TIỂU LUẬN: Nghiên cứu đường lối của Đảng qua các thời kỳ về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
1. TIỂU LUẬN Nghiên cứu đường lối của Đảng qua các thời kỳ về việc vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 1
2. MỞ ĐẦU Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc luôn luôn thống nhất , hữu cơ với
chủ nghĩa xã hội. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX. Người đã khẳng định sự lựa chọn của
mình:” Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và
giai cấp công nhân toàn thế giới”. Sau khi đã giành được độc lập dân tộc. Người lại nói:” Cách
mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng
lợi hoàn toàn”. Việt Nam tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trong những điều kiện đặc biệt ,
không giống với bất cứ một nước xã hội chủ nghĩa nào khác: từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc
hậu, chưa trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa, bị chiến tranh tàn phá, đất nước còn tạm thời chia làm
hai miền,… Trong tình hình đó, người dặt vấn đề “ chúng ta phải dùng những phương pháp gì, hình
thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội?”. Người đòi hỏi phải nêu cao tinh thần
độc lập, tự chủ, sáng tạo; phải học tập, tham khảo kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa của an
hem, nhưng phải hết sức tránh giáo điều, rập khuôn theo cách làm của người khác, “ bởi vì nước ta
có những đặc điểm riêng của ta” . Khi miền Bắc bước vào thời kì quá độ. Người đã nhắc nhở: “ Ta
không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử và địa lý khác… Ta có
thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Bàn về phương hướng và tốc độ phát triển công
nghiệp. Người nói: “ Nếu muốn công nghiệp hóa gấp thì là chủ quan. Cho nên trong kế hoạch phải
tăng tiến nông nghiệp”. Theo người, bước đi của ta là: “ Ta cho nông nghiệp là quan trọng và ưu
tiên, rồi đến thủ công nghiệp và công nghiệp nhẹ, sau mới đến công nghiệp nặng”. Cuối những năm
50, đầu những năm 60, trong các nước xã hội chủ nghĩa diễn ra phong trào “đại nhảy vọt”, “ một
ngày bằng 20 năm”. Ở ta, sau Đại hội III, Người cũng nói đến phương châm “ tiến nhanh, tiến
mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”, nhưng Người đã giải thích rõ: “ Tiến nhanh, tiến mạnh
không phải là phiêu lưu, làm ẩu. Phải thiết thực đi từng bước, phải tiến vững chắc… Chớ đem chủ
quan của mình thay cho điều kiện thực tế”. Chúng ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện
đất nước tạm thời chia cắt và có chiến tranh. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không chờ đất nước
hoàn toàn thống nhất mới bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà với quan điểm cách mạng
không ngừng, Đảng ta và 2
lựa chọn . Vận dụng và phát triển sang tạo những phạm trù , nguyên lý của chủ nghĩa xã hộ i vào
công cuộc đổi mới , hiện thực hóa mô hình xã hộ i chủ nghĩa theo quan điểm của Đảng ta chính là
biều hiện sinh động sức sống của lý luận chủ nghĩa xã hộ i và con đường đi lên chủ nghĩa xã hộ i.
2.Mục đích và nhiệm vụ của đề tài: Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích t ìm hiểu và làm rõ vấn đề cơ
sở lý luận , thực tiễn về đường lố i chiến lược chính trị của cách mạng việt Nam trong tư tưởng Hồ
Chí Minh về chủ nghĩa xã hộ i và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam . Đảng cộng sản
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hộ i và con đường đi lên chủ nghĩa xã hộ i ở Việt
Nam. Nhiệm vụ của đề tài là phân tích những nhận định đánh giá khách quan theo quan điể m chủ
nghĩa Mac- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hộ i và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hộ i ở Việt Nam . Đảng cộng sản vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hộ i và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hộ i ở Việt Nam.Từ đó rút ra bài học nhận thức đúng đắ n đường lố i cách
mạng Việt Nam . Nghiên cứu hoc tập tư tưởng Hồ Chí Minh là nhằm thấ m nhuần sâu sắc hệ thống
quan điểm và phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh, nâng cao thêm lòng yêu nước , tinh thần phục
vụ nhân dân đạo đức cách mạng của mỗ i người , để làm cho chủ nghĩa Mac- Lênin , tư tưởng tư
tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam trong hành động của chúng
ta. 3.Phương pháp nghiên cứu và giới hạn của đề tài : Trên cơ sở vận dụng phương pháp luận khoa
học của chủ nghĩa duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mac- Lênin , tư tưởng Hồ Chí
Minh , nghiên cứu tài liệu, tác phẩm,giáo trình, tạp chí , sách tham khảo…liên quan đến vấn đề về
quan điểm chủ nghĩa Mac- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hộ i và con đường đi lên
chủ nghĩa xã hộ i ở Việt Nam . Đảng cộng sản vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hộ i
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hộ i ở Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp
lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp logic phân tích , tổng hợp …góp phần làm rõ nộ i dung
nghiên cứu. 4
5. Giới hạn của đề tài : Đề tài trong phạm vi nghiên cứu đường lố i của Đảng qua các thời kỳ về
việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hộ i và con đường đi lên chủ nghĩa xã hộ i ở
Việt Nam. CHƯƠNG I : CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI. 1. Chủ nghĩa xã hội là gì ? “
Chủ nghĩa xã hộ i “ là một danh từ biểu thị một khái niệm có ý nghĩa rộng hơn các khái niệm” tư
tưởng” , “ chủ nghĩa xã hội không tưởng “ , “chủ nghĩa xã hộ i khoa học “…( còn khái niệm ” xã hộ
i chủ nghĩa “ là một tính từ chỉ t ính chất của một chế độ xã hộ i , một tư tưởng , một cuộc cách
học thuyết hình thái kinh t ế - xã hộ i tư bản chủ nghĩa tất yếu sẽ được thay thế bằng một hình thái
cao hơn, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hộ i.
Mác và Ăngghen đã từng bước xây dựng những luận điểm cơ bản về chủ nghĩa xã hộ i, chỉ ra những
phương hướng phát triển chủ yếu và những đăc trưng bản chất của nó mà đăc trưng cơ bản nhất là
xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất , giải phóng cho con người khỏ i tình trạng bị bóc lột về
kinh tế, bị áp bức về chính trị , bị nô dịch về t inh thần , tạo điều kiện cho con người có thể tận lực
phát triển về mọ i khả năng sẵn có của mình. Lênin phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hộ i trong điều
kiện chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã chuyển sang kiện chủ nghĩa tư bản độc quyền , tức giai
đoạn đế quốc chủ nghĩa . Với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 , chủ nghĩa xã hộ
i đã từ lý luận trở thành hiện thực . Chủ nghĩa xã hộ i với tư cách là một chế độ xã hộ i sau khi đã
hoàn thiện sẽ là bước phát triển cao hơn và tốt đẹp hơn so với chủ nghĩa tư bản. Tổng hợp những ý
kiến của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac- Lênin về bản chất của chủ nghĩa xã hộ i - giai đoạn
thấp của chủ nghĩa cộng sản , có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản sau : 6
7. Xóa bỏ từng bước chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa , thiết lập chế độ sở hữu xã hộ i chủ -
nghĩa để giải phóng cho sức sản xuất xã hộ i phát triển . Có một nền đại cơ khí với trình độ khoa học
và công nghệ hiện đại có khả năng cải tạo - nông nghiệp tạo ra năng suất lao động cao hơn chủ
nghĩa tư bản Thực hiện sản xuất có kế hoạch , tiến tới xóa bỏ sản xuất hành hóa , trao đổi tiền tệ ( -
quan niệm này về sau được điều chỉnh với chính sách kinh t ế mới của Lênin và hiện nay đang được
Đảng ta vận dụng trong chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu , nhiều thành phần
với nhiều hình thức tổ chức kinh doanh theo địng hướng xã hộ i chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta ). Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động , thể hiện sự công bằng
và bình đẳng về - lao động và hưởng thụ. Khắc phục dần sự khác biệt giữa các giai cấp , giữa nông
thôn và thành thị , giữa lao - động trí óc và lao động chân tay , tiến tới một xã hội tương đối thuần
nhất về giai cấp . Giải phóng con người khỏ i mọ i áp bức bóc lột, nâng cao trình độ tư tưởng và văn
hóa - cho nhân dân , tạo điều kiện cho con người tận lực phát triển mọ i khả năng sẵn có của mình .
Sau khi đã được những điều nói trên , khi sự đối kháng giai cấp không còn nữa thì chức - năng chính
tr ị của nhà nước sẽ dần dần tiêu vong,vv… 3. Quan điểm Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam : 3.1 Về chủ nghĩa xã hội: Hồ Chí Minh tiếp cận chủ
nghĩa xã hội khoa học từ quan điểm duy vật lịch sử của Mac, nghĩa là từ học thuyết hình thái kinh tế
- xã hộ i và từ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân – giai cấp trung tâm của thời đại mới. Nói
một nhân tố thuận lợi để đi vào chủ nghĩa xã hộ i. - Văn hóa Việt Nam lấy nhân nghĩa làm gốc , có
truyền thống trọng dân , khoan dung hoa mục để hòa đồng : Văn hóa Việt Nam là văn hóa trọng trí
thức , hiền tài.Con người Việt Nam có tâm hồn trong sang, giàu lòng vị tha , yêu thương đồng loại ,
kết hợp được cái chung vớ i cái riêng , gia đình với Tổ quốc , dân tộc và nhân loại …chính những
truyền thống tốt 8
9. đẹp của văn hóa và con người Việt Nam là một trong những cơ sở dẫn dắt Hồ Chí Minh đến
với chủ nghĩa xã hộ i. Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hộ i mang trong bản thân nó bản chất
nhân văn và văn hóa ,chủ nghĩa xã hộ i là giai đoạn phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản về mặt văn
hóa và giải phóng con người . Ta hiểu vì sao Hồ Chí Minh là một nhà chính tr ị đã thấy rất sớm vai
trò và sức mạnh của văn hóa. Nói văn hóa cũng tức là nói con người – chủ thể của văn hóa. Hồ Chí
Minh đặc biệt coi trọng xây dựng con người , tình ngườ i , mố i quan hệ nhân văn giữa người với
người . Hồ Chí Minh chú trọng nâng cao lý tưởng đạo đức văn hóa khoa học cho con người , vì con
người , khát khao chiến đấu cho lý tưởng xã hộ i chủ nghĩa thì mới có đươc chủ nghĩa xã hộ i. Quan
niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Khái niệm chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng
Hồ Chí Minh mang nhiều ý nghĩa khác nhau, chủ yếu tập trung vào các nội dung sau: - Chủ nghĩa
xã hộ i như là một phong trào lịch sử mang tính chính tr ị xã hộ i. - Chủ nghĩa xã hộ i là hệ tư tưởng
của giai cấp công nhân, ở đây, Hồ Chí Minh hiểu chủ nghĩa xã hộ i đồng nghĩa với chủ nghĩa Mác –
Lênin. - Chủ nghĩa xã hộ i là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hộ i cộng sản chủ nghĩa. - Chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa Cộng sản là một chế độ xã hộ i đối lập với chế độ tư bản mà hình thức xấu
xa tàn bạo nhất của nó là chủ nghĩa thực dân, cả chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới.
Trong các nộ i dung trên, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến nộ i dung cuố i cùng và đem đến nhiều
kiến giải rất độc đáo, mộc mạc dễ hiểu mang tính phổ thông đại chúng để mọ i tầng lớp nhân dân ta
có thể hiểu được, nhận thức đúng để hành động đúng đắn và thiết thực. Có thể nêu một số kiểu định
nghĩa thường gặp trong tư tưởng Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa xã hộ i, chủ nghĩa Cộng sản như là một
chế độ xã hộ i hoàn chỉnh, bao gồm nhiều mặt khác nhau của đờ i sống, là con đường giải phóng
nhân loại cần lao, áp bức. Hồ Chí Minh cho rằng, “chỉ có chủ nghĩa Cộng sản mới cứu nhân loại,
đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồ n gốc tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết,
ấm no trên trái đất, việc làm cho mọ i người và vì mọ i người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc, nói
tóm lại là nền cộng hòa thế giới chân chính, xóa bỏ 9
10. những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những bức tường dài ngăn cản người lao
chất sau đây của CNXH : Một là CNXH là là chế độ do nhân dân lao động làm chủ, nhà nước phải
phát huy quyề n làm chủ tập thể của nhân dân lao động để huy động được tính tích cực và sáng tạo
của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hộ i. Hai là CNXH là một xã hộ i có nền kinh tế
phát triển cao dựa trên lưc lượng sản xuất ngày càng hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất
chủ yếu nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao
động. Ba là CNXH là một xã hộ i phát triển cao về văn hóa, đạo đức, trong đó, người với ngừơi là
bạn bè, là đồng chí là anh em, con người được giải phóng khỏ i áp bức, bóc lột, có cuộc sống tinh
thần phong phú, được tạo điều kiện để phát triển hết mọ i khả năng sẳn có của mình Bốn là CNXH
là một xã hộ i công bằng và hợp lý, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không
hưởng, các dân tộc đều bình đẳng, miền núi được giúp đở để t iến kịp miền xuôi Năm là CNXH là
công trình tập thể của nhân dân, do nhân dân t ự xây dựng lấy dưới sự lãnh đạo của Đảng . Đó là
những bản chất của CNXH và cũng là những mục tiêu mà Đảng và nhân dân ta đang ra sức phấn
đấu để đạt tới. Hệ thống động lực của chủ nghĩa xã hộ i trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất phong phú,
trong đó bao trùm lên t ất cả là động lực con người, trên cả hai bình diện : cộng đồng và cá nhân. Đó
là phát huy sức mạnh đoàn kết của cả cộng đồng dân tộc - động lực chủ yếu để phát triển đất nước.
Đó là phát huy sức mạnh của con người được giải phóng để làm chủ. Để phát huy sức mạnh này
phải tác động vào nhu cầu, lợi ích của con người, phát huy động lực chính trị, tinh thần đạo đức,
truyền thống, quyền làm chủ của người lao động, thực hiện công bằng xã hộ i … Đó là khắc phục
các trở lực kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa xã hội, bao gồm đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân,
đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu, chống chủ quan, bảo thủ, giáo điều, lười biếng, không
chịu học tập cái mới … Đó cũng là những trở lực đố i vớ i sự nghiệp xây dựng CNXH. 11
12. 3.2 Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam : Về con đường quá độ lên CNXH ở
Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra những đặc điểm và mâu thuẫn của thời kỳ quá độ lên CNXH
ở Việt Nam nhưng bao trùm, “to nhất” là đặc điể m từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên
CNXH, không phải kinh qua giai đoạn phát triển TBCN” Về độ dài của thời kỳ quá độ, Người nói
“xây dựng CNXH là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ lâu dài” Về nhiệm vụ lịch sử
của thời kỳ quá độ, về phương diện kinh tế - văn hóa, Hồ Chí Minh chỉ rõ : ” phải xây dựng nền
tảng vật chất và kỹ thuật của CNXH …có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa
học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng XHCN, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng
nền kinh tế mới mà xây dựng nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”. Về chính trị, nộ i dung quan trọng nhất
nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ, Người nói "Chúng ta phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hộ i, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hộ i, có công nghiệp và nông
nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hộ i chủ nghĩa,
chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt
và lâu dài". Về những nhân tố bảo đảm thực hiện thắng lợi chủ nghĩa xã hộ i ở Việt Nam, Hồ Chí
Minh chỉ rõ phải: Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao vai trò quản lý của
Nhà nước; phát huy tính tích cực, chủ động của các tổ chức chính trị - xã hội; xây dựng độ i ngũ cán
bộ đủ đức và tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng xã hộ i chủ nghĩa. Như vậy, tư tưởng Hồ
Chí Minh về chủ nghĩa xã hộ i và con đường đi lên chủ nghĩa xã hộ i ở Việt Nam thể hiện sự vận
dụng những đặc trưng chủ nghĩa xã hộ i của Mac- Lênin nhưng không phải là một sự sao chép y
nguyên mà là một sự thể hiện sang tạo phù hợp với thực tiễn 13
14. Việt Nam , chứa đựng nộ i dung sâu sắc hệ thống trên mọ i lĩnh vực của chế độ xã hội chủ
nghĩa. Thể hiện một phương pháp nói, viết khái quát lý luận mộc mạc giản dị dễ hiểu , dễ nhớ ,dễ
làm , được nhân dân ta đón nhận và phấn đấu thực hiện để đạt các tiêu chí trên . Đây là nền tảng lý
luận tư tưởng và thực tiễn sau này được Đảng ta từng bước nhận thức và vận dụng để xác lập mô
hình thể hiện đặc trưng bản chất về chủ nghĩa xã hộ i và con đường đi lên chủ nghĩa xã hộ i ở Việt
Nam nhất là trong thời kỳ đổi mới. CHƯƠNG II : ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM: 1. Trước thời kỳ đổi mới: Nhận thức của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta từ hội nghị thành lập Đảng đến trước Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII. Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là vấ n đề lý
luận và thực tiễn rất cơ bản, trọng yếu , liên quan trực tiếp đến đường lối chính trị của đảng, phương
hướng phát triển của đất nước .Đây là vấn đề trung tâm , cốt lõi trong con đường cách mạng nước ta;
nó chi phố i toàn bộ các hoạt động chính trị ,văn hoá,xã hội, đối ngoại, an ninh, quốc phòng, xây
dựng đảng… của Đảng ta. - Đảng ta ngay khi mới ra đời , trong cương lĩnh (1930) đã khẳng định
mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của nước ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. - Cương lĩnh chính
tr ị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu của cách mạng là làm cách mạng tư sản
dân quyền và thổ địa cách mạng để đ i tới xã hội cộng sản . Để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và
dân chủ thì nhiệm vụ cách mạng là : Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến ( chống đế
quốc và chống phong kiến ) . Tính chất cách mạng lúc đầu là cuộc cách mạng tư sản dân quyền sau
khách quan mố i quan hệ giữa các giai cấp , do đó không có chủ trương lập mặt trận đoàn kết rộng
rãi gồ m cả 15
16. tư sản dân tộc và những người dân chủ t iến bộ khác . Mặt trân thống nhất phả n đế mà Đại
hộ i đề ra chưa phải là mặt trân rộng rãi phù hợp với yêu cầu đòi hỏ i của hoàn cảnh lịch sử lúc bấy
giờ . Mặc khác, tình hình thế giới và Đông Dương lúc đó có nhiều thay đổ i , đòi hỏi Đảng phải đề
ra được đường lố i cách mạng thích hợp khi căn cứ vào toàn bộ quá trình phát triển cách mạng trước
đó . Nhưng Đại hộ i chưa tổng kết được kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng qua 5 năm kể từ khi được
thành lập , nhất là thực tiễn cao trào 1930- 1931 và thời kỳ đấu tranh phục hồi lực lượng 1932-
1935. Những thiếu sót trên đã được Đảng ta bổ sung khi có Nghị quyết Đại hộ i lần thứ VII của
Quốc tế Cộng sản và những chủ trương mới của các Hội nghị Trung ương sau đó . Từ tác động của
hoàn cảnh lịch sử thế giới và trong nước . Phong trào cách mạng 1936- 1939 .Đảng đã bổ sung
những chủ trương mới ở các Hộ i nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 7-1936, tháng 3,
tháng 9- 1937 và Hội nghị tháng 3- 1938 là : Chỉ rõ kẻ thù trước mắt nguy hại nhất của nhân dân
Đông Dương là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng . Xác định nhiệm vụ trước mắt
là chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc , chống bọn phản động thuộc địa và tay sai , đòi tự do ,
dân chủ, cơm áo và hòa bình . Lập mặt trận nhân dân phản đế nhẳm liên hiệp các giai cấp trong các
dân tộc ở Đông Dương đấu tranh đòi quyề n lợi hàng ngày chống lại chế độ thuộc địa vô nhân đạo
của thực dân Pháp . Chủ trương chuyển hình thức tổ chức bí mật không hợp pháp sang các hình thức
tổ chức và đấu tranh công khai, nửa công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp .Đây là cuộc đấu tranh
cách mạng sôi nổ i có tính quần chúng rộng rãi , vận động dân chủ rộn lớn , uy tìn và ảnh hưởng của
Đảng được mở rộng và nâng cao trong quần chúng , là cuộc chuẩn bị lực lượng cho giai đoạn cách
mạng 1939- 1945. Đường lố i cách mạng Giải phóng dân tộc của Đảng tại các Hộ i nghị Trung ương
tháng 11- 1939, tháng 11- 1940 và tháng 5 1941 có nhiều điều chỉnh . Hội nghị tháng 11- 1939 đặt
nhiệm vụ chống đế quốc , giải phóng dân tộc lên trên hết Nếu những nộ i dung của Hội nghị tháng
11- 1939 đã chứng tỏ sự sắc sảo , nhạy bén , sự sáng tạo của Đảng trong công tác lãnh đạo cách
mạng , có những thay đổ i phù hợp với diễn biến mới của điều kiện lịch sử đặt ra góp phần làm
phong phú kho tàng lý luận về cách mạng dân tộc, dân chủ , nhân dân , thì Hộ i nghị t háng 5- 1941
tiếp tục khẳng định cho sự điều chỉnh chủ trương cách mạng của Đảng , từng bước đặt cuộc vận
động giải phóng dân tộc vào giai 16
17. đoạn trực tiếp . Qua các Hội nghị , đặc biệt là Hội nghị tháng 5- 1941 ( Hội nghị Trung ương
quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng : cách mạng
quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỷ thuật, cách mạng về tư tưởng văn hóa, trong đó cách mạng
khoa học kỹ thuật là then chốt’ Đại Hộ i IV đã phát họa những nét lớn về CNXH Việt Nam với mô
hình bốn “cái mới”. Mô hình này về cơ bản giống mô hình XHCN củ Liên Xô và Trung Quốc, được
thực thi trong phe XHCN những năm 1950 – 1970. Trong đó nhấn mạnh tính thuần khiết lý tưởng
của CNXH ngay trong thời kỳ quá độ. Từ nhận thức đó chúng ta đã nôn nóng cải tạo XHCN các
thành phần kinh tế, nôn nóng xóa bỏ kinh tế thị trường, nóng vộ i phát triển CN nặng trong những
năm 1976 – 1986 đưa đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. -Trước tình hình đó,
Đảng ta đã sớm nhận thức và có những chỉ đạo kịp thời. Đó là Nghị quyết TW 6 khóa IV (8/1979)
đánh dấu sự biến đổ i sâu sắc về chất trong tư duy của Đảng ta, đánh dấu bước mở đầu cho quá trình
tìm con đường mới đi lên CNXH ở Việt Nam. Lần đầu tiên Đảng đã thừa nhận những khó khăn
nghiêm trọng về KT-XH của đất nước : Đời sống nhâ n dân khó khăn, kinh t ế không tăng trưởng,
lạm phát phi mã, nhân dân mất niềm tin ở Đảng, chính quyền từ đó đưa ra những quyết sách mới
là đẩy mạnh phát triển hàng tiêu dùng, xuất khẩu, công nghiệp địa phương, đặc biệt là thừa nhận
việc tồn tại nhiều thành phần kinh tế là khách quan, quan tâm đ ến yếu tố thị trường, sản xuất hàng
hóa. Đồng thời giải quyết đúng đắn các mố i quan hệ lợi ích, đặc biệt quan tâm lợ i ích chính đáng
của người lao động Đến năm 1981 chỉ thị 100 của Ban Bí thư về khoán sản phẩm đến nhóm người
lao động, đây thực sự là một bước đột phá, tạo động lực mạnh mẽ cho sản xuất phát triển. Tiếp đến
Chính phủ có quyết định 25-26/CP (tháng 01/1981) cho phép các công ty, các xí nghiệp lập hai kế
hoạch: kế hoạch của nhà nước hoạt động theo cơ chế bao cấp, kế hoạch của xí nghiệp hoạt động
theo cơ chế thị trường. Đây được xem là bước chuyển chuyển mình tìm hướng đi thích hợp để
chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường. 18
19. -Những nhân tố mới nêu trên tạo điều kiện để Đảng tiếp tục nhận thức con đường lên CNXH
ở Việt Nam - Đại hội V (1982) của Đảng một mặt khẳng định tiếp tục phương hướng, mục tiêu do
đại hộ i IV đề ra. Mặt khác căn cứ vào tình hình thực tiễn của đất nước, đại hộ i có những bổ sung
và cụ thể hóa một số nội dung quan trọng trong đường lối cơ bản : Một là khẳng định thời kỳ quá độ
là thời kỳ tương đố i dài là quá trình đấu tranh xóa bỏ những trì trệ, hậu quả chiến tranh, sản xuất
hàng hóa tìm con đường hay mô hình đi lên CNXH phù hợp với điều kiện cụ thể thể của Việt Nam,
do đó những vấp váp, những sai lầm là không tránh khỏ i. Tuy nhiên, thời kỳ quá độ được Đảng ta
xác định dài nhưng không trừu tượng, mà phải trải qua nhiều chặn đường, nhiều giai đọan ta đang ở
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ cùng xu hướng quốc tế nền kinh tế thế giới là thời cơ để các
nước phát triển có thể phát triển nhanh hơn. Do đó, phải coi trọng sự nghiệp giáo dục, đào tạo nguồn
nhân lực và phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; trong quá trình xây dựng CNXH
phải phát huy ý chí tự lực tự cường, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh của thời đại. Đồng thời Cương lĩnh cũng đã xác định mô hình chủ nghĩa xã hội gồ m 6
đặc trưng cơ bản là: Xây dựng chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động; kinh tế phát triển cao
dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu; xây
dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột,
bất công, làm theo năng l ực và hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện
phát triển 20