Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại rừng quốc gia Yên Tử thành phố Uông Bí, Quảng Ninh - Pdf 24


1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Ngô Đức Hậu NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NGƢỜI DÂN
ĐỊA PHƢƠNG ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI
RỪNG QUỐC GIA YÊN TỬ THÀNH PHỐ
UÔNG BÍ-QUẢNG NINH Chuyên ngành : Lâm học Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp Thái Nguyên, 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


3
Ngày 23 tháng 4 năm 2001, UBND tỉnh Quảng Ninh ra quyết định số
1068/QĐ-UB Về việc phê duyệt dự án đầu t rừng đặc dụng Yên Tử giai đoạn
2001- 2010 [20] với diện tích 2.668,5 ha ở 3 tiểu khu rừng số 9, 32 và 36 thuộc xã
Th-ợng Yên Công thị xã Uông Bí ( nay l thnh ph Uụng Bớ).
Ngy 26/9/2011 Th tng chớnh ph ra quyt nh s 1671/Q-TTg v vic
thnh lp Khu rng quc gia Yờn T v d ỏn u t Khu rng quc gia Yờn T,
tnh Qung Ninh [21] vi tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là: 2.783 ha, (trong
ú din tớch rng t nhiờn l 2.060,3 ha; din tớch rng trng l 545,5 ha v t
trng trng rng l 177,2 ha) trong đó diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là
768,4 ha, phân khu phục hồi sinh thái cnh quan l 1.855,3ha, phân khu hành
chính dịch vụ 159,3 ha. Ton b diện tích trờn ó bao trn hu ht cỏc im di tớch
lch s vn hoỏ, với hơn 650 h gia ỡnh ang sinh sống 4 thụn dõn c thuc xã
Th-ợng Yên Công, 01 thụn thuc xã Ph-ơng Đông thành phố Uông Bí- Quảng
Ninh và 01 thụn thuc xã Tràng L-ơng huyện Đông Triều- Quảng Ninh .
Theo kết quả điều tra, hệ sinh thái rừng Yên Tử n nay chứa nhiều nguồn
gen động vật, thực vật quý hiếm; bao gồm 706 loài thc vt thuc 423 chi, 152 h
ca 3 ngnh thc vt bc cao cú mch ( ỏnh giỏ tớnh a dng thc vt rng c
dng Yờn T- Qung Ninh nm 2006 ca Thc s khoa hc lõm nghip Phựng
Vn Phờ) [16] và 151 loài động vật, trong ú thỳ l 15 loi; Chim l 77 loi; Bũ sỏt
l 24 loi v Lng thờ l 15 loi( Danh mục động, thực vật rừng Yên Tử của k s
Tc - Trung tõm ti nguyờn mụi trng rng- Vin iu tra quy hoch rng
năm 2002) [31], trong đó có nhiều loài có tên trong sách đỏ Việt Nam nh-: Chũ
dói, Kim giao, Hong ng, G lau, Th phc linh, Vự hng, Sn mt, Nhụng
Cỏ su, nh ang, ch gai, rừng Yên Tử điển hình với kiểu rừng th-ờng xanh á
nhiệt đới núi thấp, với thành phần loài cây phân bố chủ yếu là Táu mật; Sao hòn
gai; Lim xanh; Sến mật; Hồng tùng; Trầu tiên; Sú rừng ; rừng trồng là 545,5 ha
bao gồm Bạch đàn trằng, Keo lá tràm và Thông mã vĩ); Diện tích đất trống là 177,2
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn

S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn

5
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1.1. Ở nƣớc ngoài.
Trên thế giới, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay
đổi chiến lược bảo tồn từ đầu thập kỷ 80. Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình
thành và khẳng định ưu việt, đó là liên kết quản lý khu rừng đặc dụng (RĐD); khu
bảo tồn thiên nhiên ( KBTTN) và vườn quốc gia ( VQG) với các hoạt động sinh kế
của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các hoạt động trên
cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết đinh.
Ý tưởng về một khu rừng nhất định cần được bảo vệ khỏi tác động khai thác
sử dụng thường nhật của con người đã có ít nhất từ 3000 năm trước đây vào thời vua
Ai Cập Ikhnaton hoặc thậm chí sớm hơn (Alison 1981, trong Hunter 1996) ( dẫn theo
Nguyễn Xuân Đặng, 2005) [9].
Năm 1872 VQG gia đầu tiên trên thế giới được thành lập ở Mỹ, đó là VQG
Yellowstone. VQG nằm trên vùng đất do người Crow và người Shoshone sinh sống
trên cơ sở sử dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời bỏ mảnh đất
của họ. Nhiều RĐD, KBTTN và VQG được thành lập sau đó ở các nước khác nhau
trên thế giới cũng sử dụng phương pháp quản lý theo mô hình này, có nghĩa là ngăn
cấm người dân địa phương thâm nhập vào RĐD, KBTTN, VQG và tiếp cận tài
nguyên trong đó. Điều đó dẫn đến những hậu quả tất yếu làm nảy sinh nhiều mâu
thuẫn giữa cộng đồng địa phương, khu bảo tồn và mục đích bảo tồn tài nguyên đã
không đạt được [14].
Ở Philippines chiến lược Quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học nêu rõ rằng “
Điều chủ chốt dẫn đến chiến thắng cho bảo tồn đa dạng sinh học là phải đảm bảo
rằng các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quy
định về chính sách liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch
và quản lý đối với bảo tồn đa dạng sinh học ( Denr và TCSD, 1994) ( dẫn theo Lê Sỹ
Trung, 2005) [29, Tr. 7].


7
Ở Đông Nam châu Á, sự tham gia của người dân địa phương vào công tác bảo
tồn đa dạng sinh học là một biện pháp cần thiết và thường có hiệu quả. Lý do để
khuyến khích sự tham gia này là: Nỗ lực của các cơ quan Chính phủ nhằm đưa dân
chúng ra khỏi các khu bảo tồn đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả
phương diện quản lý tài nguyên rừng và kinh tế xã hội. Việc đưa người dân vốn quen
sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới chẳng khác nào “ bắt cá khỏi nước” và khi
đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác tài nguyên rừng mà không có người
bảo vệ. Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài
nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý
các nguồn tài nguyên này [29].
Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các RĐD,
KBTTN và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản
lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của người dân địa phương. Ở
VQG Kakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với
VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và
được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý. Tại
VQG Wasur ( Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ
truyền[14].
Ở Thái Lan, hệ thống quản lý khu bảo vệ trước đây đã nhấn mạnh các quyền
sở hữu và kiểm soát rừng của Nhà nước mà không chú ý tới ảnh hưởng giữa con
người và các nguồn tài nguyên, đã dẫn tới những thất bại vì tỷ lệ phá rừng hàng năm
vẫn ở mức cao 2,6%. Một nghiên cứu tại vùng đệm của khu bảo tồn động vật hoang
dã Phu Kheio, Đông Bắc Thái Lan đã giới thiệu một cách tiếp cận mới để quản lý
chúng trên cơ sở thu hút sự tham gia của người dân địa phương trong tiến trình, kết
quả thảo luận ở đây cũng đã khẳng định rằng, có một cơ hội để tạo ra một sự hiểu biết
tốt hơn giữa người dân nông thôn về tầm quan trọng của trồng rừng và bảo tồn thiên
nhiên sẽ dẫn đến một cách quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên trong tương lai [44].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


9
KBTTN ở Việt Nam là một trong những nước có ĐDSH cao nhất thế giới và được
mở rộng rất nhanh trong 30 năm qua với khoảng 70 VQG, khu dự trữ thiên nhiên
và khu bảo vệ cảnh quan mới được thành lập trong thập kỷ 80, trong đó có VQG
Ba Bể. Tính đến trước thời điểm rà soát quy hoạch 3 loại rừng theo Chỉ thị số
38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ, hệ thống rừng đặc
dụng đã được thành lập gồm 128 khu, với tổng diện tích tự nhiên là 2.395.200 ha,
trong đó có 30 VQG, 60 KBTTN và 38 khu bảo vệ cảnh quan. Bên cạnh những
thành công, những đóng góp tích cực của hệ thống rừng đặc dụng này đối với việc
bảo vệ môi trường và ĐDSH toàn cầu thì chúng đang phải đối mặt với tình trạng
suy giảm ĐDSH do tác động của nhiều yếu tố [2].
Quan niệm về công tác bảo tồn trước hết phải xuất phát từ các quy định mang
tính pháp lý. Đó là các điều khoản được ghi trong Luật BV&PTR ban hành ngày
12/08/1991, Luật BV&PTR sửa đổi ban hành ngày 03/12/2004. Quyết định số
08/2001/QĐ-TTg ban hành ngày 11/01/2001 đã đề cập đến việc Ban quản lý các
khu bảo vệ được xây dựng các quy định về phạm vi sử dụng rừng đối với người
dân địa phương sinh sống trong các KBT. Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số
186/2006/QĐ-TTg ngày 14/08/2006 về việc ban hành Quy chế quản lý rừng, thay
thế quyết định số 08/2001/QĐ-TTg, trong đó, quản lý rừng đặc dụng được quy
định rất rõ [3] [5] [24]cụ thể như sau:
- Rừng đặc dụng bao gồm các loại: VQG, KBTTN, khu bảo vệ cảnh quan,
khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học [5, Tr. 5].
- Trong VQG và KBTTN, Rừng ĐD được chia thành 3 phân khu chức năng
chính sau: (1) Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt : Là khu vực có diện tích vừa đủ để
bảo vệ nguyên vẹn hệ sinh thái tự nhiên như mẫu chuẩn sinh thái quốc gia, được
quản lý, bảo vệ chặt chẽ để theo dõi diễn biến tự nhiên của rừng và hệ sinh thái;
Đối với rừng đặc dụng ở vùng đất ngập nước, phạm vi và quy mô của phân khu
bảo vệ nghiêm ngặt được xác định theo mục tiêu, đối tượng, tiêu chí bảo tồn và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
triển. Đó là làm sao dung hòa mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và
phát triển kinh tế - xã hội của người dân địa phương.
Theo Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê trọng Cúc , Trần Đức Viên (1997),
đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương vào rừng.
Tác giả đã chỉ ra rằng: Diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã giảm
sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như: tre nứa, nấm,
cây dược liệu, động vật hoang dã và được xem như là nguồn sinh kế chủ yếu của
người dân miền núi [25, Tr. 1,2]
D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), đã thực hiện một nghiên cứu về
quản lý vùng đệm tại 3 VQG: Ba Vì, Bạch Mã và Cát Tiên. Kết quả nghiên cứu đã
phản ánh khá rõ nét tình trạng vùng đệm ở Việt Nam như: Tình hình KT-XH, tình
trạng bảo tồn tại các VQG và vùng đệm; hoạt động phát triển trong các vùng đệm;
tổ chức,thể chế cho quản lý vùng đệm Các kết luận đưa ra mới dừng lại ở tầm vĩ
mô như nguyên tắc, phương hướng chung, chưa cụ thể hóa làm cái gì và làm như
thế nào.
Kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Lân (1999), Đỗ Anh Tuân (2001) (dẫn
theo Ngô Ngọc Tuyên, 2007) được thực hiện tại KBTTN Pù Mát đã đưa ra một số
kết luận rằng: (1) Các nông hộ trong vùng đệm Pù Mát có sự gắn bó chặt chẽ với
rừng, nguồn thu nhập từ khai thác lâm sản và canh tác nương rẫy đóng vai trò quan
trọng trong tổng thu nhập của mỗi nông hộ. Hiện nay, các nông hộ đang có sự
chuyển đổi về sinh kế, song mới chỉ có rất ít ở các hộ có hiểu biết và có vốn đầu
tư; (2) Hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng TNR một cách bất hợp
pháp. Tại thời điểm nghiên cứu, 34% tổng thu nhập hàng năm của một HGĐ trong
vùng đệm và 62% tổng thu nhập của một HGĐ trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt là
từ rừng. Việc thành lập KBTTN ( năm 1997) đã làm giảm 30% - 71,4% diện thích
đất và khoảng 50% thu nhập từ rừng của người dân địa phương; (3) Mặc dù đã có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12

quan hệ giữa tổng thu nhập với các nhân tố trong khai thác TNR tại KBTTN Na
Hang, Tuyên Quang. Tác giả đã lựa chọn 4 dân tộc chính trong khu vực, mỗi dân
tộc 30 HGĐ để phỏng vấn, nhưng chưa chỉ ra cho người đọc cách thức "sử dụng
tài nguyên rừng " là hình thức có tác động bất lợi nhất, các dân tộc khác nhau thì
mức độ tác động cũng khác nhau. Nghiên cứu đã sử dụng hàm Cobb-Douglas để
phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến thu nhập của HGĐ, tuy nhiên phân tích
mới dừng lại ở 3 yếu tố nguồn lực mà chưa phân tích đến các yếu tố hiệu quả.
Vấn đề giảm đất đai canh tác của các cộng đồng do hình thành VQG là một
thực tế diễn ra ở nhiều nơi. Đỗ Thị Hà cho rằng sau khi thành lâp VQG Tam Đảo,
đất của các hộ trong thôn bị mất đi, thu nhập về lâm nghiệp tập trung vào một số
chủ rừng, ảnh hưởng tới sự phân công lao động trong HGĐ (dẫn theo Nguyễn Thị
Phương, 2003) [15].
Một nghiên cứu về nhu cầu sử dụng gỗ củi của Lê Thu Hiền (2003) [11],
được thực hiện tại xã Khang Ninh -một xã vùng đệm VQG Ba Bể cho thấy: Gỗ củi
là nhiên liệu chính sử dụng làm chất đốt ở đây, loại nhiên liệu này có nguồn gốc từ
gỗ lớn là 2,8%, gỗ nhỏ là 27%,cây bụi là 53,5% và cành nhánh là 16,9%. Nhu cầu
sử dụng gỗ củi bình quân mỗi hộ gia đình là khá cao 20,3 kg/ngày, trong đó ở
vùng cao là 26kg/ngày ở vùng thấp là 17,5kg/ ngày .Đặc biệt, nguồn cung cấp gỗ
củi cho người dân địa phương chủ yếu từ rừng tự nhiên, rừng phục hồi, đồi trọc và
cây trồng phân tán .
Cũng tại VQG Ba Bể tác giả Lê Đức Vượng (2007) [41], đã bước đầu tìm
hiểu sự phụ thuộc của người dân địa phương vào tài nguyên rừng tại 2 thôn của xã
Nam Mẫu - một xã nằm trọn trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Kết quả nghiên
cứu tuy độc lập ở từng thôn trong xã Nam Mẫu nhưng phần nào đã khẳng định
được vai trò của lâm sản đối với người dân địa phương cũng như sự phụ thuộc của
họ vào TNR thông qua tỷ trọng giữa thu nhập từ lâm sản nói chung so với tổng thu
nhập của hộ gia đình (40,18% đối với thôn Cốc Tộc, 50,92% đối với thôn Nặm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14

- Thiếu những công trình nghiên cứu theo hướng toàn diện, kết hợp phân tích
tác động bất lợi với phân tích tác động có lợi làm cơ sở cho việc đề ra các giải
pháp giảm thiểu những tác động bất lợi của người dân địa phương vào tài nguyên
rừng tại các rừng đặc dụng, KBT, VQG.
- Một số nghiên cứu chưa làm rõ được dung lượng, cơ cấu mẫu điều tra theo
từng phương pháp cụ thể; chưa đưa ra được các chỉ số, chỉ báo thể hiện sự thay
đổi, biến đổi TNR qua các giai đoạn khác nhau.
- Hầu hết các giải pháp đưa ra trong những nghiên cứu dạng này còn chung,
tản mạn, đặc biệt mới chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng, có nghĩa là mới khẳng định
đó là giải pháp gì (Cái gì), chứ chưa chỉ ra được làm như thế nào.
Vì vậy, vấn đề này cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


- Về nội dung nghiên cứu: Lun vn nghiên cứu những tỏc ng bt li ca
ngi dõn a phng tại RQG Yên Tử thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.
Nhng tỏc ng tớch cc (cú li) khụng thuc phm vi nghiờn cu chớnh ca lun
vn, nhng luụn c chỳ ý nhm to nn tng cho vic xut cỏc bin phỏp bo
v, qun lý v phỏt trin rng ti khu vc nghiờn cu.
+ Lun vn ch gii hn vic xỏc nh nhng tỏc ng, nguyờn nhõn, mc
tỏc ng ca cng ng sng trong vựng m RQG Yờn T, nhng cng ng
dõn tc sng ngoi khu vc ny khụng thuc phm vi nghiờn cu ca lun vn.
+ Lun vn cp ti 4 loi kinh t h chớnh ca cng ng l h rt nghốo,
h nghốo, h thoỏt nghốo( h trung bỡnh) v h khỏ. Vic xỏc nh loi kinh t h
khụng thuc phm vi nghiờn cu ca lun vn.
2.4. Ni dung nghiờn cu
Phõn tớch v ỏnh giỏ nhng tỏc ng bt li ca cỏc h gia ỡnh ng bo
dõn tc vo ti nguyờn rng ti RQG Yờn T.
Phõn tớch cỏc nguyờn nhõn dn n nhng tỏc ng bt li ti nguyờn rng.
Phõn tớch cỏc nguyờn nhõn c bn khỏc dn ti nhng tỏc ng bt li ca
ngi dõn a phng n ti nguyờn rng ti RQG Yờn T.
xut cỏc gii phỏp lm gim thiu cỏc tỏc ng bt li v thu hỳt ngi
dõn tham gia qun lý bo v v phỏt trin ti nguyờn rng ti RQG Yờn T.
2.5. Quan im v phng phỏp nghiờn cu
2.5.1. Quan im v phng phỏp lun
Nghiờn cu c thc hin da trờn: (1) Lý lun v lý thuyt h thng; (2)
Quan im sinh thỏi - nhõn vn; (3) Quan im bo tn - phỏt trin v (4) Tip cn
cú s tham gia.
Mt l, vn dng lý lun v lý thuyt h thng: H thng c hiu l mt
cu trỳc hon chnh ca t nhiờn, nú bao gm nhiu b phn chc nng liờn kt vi
nhau mt cỏch cú t chc v trt t, tn ti v vn ng theo nhng quy lut thng
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn

18

truyền các chính sách, gắn kết người dân thành cộng đồng thống nhất trong việc
thực thi quản lý bảo vệ TNR. Những tác động của người dân địa phương đến TNR
liên quan chặt chẽ với các yếu tố xã hội, vì vậy đề tài tiến hành nghiên cứu các
nguyên nhân xã hội chi phối sự tác động của người dân địa phương đến TNR và
nghiên cứu đề xuất giải pháp xã hội nhằm làm giảm thiểu những tác động bất lợi
này.
TNR là một hệ thống tự nhiên, trong đó các thành phần có mối quan hệ tương
tác chặt chẽ. Bất kỳ một tác động nào từ bên ngoài tới TNR cũng dẫn đến sự thay
đổi các thành phần và chức năng của hệ thống. TNR vốn tồn tại khách quan và vận
động theo những quy luật tự nhiên. Vì vậy, để bảo tồn TNR, những tác động của
con người phải phù hợp với quy luật tự nhiên và giảm thiểu những tác động bất lợi
tới nó.
Hai là, quan điểm sinh thái - nhân văn: Thực tế cho thấy, các hoạt động kinh
tế xã hội trong cộng đồng hay trong mỗi HGĐ đều rất đa dạng và phong phú. Nó
phản ánh đặc điểm sinh thái và mối quan hệ KT-XH. Điều này chỉ ra rằng, các
hoạt động trong cộng đồng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố và có một yếu tố nào
đó giữ vai trò quan trọng trong cộng đồng này vào thời điểm này nhưng lại không
phải quan trọng trong thời điểm khác hoặc trong cộng đồng khác. Để giải thích tác
động bất lợi của người dân địa phương đến TNR, đề tài sử dụng tháp sinh thái -
nhân văn của Park (1936) đã được Teherani Kroenner (1992) và Nguyễn Bá Ngãi
(2001) mô phỏng [32, tr.79].
Mô hình sinh thái - nhân văn được Park thiết kế theo hình tháp dựa trên các
hoạt động xã hội của cộng đồng chịu sự chi phối của 4 bậc của các nhóm nhân tố
theo trình tự: Bậc sinh thái, bậc kinh tế, bậc thể chế chính sách và bậc đạo đức. Mô
hình này đề cập đến quan hệ giữa sắp xếp thứ bậc các nhóm nhân tố với các hoạt
động của cá nhân và sự bền vững.
Dựa trên hình tháp này (Hình 2.1) có thể giải thích: Quan hệ giữa tác động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20

giảm thiểu những tác động bất lợi tới TNR, bảo tồn và phát triển bền vững TNR
đều dựa trên cơ sở sinh thái và đảm bảo được các yếu tố về kinh tế và xã hội của
người dân địa phương.
Ba là, quan điểm bảo tồn - phát triển: Theo Gilmour D.A và Nguyễn Văn
Sản (1999) [10, tr.9], quan điểm bảo tồn và phát triển là để liên kết việc bảo tồn
tài nguyên và những nhu cầu phát triển địa phương, bao gồm 3 thành phần chính
(cách tiếp cận) sau [8]:
- Thứ nhất là nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thể được
đáp ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài nguyên sẽ được
giảm bớt và tài nguyên được bảo tồn: "Cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh
kế".
- Thứ hai là nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quan
tâm đến việc bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cộng sống vẫn còn chưa
được đáp ứng thì trước hết cần phải nỗ lực cải thiện nền kinh tế - xã hội của họ đủ
tốt để họ có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên: "Cách tiếp cận phát
triển kinh tế".
- Thứ ba là cộng đồng địa phương đó cũng đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên
thiên nhiên nếu như họ có thể được tham gia một cách tích cực vào việc quy hoạch
và quản lý sử dụng tài nguyên và được chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó. Theo
cách này, tài nguyên có thể được bảo tồn trong khi một số nhu cầu cơ bản của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22
người dân địa phương được đáp ứng thông qua việc sử dụng và khai thác tài
nguyên một cách hợp lý và bền vững: "Cách tiếp cận tham gia quy hoạch".
Trong nghiên cứu này, cả 3 cách tiếp cận trên được vận dụng linh hoạt để
thực hiện nội dung thứ 3 "Đề xuất các giải pháp làm giảm thiểu các tác động bất
lợi và thu hút người dân tham gia vào quản lý bảo vệ và phát triển TNR tại Rừng
quốc gia Yên Tử”
Bốn là, tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu: Sự tham gia được

thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm;
Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về
việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng
ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp;
Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006 của Thủ tướng chính phủ
về việc ban hành Quy chế quản lý rừng; Thông tư số 99/2006/QĐ-BNN ngày 06
tháng 11 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc hướng dẫn
thực hiện một số điều của Quy chế quản lý rừng;
Đề án giao rừng, cho thuê rừng giai đoạn 2007- 2010; Nghị định số
23/2006/NĐ-CP, ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát
triển rừng;
Quyết định số 2370/QĐ/BNN- KL ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Bộ
trưởng; Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc phê duyệt Đề án về chương trình đầu tư
xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam giai đoạn
2008 - 2020;
Luật Đa dạng sinh học ban hành ngày 28 tháng 11 năm 2008 theo Lệnh của
Chủ tịch nước số 20/2008/QH12 (được Quốc hội khóa XII nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 4 ngày 13 tháng 11 năm 2008).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

24
Đề án hỗ trợ người dân vùng cao canh tác nông lâm nghiệp bền vững trên
đất nương rẫy giai đoạn 2008 - 2012.
Thông tin và văn bản liên quan đến quy hoạch phát triển và quản lý Rừng
quốc gia Yên Tử chương trình phát triển KT-XH vùng đệm rừng quốc gia Yên Tử.
Tổng quan; phương hướng phát triển KT-XH; quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất đến năm 2015 của các xã thuộc vùng đệm.
Các tài liệu liên quan khác đến RQG Yên Tử và địa phương
2.5.2.2. Chọn địa điểm nghiên cứu
Các điểm nghiên cứu được lựa chọn sau khi khảo sát sơ bộ một số xã vùng

Vị trí
Dân tộc
Chú thích
1
Vàng
Danh
Uông Bí,
Quảng Ninh
Vùng
đệm
Kinh, Tày,
Dao,
Không lựa chọn, vì không
có dân tộc Sắn dìu
2
Thƣợng
Yên
Công
Uông Bí,
Quảng Ninh
Vùng
lõi
Kinh, Tµy,
Dao Nïng,
S¾n d×u,
Lựa chọn làm xã nghiên
cứu điểm
3
Thanh
Sơn

Tràng
Lƣơng
Đông Triều,
Quảng Ninh
Vùng
đệm
Tµy, Dao,
S¾n d×u,
Nïng, Kinh
Lựa chọn làm xã nghiên
cứu điểm
Ghi chú: Các xã, phường được lựa chọn nghiên cứu có chữ in đậm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trích đoạn 12-I IA112-I I A Khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status