con người, giải phóng xã hội, xoá bỏ nghèo
nàn và lạc hậu, vươn tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi người, mọi dân
tộc.
Giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam nếu chỉ dừng lại ở cuộc
đấu tranh để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân thì sự nghiệp cách mạng đó
trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả mọi
người.
Cũng chính vì vậy mà con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và độc lập phải gắn
liền với chủ nghĩa xã hội trở thành nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, và là
mục tiêu chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam suốt hai
phần ba thế kỷ và mãi mãi về sau. Xuất phát từ hoàn cảnh của Việt Nam, đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông
nghiệp nghèo nàn, hậu quả của bọn thực dân, phong kiến để lại rất nặng nề nên Hồ Chí
Minh cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng
sung sướng, ai nấy được học hành, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ,
những phong tục tập quán không tốt dần dần được xoá bỏ… tóm lại, xã hội ngày càng
tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội.”
-Thứ ba, phải thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc và đoàn kết, giúp đỡ
lẫn nhau cùng tiến bộ trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Lịch sử của Việt Nam đã chứng minh trong cộng đồng các dân tộc ở nước ta
khồng hề có dân tộc lớn (dân tộc nhiều người) đi áp bức, bóc lột dân tộc nhỏ (dân tộc ít
người), mà quan hệ giữa các dân tộc với nhau là quan hệ anh em, ruột thịt. Truyền
thống quý báu đó của dân tộc Việt Nam như Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Đồng bào
Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Giarai hay Êđê, Xơđăng hay Bana… đều là con cháu
Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau,
nó đói giúp nhau.”
Bên cạnh việc lên án thủ đoạn đê hèn của bọn thực dân, phong kiến dùng chính
sách “chia để trị” nhằm chia rẽ các dân tộc Việt Nam và để kìm hãm các dân tộc trong
vòng nghèo nàn và dốt nát, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tính ưu việt của chế độ mới để nhằm
giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc ở Việt Nam: “Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước ta là: Các dân tộc đều bình đẳng và phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ
nhau như anh em. Đồng bào miền xuôi phải ra sức giúp đỡ đồng bào miền ngược cùng
tiến bộ về mọi mặt.”
ở, trường hợc, cơ sở y tế và giao thông đi lại còn nhiều khó khăn và thiến thốn. Bên
cạnh đó, do trình độ dân trí thấp nên những thủ tục lạc hậu, mê tín, di đoạn còn rất
nặng nề.
Hơn nữa, khu vực miền núi nước ta – nơi làm ăn sinh sống chủ yếu của đồng
bào các dân tộc ít người, là nơi giáp biên giới với số nước láng giềng, xa đồng bằng,
địa bàn hiểm trở, dân cư thưa thớt, nhiều vùng vốn là căn cứ địa cách mạng quan trọng
của cách mạng Việt Nam trước đây. Bởi vậy, quan tâm đến đồng bào dân tộc ít người vừa thể hiện tính nhân văn sâu sắc của Hồ Chí Minh trong chế độ mới, vừa có ý nghĩa
kinh tế và quốc phòng to lớn đối với cả hiện tại và tương lai của đất nước.
Sự quan tâm, giúp đỡ đối với đồng bào các dân tộc ít người theo Hồ Chí Minh,
là trách nhiệm của toàn Đảng và toàn dân, của tất cả các cấp, các ngành, từ Trung ương
đến địa phương, bằng những việc làm cụ thể và thiết thực.
-Thứ tư, phải đoàn kết, thương yêu người Việt Nam sống ở nước ngoài và thân
thiện với người nước ngoài sống ở Việt Nam.
Vì nhiều lý do khác nhau, dẫn đến một thực tế của đời sống thế giới, là người
dân của nước này đến cư trú và làm ăn sinh sống ở nước khác và ngược lại. Giải quyết
thực trạng đó ở mỗi quốc gia, dân tộc và mỗi chính đảng, thậm chí với từng nhà lãnh
đạo có những quan điểm và chủ trương chính sách khác nhau.
Đối với người Việt Nam sống xa Tổ quốc, Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết, thương
yêu họ, kêu gọi họ hướng về quê hương đất nước, nơi quê cha, đất tổ của mình, vì tất
cả bà con đều là “con Lạc cháu Hồng” của đất Việt. Đồng thời, Người cũng kêu gọi và
khuyên nhủ bà con phải giữ mối quan hệ thân thiện với nhân dân các nước và thực hiện
tốt luật pháp của họ. Trong những năm chiến tranh và cách mạng, với lòng yêu nước,
thương dân, Hồ Chí Minh đã thu phục được nhiều trí thức tài ba về nước phục vụ Tổ
quốc, phục vụ nhân dân, trong đó có người đã trở thành anh hùng của Việt Nam.
Đối với người nước ngoài sống ở Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn thể hiện thái độ
ôn hoà và thân thiện với họ. Trong Lời tuyên bố với quốc dân sau khi đi Pháp về (23
tháng 10 năm 1946), Hồ Chí Minh nêu rõ: “Người Pháp ở Pháp đối với ta rất thân
không được vì những việc tranh chấp nhỏ của cá nhân mà gây điều bất hạnh ngăn cách
giữa hai dân tộc…”
Ngoài ra, đối với các dân tộc và quốc gia khác trên thế giới, quan điểm của Hồ
Chí Minh là tôn trọng nền độc lập dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của
các quốc gia, dân tộc khác, đồng thời thực hiện quyền bình đẳng giữa các quốc gia, dân
tộc với nhau. Quan điểm đó của Người được khẳng định trong bản Tuyên ngôn Độc lập
bất hủ, ngày 2 – 9 – 1945 rằng: “… tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình
đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Chẳng đường lịch sử hơn 70 năm qua kể từ ngày ra đời đến nay, Đảng Cộng sản
Việt Nam luôn trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và
những quan điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc đề
ra chính sách dân tộc đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Chính sách đó vừa phù hợp
với hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế phát triển tiến
bộ của nhân loại, nên nó đã được cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam đón nhận với niềm
phấn khởi và đầy tin tưởng, cũng bởi lẽ đó mà cách mạng Việt Nam có được sức mạnh
to lớn để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng
như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.
3. Chủ nghĩa dân tộc.
Tư tưởng đặc sắc của Hồ Chí Minh về “chủ nghĩa dân tộc” của Người đối với
nhân dân Việt Nam; về mối quan hệ khăng khít giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp
trong cách mạng vô sản nói chung và cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam nói riêng;
về khả năng, điều kiện và kết quả của sự chuyển hoá từ chủ nghĩa dân tộc thành chủ
nghĩa quốc tế… là những nội dung chính của bài viết. Từ đó, bài viết khẳng định rằng,
giá trị thời đại của những tư tưởng ấy vẫn luôn sáng ngời và có tầm chỉ đạo chiến lược
sống còn đối với tiến trình hiện tại của cách mạng Việt Nam.
Ra đi tìm đường cứu nước từ năm 1911, Nguyễn Tất Thành bôn ba hải ngoại và
hoạt động cách mạng dưới cái tên Nguyễn Ái Quốc. Trở về nước năm 1941, Người đã
trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và trở thành Chủ tịch
tìm ra con đường giải phóng, con đường cứu nước cho dân tộc mình.
Năm 1924, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của
Việt Nam đang đấu tranh giải phóng dân tộc hồi đầu thế kỷ XX, trong Báo cáo về Bắc
kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã
khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên
cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm
cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ
nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp
và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách
mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917”. Tiếp đó, Nguyễn Ái Quốc đã có những phân tích sâu sắc về sự biến đổi và phát triển của chủ
nghĩa dân tộc dưới tác động của chiến tranh như sau:
1. Chủ nghĩa dân tộc đã hiện đại hoá và người chỉ đạo chủ nghĩa dân tộc chính
là giới thanh niên An Nam.
2. Chủ nghĩa dân tộc ngày càng ăn sâu vào quần chúng.
3. Trong chủ nghĩa dân tộc có cả lòng căm ghét bọn xâm lược Trung Quốc và
người Ấn Độ sinh cơ lập nghiệp trên đất nước này.
4. Chủ nghĩa dân tộc có xu huớng hợp pháp hóa các hình thức biểu hiện và yêu
sách của nó; và lớp thanh niên ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn, có ý nghĩa hơn
những lớp người già đi trước.
Trong khoảng hơn một trang in (tiếng Việt), đã có ít nhất 16 lần Nguyễn Ái
Quốc dùng tới thuật ngữ “chủ nghĩa dân tộc”. Nhận thức rõ vai trò đặc biệt quan trọng
của chủ nghĩa dân tộc trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam khi
đó, trong phần cương lĩnh và phương hướng hành động chung, Báo cáo về Bắc kỳ,
Trung kỳ và Nam kỳ của Nguyễn Ái Quốc đề nghị “phát động chủ nghĩa dân tộc bản
xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản… Giờ đây, người ta sẽ không thể làm gì được cho
người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội
của họ”.