II TIỂU LUẬN:
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA
QUẢNG CÁO TỚI THÓI QUEN TIÊU
DÙNG KẸO CAO SU CỦA NGƯỜI
TIÊU DÙNG VIỆT NAM GIỚI THIỆU
Mọi người đã thưởng thức kẹo cao su từ rất lâu trước khi Bubble Yum xuất
hiện. Tổ tiên chúng ta thời kỳ đồ đá mới đã nhai những chiếc kẹo làm từ nhựa vỏ
cây bulô.
Các nền văn hóa khác, như Hy Lạp cổ đại và dân da đỏ châu Mỹ cũng nhai
những chất giống cao su làm từ nhựa thông và chất bã từ cây, cỏ và các loài thực
vật.
Chất paraffin cũng là một thành phần phổ biến của kẹo cao su, mặc dù nó
không thể nhai nếu chưa được làm nóng và làm ẩm trong miệng.
Các loại kẹo cao su hiện đại có từ những năm 1860, khi chất chicle dùng
làm kẹo cao su ra đời. Kẹo cao su chicle dần trở nên được ưa chuộng hơn so với
loại làm từ nhựa thông, bởi nó mềm hơn, mịn hơn và giữ mùi vị lâu hơn.
Qua sự phát triển của công nghệ chế biến nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng
cao của con người khắp nơi trên thế giới, hiện nay hầu hết kẹo cao su đều làm từ
Ảnh hưởng của các chương trình Quảng Cáo tới hành vi mua các sản phẩm kẹo
cao su của khách hàng trên thị trường Việt Nam.
Thị trường kẹo cao su, thói quen mua và sử dụng kẹo cao su của người tiêu dùng
Việt Nam.
Mức độ quan tâm, chú ý của khách hàng đến những chương trình Quảng Cáo các
sản phẩm kẹo cao su trên báo, đài và tác động của Quảng Cáo tới thói quen tiêu
dùng chúng của người tiêu dùng Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là thanh thiếu niên, các khách hàng thường xuyên sử dụng
kẹo cao su.
Phạm vi nghiên cứu là khách hàng trong phạm vi thành phố Hà Nội. Chủ yếu là ở
các khu khu trung tâm, tập trung đông dân cư.
Nội dung nghiên cứu:
Quan sát những hướng đi của các chương trình Quảng Cáo sản phẩm kẹo cao su
đã có trên thị trường Việt Nam, xem tác động của nó tới người tiêu dùng như thế
nào.
Nghiên cứu mức độ quan tâm và thói quen, thị hiếu của người tiêu dùng Việt trước
sự ảnh hưởng của những chương trình Quảng Cáo kẹo cao su.
Phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập các dữ liệu có sẵn về tình hình thị trường tiêu thụ các sản phẩm kẹo cao
su trên thế giới và Việt Nam (sách báo, tạp chí, Internet …)
cao su cho khách hàng khi mua mỗi gói bột nở. Ý tưởng này đã mang lại thành
công lớn, một lần nữa quà tặng – kẹo cao su – dường như lại có triển vọng hơn cả
sản phẩm chính và nó lại được đầu tư để tung ra thị trường thay thế cho sản phẩm
chính.
Vào thời gian đó ở Mỹ có ít nhất trên 12 công ty kẹo cao su nhưng nền
công nghiệp này dường như không phát triển lắm. Tuy nhiên Wrigley cho rằng
đây là một sản phẩm rất có tiềm năng và đáng để đầu tư do đó ông đã quyết định
quảng bá cho sản phẩm này. Hai chi nhánh đầu tiên đã được mở ra tại Lotta và
Vassar.
Tới năm 1893 kẹo cao su Juicy Fruit đã được tung ra thị trường sau đó là
kẹo Spearmint của Wrigley. Có được chỗ đứng trên thị trường kẹo cao su không
phải chuyện đơn giản bởi những công ty trước đây trong ngành kẹo cao su đã rất
quen thuộc với khách hàng. Vào năm 1899 sáu công ty kẹo lớn nhất đã liên kết với
nhau tạo thành tập đoàn kẹo cao su lớn (liên hiệp các công ty kẹo cao su) và sự kết
nối này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của Wrigley – một
công ty non trẻ đã gặp phải rất nhiều khó khăn khi đứng ngoài tập thể đó. Luôn là
người đi sau nhưng cuối cùng công ty ông đã chống lại sức mạnh của tập đoàn.
Wrigley tiếp tục dùng những phần thưởng để khích lệ các thương nhân
nhập hàng của mình. Ông biết rằng khách hàng sẽ sử dụng kẹo cao su Wrigley nếu
họ nhận được “một chút gì đó thay vì không có gì”. Wrigley đã mở rộng danh mục
quà tặng từ những chiếc đèn đến dao cạo và những chiếc cân. Những quà tặng đi
kèm này trở nên thành công tới mức ông phải phát ra một catalog mẫu quà tặng
cho khách hàng lựa chọn.
Wrigley cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc dùng các chiến dịch quảng
cáo để thu hút khách mua hàng. Ông là một trong những người tiên phong trong
việc sử dụng các quảng cáo để tăng doanh thu và quảng cáo cho thương hiệu. Ông
nhận ra rằng lượng khách hàng chấp nhận sản phẩm của ông sẽ tăng nhanh nếu
ông nói với họ về lợi ích của sản phẩm trên báo, tạp chí quảng cáo, biển hiệu hay
những dạng truyền thông khác. Sau đó ngày càng nhiều khách sẽ tới các cửa hiệu
để tìm hiểu và mua kẹo của ông. Như vậy tự nhiên các cửa hàng sẽ phải nhập kẹo
chuẩn mang nhãn hiệu Wrigley.
Sau đó một thời gian những nguyên liệu chất lượng cao trở nên khan hiếm
đến mức sản xuất không thể đạt được mức lượng kẹo sản xuất trước chiến tranh
không đủ để cung cấp thậm chí cho quân đội Mỹ. Do vậy công ty đã dừng hoàn
toàn việc mở rộng chi nhánh, và đặc biệt “nhãn hiệu thời chiến” được cung cấp
cho quân đội. Cũng thời gian đó một chiến dịch quảng cáo độc nhất vô nhị đã
được tiến hành và nó đã giúp tên tuổi cũng như chất lượng của kẹo cao su Wrigley
trở nên thân quen với khách hàng, thậm chí ngay cả khi họ không thể mua được
nó. Quảng cáo khá kịch tính với hình tượng một gói bọc kẹo cao su Spearmint
trống rỗng nhãn hiệu Wrigley với câu “Hãy nhớ giấy bọc này”.
Sau khi chiến tranh kết thúc việc mua bán những nguyên liệu để dùng cho
việc sản xuất kẹo chất lượng cao lại trở về như bình thường, vì vậy tới năm 1946
Wrigley’s Spearmint đã trở lại thị trường, sau đó là Juicy Fruit và năm 1947 là
Doublemint. Mặc dù đã vắng mặt hai năm tại Mỹ nhưng Wrigley vẫn chiếm lại thị
trường một cách nhanh chóng và sau đó hoạt động kinh doanh trở nên phát triể
vượt mức trước chiến tranh. Việc tiếp theo của công ty Wrigley là tập trung mở
rộng ra kinh doanh toàn cầu.
Thêm vào những cơ sở trước đây ở Chicago, Australia, Canada, Anh và
New Zealand công ty mở them những văn phòng mua bán ở Châu Âu và Châu Á.
Để đáp ứng lượng tăng cầu sản phẩm Wrigley, nhiều nhà máy đã được mở thêm
tại: Malina thuộc Philippines (1965), Biesheim, Pháp (1967); Salzburg, Australia
(1968); Nairobi, Kenya (1971) và Taipen, Taiwan (1978). Sau đó, để đáp ứng yêu
cầu thay đổi trong kinh doanh, công ty đã tiến hành hợp nhất những công nghệ
máy móc mới hiện đại hơn thay thế cho những cái trước đây. Năm 1954 tiến hành
thay đổi ở New Zealand, năm 1958 ở Australia, năm 1963 ở Canada, năm 1971 ở
Anh và ở Đài Loan vào năm 1985. Và vào mùa xuân năm 1991 để chinh phục một
thị trường mới, công ty đã mở một nhà máy ở Quảng Châu, Trung Quốc, ở Mỹ thì
xây dựng thêm nhà máy ở Santa Cruz, Canifonia năm 1954 và Gainesville,
Georgia.
Để thay đổi sở thích của khách hàng, Wrigley đã giới thiệu kẹo cao su
(cuốn quanh thanh kẹo), đề cao chú bé gan dạ Pud và cậu bạn thân Rocky Roller.
Năm 1953, hình ảnh Pud bị lu mờ, khi Topps phát hành truyện tranh đầu tiên để
xây dựng hình tượng chàng nhóc Bazooka Joe. Chữ “bazooka” không lấy từ
nguồn gốc một loại vũ khí mà ngẫu nhiên xuất phát từ tên loại nhạc cụ cho âm
thanh vui nhộn làm từ ống và phễu, được sáng chế bởi diễn viên hài Bob Burns
năm 1930.
1.3 Tiêu thụ kẹo cao su ở một số nước ở Châu Âu
Theo thăm dò của hãng Wrigley, hiện hãng chiếm tới 90% thị trường kẹo cao su
tại Séc, thì người dân Séc đứng thứ ba trong số các nước Đông Âu về nhai kẹo cao
su. Năm ngoái trung bình mỗi người Séc nhai hết 128 chiếc. Trong những nước
thuộc khối Đông Âu cũ thì Séc chỉ đứng sau Slovenia và Croatia.
Tính về số kẹo cao su được tiêu thụ thì đứng đầu là Bắc Mỹ và Tây Âu, nơi tiêu
thụ trung bình lên tới gần 200 chiếc mỗi năm trên đầu người.
Trung bình mỗi năm người dân Slovenia nhai hết 167 chiếc kẹo cao su, người
Croatia 160 chiếc. Slovakia đứng thứ 6 trong những nước Đông Âu với 110 chiếc.
Đứng cuối bảng là Litva, người dân ở đây chỉ nhai trung bình 66 chiếc kẹo cao su
mỗi năm.
Trong các nước Tây Âu thì đứng đầu là Thụy Sĩ, với 186 chiếc kẹo cao su trên đầu
người mỗi năm. Đứng thứ nhì là người dân Ai-len với 173 chiếc. Đứng cuối bảng
trong số các nước Tây Âu là người Đức với tiêu thụ 112 chiếc mỗi năm. 1.4 Thị trường kẹo cao su Việt Nam
Việt Nam là một trong những thị trường phát triển sau của kẹo cao su, sau khi đã
du nhập hết ở bắc Mỹ, Châu Âu … rồi sang Châu Á. Tuy phát triển sau nhưng thị
So với thế giới thì thị trường kẹo cao su ở Việt Nam đang ở dạng tiềm năng và cần
có sự đầu tư, tác động nhiều phía vào người tiêu dùng để nó được phát triển mạnh
mẽ. PHẦN HAI: THÓI QUEN TIÊU DÙNG KẸO CAO SU CỦA NGƯỜI TIÊU
DÙNG VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG QUẢNG CÁO CÁC SẢN PHẨM
KẸO CAO SU Ở VIỆT NAM
2.1 Thói quen của người tiêu dùng Việt Nam:
Kẹo cao su ban đầu xuất hiện ở Việt Nam chủ yếu là dành cho đối tượng trẻ em, là
kẹo mềm với hiệu quả là đáp ứng sự khoái khẩu cũng như vui thú khi thổi ra
những quả bóng bằng kẹo cao su. Đó gần như là ý niệm đầu tiên của người Việt
Nam về kẹo cao su. Khi ấy kẹo cao su được rất ít người tiêu dùng Việt Nam chấp
thường xuyên sẽ giúp ích cho việc giảm cân.
Khi đi trên xe bus hoặc gần khu các trường trung học ở Hà Nội, chúng ta sẽ dễ
dàng thấy những cô, cậu thanh niên, học sinh, sinh viên … nhai lép bép kẹo cao su
trong miệng, Đây là những khách hàng tiêu thụ phần lớn các sản phẩm kẹo cao su.
Kẹo cao su rất dễ để người ta tìm mua, đâu đâu cũng có bán nó, và người ta
thường mua sẵn và để một vài thanh hay viên kẹo cao su trong túi để ngay khi cần
có thể lấy ra dùng.
Có một tình trạng không chỉ riêng ở Việt Nam mà ở các nước đang phát triển trên
thế giới cũng vậy, đó là đường phố, những nơi công cộng, học đường,… Những
nới đó thường tràn ngập các bã kẹo cao su dính chặt vào tạo thành những đốm to
lấm chấm rất gây mất cảnh quan và vệ sinh. Ở một số nước phát triển, người dân
có ý thức hơn trong việc sử dụng và thải bã kẹo cao su, cũng như chính sách phạt
đối với người vi phạm. Song ở Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói
chung, tình trạng này rất phổ biến và khó giải quyết. Vì thế mà kẹo cao su không
chỉ được hưởng ứng sử dụng ở Việt Nam, mặt khác nó còn bị một bộ phận người
dân cũng như nhà quản lý phê phán.
Khi hỏi ngẫu nhiên từng người (thanh thiếu niên) trên địa bàn Hà Nội với những
câu hỏi nhanh thì có kết quả về những loại kẹo cao su được nhắc đến nhiều nhất
theo thứ tự như sau:
SINGUM COOL AIR
DOUBLEMINT
BIGBABOL
Và đây cũng là những loại xuất hiện trên hầu hết các đại lý bán buôn, bán lẻ, hàng
rong, quán nước … Có thể nói trên thị trường Việt Nam thì những loại kẹo cao su
trên là thịnh hành nhất.
Về các chương trình Quảng cáo kẹo cao su, nhiều sản phẩm trước kia vẫn gắn với
các phim Quảng cáo của nước ngoài được chỉnh sửa sơ sài thì nay công chúng
cũng cảm thấy “gần gũi” hơn với sự diễn xuất và xây dựng hình ảnh của người
Việt bằng các phim Quảng cáo của người Việt. Một số phim vẫn sử dụng từ
Quảng cáo của nước ngoài, nhưng có sự chọn lọc hơn, cụ thể là chủ yếu các phim
của người Châu Á có nền văn hóa tương đồng sản xuât, kết hợp với thuyết minh,
âm thanh chuẩn xác khiến cho người xem luôn thấy nó gần gũi như cuộc sống
hàng ngày của mình. Từ đó dễ tạo ra thiện cảm, chấp nhận, hấp dẫn, ấn tượng và
ghi nhớ về sản phẩm được Quảng cáo.
VD:
- Quảng cáo Doublemint với sự tham gia của Ngô Thanh Vân cùng nền
nhạc độc đáo, rất gây ấn tượng với công chúng và được yêu thích.
- Quảng cáo Singum cool air của Hàn Quốc với sự thuyết minh tiếng Việt
– Một anh chàng bị mất tập trung, chỉ ngồi nghịch ngợm như đười ươi,
sau khi ăn singum cool air vào bỗng dưng “sảng khoái tinh thần, tập
trung trí tuệ” và hoàn thất xuất sắc công việc. Phim quảng cáo có thể đã bước vào giai đoạn thoái trào, nhưng đó là câu chuyện
của thị trường quảng cáo quốc tế chứ không phải Việt Nam". Độc đáo về ý tưởng,
sống động về diễn xuất, hoành tráng về kinh phí thực hiện, các phim quảng cáo
đang được công chúng thưởng thức như một sản phẩm nghệ thuật.
Nhưng trong thời đại truyền thông đa phương tiện, quảng cáo truyền hình đang
dần bị lu mờ? Phim quảng cáo có còn là lựa chọn khôn ngoan của các doanh
nghiệp muốn chiếm lĩnh thị trường?
Phim quảng cáo = phim ngắn nghệ thuật
Phổ biến nhất hiện nay là các phim quảng cáo có độ dài 30 giây. Khoảng thời gian
Hard 4” nói trên, đơn vị đặt hàng phải bỏ tới 70.000 USD. Cá biệt như hãng bia
Tiger cách đây ít năm đã tiêu 1 triệu USD cho phim quảng cáo “The Quest”.
Tại sao chi phí cho phim quảng cáo lại đắt cắt cổ vậy? Xin thưa, để có 30
giây quảng cáo thực sự đẳng cấp, phải qua rất nhiều khâu mà khâu nào cũng hết
sức khó khăn.
Khâu đầu tiên là gặp gỡ khách hàng, trao đổi thông tin để tìm ý tưởng. Có
thể nói đây chính là khâu khởi đầu của thành công hoặc khởi đầu của thất bại.
Không có một ý tưởng tốt thì dù đổ vào bao nhiêu tiền, clip quảng cáo cũng không
thể thành công.
Khi có ý tưởng phù hợp, những người thực hiện sẽ xây dựng concept (khái
niệm), story board (kịch bản) và tuyển chọn diễn viên; sau đó mới đến phần ghi
hình và làm hậu kỳ.
Thường thì ê kíp thực hiện phải mất khoảng 20 ngày cho một phim quảng
cáo đơn giản; còn các phim đòi hỏi tính kỹ thuật, mỹ thuật cao thì thời gian thực
hiện còn cao hơn và đương nhiên là chi phí cũng cao hơn rất nhiều.
Có những scene (cảnh) chỉ dài 2 giây nhưng phải quay cả trăm đúp, kéo dài
trong 1-2 ngày vẫn chưa đạt yêu cầu. Những lúc như vậy, cả ê kíp vừa mệt, vừa
bức xúc.
Về lý thuyết, diễn viên đóng quảng cáo không cần phải là người nổi tiếng.
Chỉ cần ngoại hình đẹp, diễn xuất tốt là đã có thể trở thành ứng viên sáng giá. Tuy
nhiên, do các thương hiệu lớn luôn đưa ra những yêu cầu khắt khe về người đại
diện cho hình ảnh sản phẩm của mình nên những ngôi sao nổi tiếng được mời
đóng phim quảng cáo nhiều hơn.
Nhưng sự có mặt của các ngôi sao trong quảng cáo cũng đồng nghĩa với
việc chi phí thực hiện clip đội lên rất nhiều bởi cát xê cho sao có thể lên tới hàng
trăm triệu đồng. Trong khi đó những diễn viên không chuyên được chọn đóng
quảng cáo thì thù lao chỉ ở mức vài triệu đồng, thậm chí là vài trăm ngàn đồng cho
một vai diễn phụ.
Đối với các đạo diễn và quay phim, tuy việc làm clip quảng cáo không đem
lại cho họ nhiều danh tiếng nhưng chẳng mấy người lại không ham làm phim
Nhưng nhiều nhà nghiên cứu hiện nay lại cho rằng quảng cáo đã mất đi sức
mạnh thực sự của nó. Theo thông tin chưa chính thức, ước tính ở Việt Nam có hơn
3.000 phim quảng cáo/năm, tức mỗi ngày người xem truyền hình được “thưởng
thức” gần 10 phim quảng cáo.
Một thống kê khác cho thấy, mỗi đợt quảng cáo chen giữa chương trình
truyền hình có thể xuất hiện đến gần 20 mẩu quảng cáo. Trong khi đó, mỗi đoạn
quảng cáo chỉ kéo dài 30 giây. Do đó, rất khó để định vị được thương hiệu trong
tâm tưởng công chúng.
Nhà chiến lược nổi tiếng về tiếp thị của Mỹ, Giáo sư Al Ries đã viết trong
cuốn “Quảng cáo thoái vị và PR lên ngôi” (The Fall of advertising anh the Rise of
PR): “Cách mà người ta nhìn quảng cáo bây giờ chẳng khác gì cách họ đọc một
cuốn tiểu thuyết hay xem một chương trình biểu diễn trên truyền hình. Họ quan
tâm đến các nhân vật, các tình huống, các âm mưu mà không mảy may có động cơ
sẽ có hành động gì để đóng góp vào đó, kể cả mua sản phẩm. Đó chỉ là nghệ
thuật”
Al Ries cũng cho rằng, với việc phim quảng cáo ngày càng tiến gần đến
nghệ thuật, mục tiêu thúc đẩy doanh số bán hàng của doanh nghiệp nhờ quảng cáo
sẽ không như mong muốn. Do đó thời của quảng cáo đã hết.
Thế nhưng, đó chưa phải là thực tế của ngành quảng cáo Việt Nam. Từng ngày
từng giờ, các quảng cáo vẫn liên tiếp xuất hiện trên sóng truyền hình. Với mức giá
vài chục triệu đồng cho một lần phát sóng 30 giây quảng cáo, các thương hiệu lớn
vẫn sẵn sàng chấp nhận. Bởi khi đoạn quảng cáo thực sự hấp dẫn, khán giả sẽ nhớ
đến thương hiệu một cách tự nhiên.
Giải thích về thực tế này, một chuyên gia kinh tế cho biết: "Phim quảng cáo có thể
đã bước vào giai đoạn thoái trào, nhưng đó là câu chuyện của thị trường quảng cáo
quốc tế chứ không phải Việt Nam. Nguyên do là ở những thị trường lớn như Mỹ,
Anh, Đức , các phương tiện quảng bá phát triển với tốc độ chóng mặt, các loại
hình quảng cáo mới liên tục được khai phá với công nghệ ngày càng hiện đại hơn,
hóa, thói quen sử dụng kẹo cao su trong lòng công chúng, khách hàng.
Ở Việt Nam, quá trình mở cửa và du nhập những nét văn hóa bên ngoài chậm hơn
nhiều so với Hàn Quốc … Cũng vì thế mà thị trường kẹo cao su tuy đã phát triển
rộng nhưng chưa thực sự mạnh mẽ, chưa tạo đủ mọi điều kiện để các nhà sản xuất
cũng đẩy mạnh công tác xúc tiến sản phẩm, tăng cường Quảng cáo, marketing
thương hiệu tới tay người tiêu dùng. So với các sản phẩm gần ngành như đồ uống,
kẹo mút, snack … thì không có gì là đặc biệt, thậm chí còn thua kém nhiều so với
một số sản phẩm đã có sự đầu tư và tư vấn kỹ lưỡng về chính sách thu hút khách
hàng. VD: Cocacola, Pepsi …
Tổng hợp lại thì có thể kết luận rằng: Quảng cáo các sản phẩm về kẹo cao su ở
Việt Nam đã có những sự tiến triển rất tốt, nhưng chưa thực sự được đi vào
chuyên sâu, ở đây mới chỉ như chúng ta xúc tiến bán hàng, giúp mở rộng thị phần
cho các sản phẩm kẹo cao su của nước ngoài du nhập vào Việt Nam, từ đó bán
hàng và kiếm lợi nhuận cùng với họ. Nguyên nhân chủ yếu là khách quan, nhưng
trong thời gian này và tới đây, khi đất nước ngày càng có sự du nhập, giao lưu
mạnh mẽ hơn nữa từ nước ngoài, đặc biệt là phương Tây, thì thị trường trong nước
sẽ ngày một phát triển và đổi khác. Vì thế vai trò của Quảng cáo sẽ cần được nâng
cao.
PHẦN BA: NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA QUẢNG CÁO TỚI THÓI
QUEN TIÊU DÙNG KẸO CAO SU CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VIỆT NAM
3.1 Các lý do dẫn đến hành vi mua của người tiêu dùng:
Khi người tiêu dùng quyết định mua một sản phẩm nào đó, họ tất nhiên đã cân
nhắc kỹ và chấp nhận về việc có được sản phẩm đó và bỏ tiền ra để có nó. Vậy khi
khách hàng tiêu thụ kẹo cao su thì những lý do chủ yếu nào đã khiến họ dẫn đến
hành vi mua nó?
đó những bao bì nhiều màu sắc, hấp dẫn luôn thu hút trẻ em. Trẻ em hiện nay
thường được bố mẹ cho rất nhiều tiền tiêu vặt hàng ngày, và hầu như chúng đều
được thoải mái, tự do trong việc sử dụng số tiền đó. Tất nhiên hầu hết tiền tiêu vặt
của trẻ sẽ được tiêu vào việc ăn quà vặt. Ngoài các yếu tố gây thu hút với trẻ em
giống như các sản phẩm bánh kẹo khác, thì kẹo cao su nổi trội hơn ở chỗ nó có thể
vừa ăn vừa chơi trò thổi bóng mà không thấy chán. Đây là điểm lợi thế hơn hẳn
của kẹo cao su khi thu hút trẻ em.
Ngoài các lý do trên thì kẹo cao su còn có nhiều đặc tính, công dụng khác về mặt y
tế, chăm sóc sức khỏe. Gần đây các loại kẹo cao su Extra Xylitol đang được
Quảng Cáo và phát triển trên thị trường, và mới xuất hiện ở thị trường Việt Nam
không lâu. Các khác hàng chung ở mọi độ tuổi tiêu dùng sản phẩm này với mục
đích bảo vệ răng miệng, chống sâu răng, luyện tập cơ hàm … Cũng có những loại
kẹo cao su được chế tạo riêng để trị liệu giúp giảm cân, ổn định tâm lý. Ở đây, kẹo
cao su đã được người ta sử dụng giống như các loại dược phẩm. 3.2Tác động của Quảng cáo:
Như đã nói ở phần hai, các chương trình Quảng cáo về kẹo cao su trên thị trường
Việt Nam đã bước đầu có được những thành quả cụ thể. Đó là những sự tiến bộ về
việc sản xuất, phát sóng các phim Quảng cáo truyền hình và lồng tiếng, phát sóng
phim Quảng cáo hay chọn lọc từ nước ngoài.
Đối tượng khách hàng tiêu thụ phần lớn các sản phẩm kẹo cao su là thanh thiếu
niên và trẻ em, đối tượng này thường xuyên và chủ yếu chịu tác động bởi các
chương trình Quảng cáo trên truyền hình.
Qua phỏng vấn cho thấy, các chương trình Quảng cáo trên truyền hình thì Quảng
cáo về kẹo cao su được người tiêu dùng đánh giá chung là độc đáo, thú vị và sáng
tạo. Phần lớn trong số đó chỉ là những phim Quảng cáo của một hai thương hiệu