Nghiên cứu tác động của người dân địa phương địa phương xã Cán Tỷ đến tài nguyên rừng Khu bảo tồn thên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
 NÔNG ĐỨC MẠNH “NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG XÃ
CÁN TỶ ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
BÁT ĐẠI SƠN, TỈNH HÀ GIANG”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Lâm Nghiệp
Khoa : Lâm Nghiệp
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : 1. TS. Dương Văn Thảo
2. ThS. Lê Văn Phúc

Khoa Lâm nghiệp – Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Thái nguyên, năm 2014 LỜI CAM ĐOAN

Em xin chân thành cảm ơn toàn thể quý thầy cô trường Đại Học Nông
Lâm Thái Nguyên. Quý thầy cô Khoa Lâm nghiệp đã dạy dỗ, truyền đạt những
kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt 4 năm học tập và rèn luyện tại
trường. Em xin bay tỏ lòng biết ơn và cám ơn thầy TS. Dương Văn Thảo cùng
thầy Th.S. Lê Văn Phúc là người hướng dẫn em thực hiện khóa luận này.
Em xin được gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên
Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, anh Giàng Minh Hải người
đã dẫn đường trong các tuyến điều tra, toàn thể các hộ gia đình đã tạo điều
kiện giúp đỡ em trong quá trình điều tra, thu thập thông tin, số liệu và đóng
góp ý kiến xây dựng phục vụ công tác nghiên cứu.
Với vốn kiến thức hạn hẹp, thiếu kinh nghiệm nên khó tránh khỏi sai sót.
Em kính mong được những ý kiến đóng góp của thầy cô, ban chủ nhiệm khoa
cùng những ý kiến của thầy hướng dẫn sẽ giúp em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn!
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 5 năm 2014

Sinh viên Nông Đức Mạnh


Bảng 2.1. Hiện trạng sử dụng đất khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn 11
Bảng 2.2. Trữ lượng các loại rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn 12
Bảng 2.3. Dân số và tốc độ tăng trưởng dân số 14
Bảng 4.1. Lâm sản khai thác từ tài nguyên rừng của cộng đồng địa phương 23
Bảng 4.2. Khối lượng trung bình lâm sản khai thác của hộ gia đình 24
Bảng 4.3. Mức độ chăn thả gia súc của các hộ gia đình 26
Bảng 4.4. Cơ cấu đất đai của xã Cán Tỷ, huyện Quản Bạ 27
Bảng 4.5. Kết quả tổng hợp cơ cấu nguồn thu theo nhóm hộ gia đình 28 DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ

Hình 3.1. Tháp sinh thái nhân văn trong nghiên cứu sự tác động của cộng
đồng người dân địa phương tới tài nguyên rừng 17
Hình 4.1. Bách xanh bị khai thác 25
Hình 4.2. Biểu đồ thể hiện cơ cấu nguồn thu theo nhóm hộ gia đình 29
Sơ đồ 3.2: Các bước thực hiện nghiên cứu 22

MỤC LỤC
Trang

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4. Ỹ nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

4.4. Đề xuất giải pháp kinh tế - xã hội 33
4.4.1. Đào tạo nghề giải quyết việc làm cho người dân địa phương 33
4.4.2. Phát triển rừng cộng đồng tại các thôn, bản 33
4.4.3. Đầu tư cho công tác xây dựng cơ sở hạ tầng 33
4.4.4. Khuyến khích người dân sử dụng tiết kiệm củi và hướng tới các
nguồn chất đốt thay thế 34
4.4.5. Trách nhiệm các cấp chính quyền và Ban quản lý khu bảo tồn 34
4.4.6. Phát triển du lịch 35
4.4.7. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hộ gia đình 35
4.4.8. Hỗ trợ vay vốn 36
4.5. Đề xuất một số một số giải pháp bảo tồn lâm sản quý hiếm 36
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37
5.1. Kết luận 37
5.2. Kiến nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong
mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường. Rừng có vai trò rất quan
trọng đối với cuộc sống của con người cũng như môi trường: cung cấp nguồn
gỗ, củi, điều hòa, tạo ra oxy, điều hòa nước, là nơi cư trú của động thực vật và
tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói
mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người…. Vai trò của
rừng là rất to lớn, tuy nhiên có một số nguyên nhân dẫn đến diện tích rừng
ngày càng thu hẹp, đó là do tác động của chiến tranh, áp lực về dân số ở các
vùng tăng nhanh, nghèo đói, người dân sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài
nguyên rừng, trình độ dân trí vùng sâu vùng xa còn thấp kiến thức bản địa

rừng đã dần phục hồi trở lại. Có được kết quả đó là do những cơ chế chính
sách trên của Chính phủ đã bước đầu tạo được sự chuyển biến theo hướng xã
hội hóa nghề rừng, làm cho rừng có chủ và người dân đã chủ động tham gia
quản lý bảo vệ rừng (Chỉ thị số 286/TTg Thủ Tướng Chính Phủ, 1997) [14].
Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn được thành lập theo quyết định số
2601/QĐ-UB ngày 06/10/2000 của UBND tỉnh Hà Giang, có nhiệm vụ chính
là bảo vệ hệ động, thực vật trên núi đá vôi, bảo vệ nguồn gen và cảnh quan
môi trường, phát huy tính phòng hộ đầu nguồn khu vực (Quyết định số
2601/QĐ-UB UBND tỉnh Hà Giang, 2000) [19].
Bát Đại Sơn là khu vực thuộc vùng núi phía bắc, người dân sinh sống ở
đây chủ yếu là người dân tộc thiểu số, đời sống còn nhiều khó khăn, sống phụ
thuộc vào rừng. Hoạt động sống của người dân nơi đây ít nhiều ảnh hưởng tới
hệ động thực vật trong khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn. Vì vậy chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu tác động của người dân địa phương địa phương xã Cán Tỷ đến
tài nguyên rừng Khu bảo tồn thên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang”
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những tác động của người dân địa phương đến tài nguyên
rừng khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn làm cơ sở từ đó đề xuất một số giải
pháp nhằm giảm thiểu những tác động của người dân địa phương đến tài
nguyên rừng.
3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định những tác động tiêu cực và tích cực của người dân địa
phương tới tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn – Hà
Giang.
- Đề xuất biện pháp làm giảm thiểu tác động tiêu cực và phát huy
những tác động tích cực của người dân tới tài nguyên rừng.
1.4. Ỹ nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học

vùng đệm, không di dân từ bên ngoài vào vùng đệm với bất cứ hình thức nào;
tích cực phát triển kinh tế góp phần ổn định và từng bước nâng cao đời sống
vật chất – văn hoá – tinh thần của dân cư sống trong vùng đệm” (Võ Nguyên
Huân, 2009) [16].
2.1.2. Khái niện cộng đồng địa phương (Local Community)
Cộng đồng địa phương là một nhóm người sống trong cùng một môi
trường, một không gian, có lãnh thổ xác định, có những điểm tương đối giống
nhau, có mối quan hệ nhất định với nhau (Phạm Hoàng Hải và cs, 2014) [15].
2.2. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới
Năm 1872, Vườn quốc gia đầu tiên trên thế giới được thành lập ở Mỹ, đó
là vườn quốc gia Yellowstone. Vườn quốc gia này nằm trên vùng đất do
người Crow và người Shoshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực ép buộc
hai cộng đồng tộc người này phải rời bỏ mảnh đất của họ. Nhiều khu bảo tồn
thên nhiên và vườn quốc gia được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên
thế giới và cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này, có nghĩa là
ngăn cấm người dân địa phương thâm nhập vào khu bảo tồn thiên nhiên và
5
vườn quốc gia và tiếp cận tài nguyên trong đó. Điều đó dẫn đến những hiệu
quả tất yếu là làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương và
khu bảo tồn và mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạt được (Võ Quý,
1997) [7].
Trên thế giới, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực
làm thay đổi chiến lược bảo tồn từ đầu thập kỷ 1980. Một chiến lược bảo tồn
mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý
khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia với các hoạt động sinh kế của các
cộng đồng địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng
trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định.
Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các
khu bảo tồn và vườn quốc gia khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa
trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của

vào tài nguyên rừng và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tác động đó
vào tài nguyên rừng.
2.3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
Cùng hoà nhịp sự quan tâm về bảo tồn TNR với cộng đồng thế giới, năm
1962, vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam được thành lập – Vườn quốc gia
Cúc Phương. Nhưng do chiến tranh nên cho tới năm 1983 công việc này mới
lại được tiếp tục và cho tới nay Việt Nam đã có 105 khu bảo tồn thiên nhiên
và vườn quốc gia (Richard B. Primack, 1999) [12].
Vùng đệm của các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia đã chính
thức được đề cập đến ngay sau khi có Quyết định số 194 –CT ngày 9/8/1986
quy định danh mục 73 khu rừng cấm và quyết định số 1171/QĐ ngày
30/11/1986 của Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ NN &PTNT) ban hành các loại
quy chế rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và quy định về vùng
đệm các vườn và khu bảo tồn thiên nhiên, tuy nhiên cho đến nay việc thực
hiện quản lý vùng đệm còn rất hạn chế. Theo Ts. Nguyễn Bá Thụ, những khó
khăn gặp phải trong việc quản lý vùng đệm nói chung là (VNRP – VU –
ALA/VIE/94/24, 2001) [9]:
Hầu hết các vùng đệm đều có đông dân cư sinh sống.
Vùng đệm thuộc quyền quản lý của chính quyền địa phương (xã, huyện,
tỉnh) nhưng thường chính quyền địa phương ít quan tâm đến khu bảo tồn
thiên nghiên và vườn quốc gia vì họ không hiểu rõ tầm quan trọng của khu
bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia đối với địa phương, và coi việc bảo vệ
các khu rừng đặc dụng là việc của ban quản lý các khu rừng đó.
Đa số nhân dân địa phương nghèo, dân trí thấp, dân số tăng nhanh, họ
cho rằng việc thành lập khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia không
mang lại lợi ích cho họ.
Hầu hết ban quản lý các KBT TN và VQG chưa có giải pháp hữu hiệu
để lôi kéo người dân vùng đệm tham gia vào công tác bảo tồn.
7
Tập quán canh tác của người dân trong vùng đệm ở một số nơi quá lạc

vẫn còn sử dụng TNR một cách bất hợp pháp. Tại thời điểm nghiên cứu,
trung bình, 34% tổng thu nhập hàng năm của một hộ gia đình trong vùng đệm
và 62% tổng thu nhập của một hộ gia đình trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt là
8
từ rừng. Việc thành lập KBT TN (năm 1997) đã làm giảm 30% - 71,4% diện
tích đất và khoảng 50% thu nhập từ rừng của người dân địa phương. Mặc dù
đã có một vài chương trình hỗ trợ được thực hiện tại khu bảo tồn thiên nhiên,
nhưng chúng chưa bù lại được những mất mát do thành lập khu bảo tồn thiên
nhiên (Đo Anh Tuan, 2001) [13].
Vấn đề giảm đất đai canh tác của các cộng đồng do hình thành vườn
quốc gia là một thực tế diễn ra ở nhiều nơi. Đỗ Thị Hà cho rằng sau khi thành
lập VQG Tam Đảo, đất của các hộ trong thôn bị mất đi, thu nhập về lâm nghiệp
tập trung vào một số chủ rừng, ảnh hưởng tới sự phân công lao động trong hộ gia
đình (Trần Ngọc Lân (chủ biên), 1999) [5].
Các nghiên cứu đã thực hiện chủ yếu được phân tích, đánh giá tác động của
khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia đối với cộng đồng địa phương. Nhưng
vấn đề ngược lại, nhìn nhận từ góc độ cộng đồng địa phương đối với các khu
bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia còn chưa được nghiên cứu sâu sắc.
Nguyễn Bá Ngãi và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu về khả năng
thu hút các cộng đồng địa phương vào quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp tại
khu phục hồi sinh thái. Các tác giả cho rằng hệ thống chính sách hiện nay là
đầy đủ để có thể thu hút cộng đồng địa phương vào quản lý, sử dụng các khu
rừng đặc dụng, không thể loại trừ cộng đồng ra khỏi quyền hưởng lợi từ vườn
quốc gia và đề xuất mô hình quản lý đất đai trong khu phục hồi sinh thái của
vùng đệm (Nguyễn Bá Ngãi và cộng tác viên, 2002) [6].
Trần Ngọc Hải và cộng sự đã đánh giá vai trò kinh tế của lâm sản ngoài gỗ
ở 2 thôn người Dao tại xã Ba Vì. Tác giả cho rằng, LSNG, đặc biệt là nhóm tre
bương và cây dược liệu đóng vài trò rất quan trọng trong hộ gia đình Hạt kiểm
lâm (Vườn quốc gia Ba Vì, 2002) [2].
Tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia còn có một số

độ vĩ bắc.
Từ 104
0
54
'
02
''
đến 105
0
02
'
30
''
kinh đông.
- Phía tây bắc là đường biên giới nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
- Phía đông bắc là phần còn lại của xã Bát Đại Sơn và phía đông lấy
dòng sông Miện làm ranh giới.
- Phía nam và phía tây giáp xã Tùng Vài và đường ô tô đi biên giới.
Tổng diện tích khu Bảo tồn là 10.684 ha nằm trên địa phận 4 x
ã:
Trong đó:
- Xã Bát Đại Sơn : 3.825,0 ha
- Xã Thanh Vân : 3.948,0 ha
- Một phần xã Cán Tỷ: 1.396,0 ha
- Một phần xã Nghĩa Thuận: 1.515,0 ha.
2.4.1.2. Địa hình, địa thế.
Là vùng núi đá vôi, phần lớn là núi cao trên 1.000 m và thấp dần theo hướng
tây bắc và đông nam, Bát Đại Sơn có thể chia ra làm 3 kiểu địa hình chính.
- Kiểu địa hình trung bình: Đây là kiểu địa hình phổ biến nhất chiếm
hầu hết diện tích khu bảo tồn do địa hình bị chia cắt tạo ra những đỉnh núi

- Đất Feralít màu nâu vàng trên sơn nguyên, phát triển trên đá sét: 1.759
ha phân bố tập trung ở xã Thanh Vân tầng đất trung bình, thường ở các thung
lũng rất tiện lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp và cây công nghiệp.
- Nhóm đất thung lũng là sản phẩm chủ yếu của đá vôi phân bố dọc hai
bờ sông miện thuộc xã Cán Tỷ với diện tích 3.095 ha. Độ dầy tầng đất trung
bình đều sâu. Diện tích này chủ yếu dùng cho sản xuất nông nghiệp.
2.4.1.4. Khí hậu - thuỷ văn.
Khí hậu
Khu Bảo tồn Bát Đại Sơn nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới gió mùa
thuộc khí hậu vùng cao bắc Việt Nam, hàng năm có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa
có từ tháng 4 đến tháng 10 mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Khí hậu khu vực có những đặc điểm sau:
• Chế độ ẩm
- Lượng mưa trung bình năm từ 2.000 đến 2.400 mm tập trung từ tháng
4 đến tháng 10 chiếm tới 80 - 90% tổng lượng mưa cả năm.
- Độ ẩm không khí: trung bình là: 82%, cao nhất 89%, thấp nhất 68%.
• Chế độ nhiệt:
11
- Nhiệt độ trung bình năm 15
0
c
- Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 1
0
c
- Nhiệt độ tối thấp cao tuyệt đối 35
0
c
• Chế độ gió:
Khu vực chịu ảnh hưởng của 2 loại gió thịnh hành là:
- Gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau thời tiết khô hanh,


12
Nhận xét: Về diện tích các loại đất đai:
- Rừng khu bảo tồn Bát Đại Sơn có độ che phủ khá cao 93,6%. Trong đó
rừng tự nhiên chiếm 93,6% so với diện tích hiện có của khu vực, diện tích đất
chưa có rừng chiếm tỷ lệ không đáng kể.
- Đất không có rừng chiếm 6,4% trong đó có diện tích đất trạng cỏ, cây
bụi, đất trồng cây rải rác.
về trữ lượng các loại rừng được thể hiện theo bảng dưới đây:
Bảng 2.2. Trữ lượng các loại rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn
Hang mục Trữ lượng (m
3
) Tỷ lệ% M/ ha
Tổng cộng 380.626 100
Rừng trên núi đá vôi 207.312 54,5 120
Rừng phục hồi tự nhiên 173.314 45,5 69
(Nguồn: Số liệu lấy từ KBT TN Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
năm 2010)
Nhận xét: Về trữ lượng các loại rừng :
- Với những chỉ tiêu nêu trên chứng tỏ rừng trên núi đá vôi còn khá tốt,
giàu trữ lượng.
- Rừng phục hồi tự nhiên trữ lượng bình quân / ha còn tương đối cao.
2.4.1.6. Hệ thực vật rừng.
Đặc điểm khu hệ thực vật rừng:
• Hệ thực vật rừng Bát Đại Sơn là nơi giao thoa giữa các luồng thực vật
khác nhau và có các kiểu sinh thái thảm thực vật rừng.
- Kiểu 1: Thảm thực vật trên núi đá vôi:
Đây là kiểu rừng trên núi đá vôi có cấu trúc nguyên sinh cả 5 tầng rừng trong
đó có 3 tầng cây gỗ (Tầng vượt trội, tầng ưu thế sinh thái và tầng cây nhỏ),
dưới tán rừng có nhiều cây bụi và tầng cỏ quyết, kiểu rừng này có mật độ từ

-Dân tộc Tày và Nùng có 619 người chiếm 7,0% tổng dân số.
-Dân tộc khác có 84 người chiếm 1% tổng dân số.
Nhìn chung các dân tộc trên sống phân bố rải rác trong vùng thành các thôn,
xóm bên cạnh trục đường giao thông, các thung lũng bằng phẳng, tập quán canh
tác chủ yếu là sản xuất canh tác nương rẫy và chăn nuôi gia súc gia cầm.
Dân số:
Tổng dân số ( Theo kết quả điều tra năm 2010) khu bảo tồn là 8.822
người với 1.784 hộ thuộc địa phận hành chính 4 xã với 18 thôn bản được thể
hiện như sau:
14
Bảng 2.3. Dân số và tốc độ tăng trưởng dân số
Tên xã Số hộ Số người Tỷ lệ tăng dân
số
Tổng số 1.784 8.822 1,87
Bát Đại Sơn 514 2.638 2,6
Nghĩa Thuận 91 513 1,2
Thanh Vân 898 4.271 1,2
Cán Tỷ 281 1.400 2,5
(nguồn: Số liệu lấy từ KBT TN Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
năm 2010)
Do tỷ lệ tăng số cao dẫn đến trình độ dân trí thấp, đời sống vật chất, tinh
thần của người dân còn gặp khó khăn.
Lao động:
Tổng số lao động trong đổ tuổi là: 3.605 người chiếm 46% tổng dân số
khu vực.
Do đất nông nghiệp ít lại chủ yếu là nương rẫy và sản xuất 1 vụ nên
hàng năm lao động thường dôi dư tới 30%. Lực lượng tuy dồi dào nhưng do
trình độ thấp dẫn đến năng suất một số cây trồng ở đây không cao.
Về lâm nghiệp:
• Công tác quản lý bảo vệ rừng:

-Các nguyên nhân về kinh tế
(3). Đề xuất một số giải pháp kinh tế - xã hội nhằm giảm thiểu các tác
động bất lợi từ phía các cộng đồng địa phương trong vùng đệm tới TNR Khu
bảo tồn thiên nhiên, đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội địa phương.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên lý luận về lý thuyết hệ thống, quan
điểm sinh thái – nhân văn, quan điểm bảo tồn - phát triển và tiếp cận có sự
tham gia.
3.4.1.1. Vận dụng lý thuyết hệ thống
Sự tác động của các cộng đồng địa phương đến TNR là hoạt động trong
hệ thống kinh tế xã hội và tác động tới hệ thống tự nhiên.
Sự tác động của các cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng là hoạt
động trong hệ thống kinh tế, bởi vì mức độ tác động của các cộng đồng địa
phương gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như sử dụng đất
16
rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc…Và sự tác động này cũng
phụ thuộc vào sinh kế, mức sống, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi
nhuận trước mắt…và hiệu quả kinh tế thường quyết định tới hình thức sử
dụng tài nguyên rừng của các cộng đồng địa phương.
Ngược lại, mức độ giàu có và đa dạng của TNR cũng tác động mạnh mẽ
tới nguồn thu của các cộng đồng địa phương. Chính vì mối quan hệ chặt chẽ
giữa những tác động của các cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng với
các yếu tố kinh tế nên có thể làm giảm thiểu tác động bất lợi tới tài nguyên
rừng bằng cách tác động vào những yếu tố kinh tế. Đây là lý do đề tài nghiên
cứu các nguyên nhân kinh tế dẫn tới những tác động bất lợi của các cộng
đồng địa phương đến tài nguyên rừng và nghiên cứu đề xuất giải pháp kinh tế
để giảm thiểu sự tác động bất lợi này.
Sự tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng là hoạt động
xã hội là vì các hoạt động này là của con người. Sự tác động này bị chi phối

tháp sinh thái - nhân văn của Park đề xuất năm 1936 (Võ Văn Thoan và
Nguyễn Bá Ngãi (Biên tập), 2002) [8].
Hình 3.1. Tháp sinh thái nhân văn trong nghiên cứu sự tác động
của cộng đồng người dân địa phương tới tài nguyên rừng
Ảnh Hưởng Các nhân tố thích hợp
Tác động
bất lợi
của
người
dân địa
phương
đến TNR

Trích đoạn Phát triển rừng cộng đồng tại các thôn, bản Khuyến khích người dân sử dụng tiết kiệm củi và hướng tới các
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status