- 1 -
Nghiên cứu về phân bố, sinh thái, sinh
học và tình trạng bảo tồn tự nhiên (In-situ)
của loài Bách vàng (Xanthocyparis
vietnamensis Farjon & Hiep) tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh
Hà Giang.
Downloadằ http://Agriviet.Com
GIÔÙI THIEÄU VEÀ TAØI LIEÄU
Tài liệu bạn đang xem được download từ website WWW.AGRIVIET.COMWWW.MAUTHOIGIAN.ORG »Agriviet.com là website chuyên đề về nông nghiệp nơi liên kết mọi thành viên
hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chúng tôi thường xuyên tổng hợp tài liệu về tất cả
các lĩnh vực có liên quan đến nông nghiệp để chia sẽ cùng tất cả mọi người. Nếu tài liệu
bạn cần không tìm thấy trong website xin vui lòng gửi yêu cầu về ban biên tập website để
chúng tôi cố gắng bổ sung trong thời gian sớm nhất.
phát triển bền vững của các Vờn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, việc bảo tồn
các loài thực vật quý hiếm giữ một vị trí đặc biệt quan trọng không chỉ về mặt khoa
học mà còn liên quan toàn diện, lâu dài đến sự tồn tại và phát triển của loài ngời.
Để góp thêm kiến thức của mình cho khoa học, đợc sự nhất trí của khoa sau
Đại học, Trờng Đại học Lâm nghiệp, đặc biệt là TS. Nguyễn Tiến Hiệp Viện Sinh
thái và Tài nguyên Sinh vật- Hà Nội chúng tôi tiến hành chọn đề tài:
Nghiên cứu về phân bố, sinh thái, sinh học và tình trạng bảo tồn tự
nhiên (In-situ) của loài Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis Farjon & Hiep)
tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.
Đề tài đợc thực hiện dới sự hớng dẫn nhiệt tình của TS. Nguyễn Tiến
Hiệp và sự đóng góp ý kiến quý báu của các nhà khoa học: PGS.TS- Phạm Nhật,
GS.TS. Phan Kế Lộc, GS.TSKH. Nguyễn Nghĩa Thìn, TS. Trần Ninh, TS. Bế Thị
Minh Châu, KS. Lê Mộng Chân, Th.S. Lê Thị Huyên, Th.S. Trần Thị Chì , Th.S.
Nguyễn Đức Tố Lu, KS. Đoàn Thị Hoa . . các nhà khoa học, các cán bộ Trờng
ĐHLN, Viện ST và TNSV, Dự án bảo tồn thực vật Việt Nam- Mít-Xu-Ri Hoa Kỳ,
Dự án Giống L âm nghiệp Việt Nam- Công ty Giống Lâm nghiệp Trung ơng- Hà
Nội. Nhân dịp này cho phép tôi xin đợc bầy tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc
nhất tới TS. Nguyễn Tiến Hiệp, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật và các nhà
khoa học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Do thời gian có hạn, địa hình nghiên cứu gặp rất nhiều khó khăn nên luận văn
còn thiếu sót, tôi rất mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Tây, ngày 25 tháng 07 năm 2003
Tô Văn Thảo
Downloadằ http://Agriviet.Com
- 3 -
Đặt vấn đề
Chi Bách vàng Xanthocyparis Farjon & Hiep là một chi mới đợc phát hiện
- 4 -
việc phát triển nguồn gen thực vật quý hiếm ở nớc ta cũng nh góp phần vào việc
bảo tồn tính đa dạng thực vật Khu BTTN Bát Đại Sơn đang là vấn đề hết sức bức xúc
và cấp thiết.
Ngày 06 tháng 10 năm 2000, UBND tỉnh Hà Giang đã ra quyết định về việc
phê duyệt dự án thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn. Khu BTTN Bát Đại
Sơn nằm ở phía Bắc tỉnh Hà Giang, có diện tích rừng tự nhiên 10.684 ha, gồm 4 xã
(Bát Đại Sơn, Thanh Vân, một phần xã Cán Tỷ và Nghĩa Thuận). Đây là Khu BTTN
mới đợc xây dựng nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc hệ sinh thái
núi đá vôi, trong đó có nhiều loài động- thực vật qúi (Trần Đức Khoản, 1999).
Theo dự án xây dựng Khu BTTN Bát Đại Sơn thì Khu BTTN có hệ động, thực
vật phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, do hậu quả của du canh, du c, khai thác động
vật và thực vật không hợp lý nên đã làm cho hệ sinh thái khu rừng Bát Đại Sơn bị
xáo trộn, một số loài thực vật quý hiếm đã và đang bị chặt phá có nguy cơ sẽ bị diệt
vong, trong đó có loài cây Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis Farjon & Hiep).
Tại vùng núi Bát Đại Sơn, những nghiên cứu về đa dạng thực vật còn rất ít và
những hiểu biết về loài Bách vàng cũng nằm trong tình trạng nh vậy. Để góp thêm
những hiểu biết khoa học nhằm bảo vệ bền vững loài thực vật quý hiếm, đặc hữu
này thì việc nghiên cứu về phân bố, sinh thái, sinh học và tình trạng bảo tồn loài
trong tự nhiên là rất cấp thiết. Vấn đề đợc đặt ra là: hiện còn bao nhiêu cá thể Bách
vàng trong tự nhiên? sự sinh trởng, phát triển và tình trạng bảo tồn của chúng ra
sao? điều kiện sống nh thế nào? liệu Bách vàng có khả năng gây trồng nhân giống
đợc không? liệu có thể mở rộng phạm vi trồng rừng với loài cây này ở Việt Nam
hay không? Điều này đang phụ thuộc vào sự nghiên cứu và trả lời của các nhà khoa
học.
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài:
Nghiên cứu về phân bố, sinh thái, sinh học và tình trạng bảo tồn tự nhiên (In-
situ) của loài Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis Farjon & Hiep) tại Khu
bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
Downloadằ http://Agriviet.Com
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chi Bách vàng Xanthocyparis là chi mới phát hiện đối với khoa học từ khu BTTN
Bát Đại Sơn, thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae). ở Việt Nam họ Hoàng đàn là một
trong 6 họ thuộc lớp Thông ( Pinopsida), họ Hoàng đàn có 3 chi với 4-5 loài mọc tự
nhiên trong đó có loài Bách vàng. Tất các các loài mọc tự nhiên hay nhập nội thuộc
họ này đều có ý nghĩa kinh tế lớn nh cho gỗ quí, tinh dầu, hơng liệu hay trồng
làm cảnh. Đây là các loài chúng ta rất quen thuộc nh Pơ mu, Bách xanh, Hoàng
đàn Hữu Liên, Hoàng đàn rủ, nay có thêm loài Bách vàng (Trắc bách quản bạ). Tất
cả các loài của họ Hoàng đàn mọc tự nhiên đều có tên trong sách đỏ Việt Nam ( Bộ
KH & CNMT, 1996). Trong những năm gần đây, có nhiều các công trình công bố
trong và ngoài nớc đã đề cập đến các chi và loài trong họ Hoàng đàn của Việt Nam
và Đông Dơng (Forest Inventory and Planning Institute, 1996; Nguyen Tien Hiep
et Jules E. Vidal, 1996; Phạm Hoàng Hộ, 1999; Lê Mộng Chân & Lê Thị Huyên,
2000). Các tác giả đã mô tả nhận biết, đa ra đợc một số đặc điểm về phân bố, sinh
thái, sinh học của một số loài cây trong họ Hoàng đàn nhng không có tác giả nào
đề cập tới chi và loài Bách vàng.
1.1- Lợc sử vấn đề nghiên cứu chi và loài Bách vàng
Chi Bách vàng Xanthocyparis Farjon & Hiep thuộc họ Hoàng đàn là chi mới
đối với khoa học đợc mô tả vào cuối năm 2002 dựa trên loài chuẩn là loài Bách
vàng Xanthocyparis vietnamensis Farjon & Hiep (Farjon A., Nguyen Tien Hiep,
Harder D. K., Phan Ke Loc, Averyanov L., 2002). Các mẫu tiêu bản: NTH 3594,
DKH 4977, 6090, 6091 (holotypus), 6224, thu đợc từ tháng 10 năm 1999 tại hai xã
Cán Tỷ, Bát Đại Sơn thuộc khu BTTN Bát Đại Sơn đã đợc dùng để mô tả chi và
loài mới này. Tên khoa học của chi có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: Xantho có nghĩa
là màu vàng, màu của gỗ, và cyparis có nghĩa là cây Bách, còn tên khoa học của loài
vietnamensis nói lên loài này đợc phát hiện từ Việt Nam (mặc dù chính xác loài
Downloadằ http://Agriviet.Com
- 7 -
này phát hiện đợc từ Khu BTTN Bát Đại Sơn, nhng khi các tác giả lấy tên Việt
Downloadằ http://Agriviet.Com
- 8 -
đợc nêu ra nh: Bách vàng trởng thành có chiều cao đạt tới 8- 10m, đờng kính
thân lên tới 35cm. Bách vàng còn lại rất ít, chúng thờng phân bố rải rác trên một
vài đỉnh núi đá vôi với địa hình cực kỳ nguy hiểm. Để bảo vệ có hiệu quả hệ sinh
thái nơi Bách vàng phân bố nên mở rộng Khu BTTN Bát Đại Sơn (Farjon, 2002b).
Trên thực tế Bách vàng là một chi mới đợc phát hiện nên cha có bất cứ một
công trình nào đi sâu nghiên cứu. Một số nghiên cứu nêu trên các tác giả mới chỉ
dừng lại ở phần phân loại, mô tả chi và loài Bách vàng, nhận xét sơ bộ về đặc điểm
sinh thái, vật hậu, khả năng tái sinh tự nhiên của chúng. Trong công bố đầu tiên về
chi và loài Bách vàng, các tác giả cũng đã đánh giá tình trạng bảo tồn trên cơ sở các
quan sát về phân bố còn hạn chế và đa ra bậc xếp loại bảo tồn là rất nguy cấp CR
(B2a- c) (Farjon, Nguyen Tien Hiep, Harder K., Phan Ke Loc, Averyanov L., 2002).
Trong quá trình nghiên cứu loài cây Bách vàng, các nhà thực vật cũng quan tâm tới
kiểu rừng hỗn giao giữa cây lá rộng thờng xanh với cây lá kim trên núi đá vôi. Các
loài thực vật cùng chung sống rất đa dạng về thành phần loài và phong phú về cá
thể. Các loài thực vật đó là Pseudotsuga sinensis, Taxus chinensis, Nageia fleuryi,
Amentotaxus argotaenia, Acer sp., Lithocarpus sp, Quercus sp., Pseudotsuga
brevifolia, Dendrobium chrysanthum, Bulbophyllum macraei, Bulbophyllum
purpurifolium, Dendrobium chrysanthum, Paphiopedilum henryanum, P.
malipoense, P. micranthum, P. dianthum, Pholidota roseus, Rhododendron
cilicalyx, Rh. densiflora, Rhododendron spp. , Garcinia spp. Trong số các loài đi
kèm thì nổi trội nhất là các loài thuộc lớp Thông, các loài thuộc họ Lan, Đỗ quyên
và Dẻ (Vũ Văn Cần, Vũ Văn Dũng & Lê Văn Chẩm, 1999; Farjon A., Nguyen Tien
Hiep, Harder D.K., Phan Kế Lộc, Averyanov L., 2002; Farjon A., 2002b).
Mặc dù về danh pháp thực vật cha rõ ràng song ngay từ những năm 2001
Công ty Giống lâm nghiệp Trung Ương đã tiến hành thử nghiệm nhân giống bằng
phơng pháp giâm cành loài cây Bách vàng và cũng đã thu đợc kết quả nhất định
(Nguyễn Đức Tố Lu, 2002; Nguyễn Đức Tố Lu & Cao Tùng Lâm, 2002).
hoạch rừng đã phát hiện, thống kê và mô tả một số loài thuộc lớp Thông
(Pinopsida):
1) Thiết sam giả lá ngắn - Pseudotsuga brevifolia W.C.Cheng & L.K. Fu
2) Bách xanh - Calocedrus macrolepis Kurz
3) Thông đỏ bắc -Taxus chinensis (Franch.) Pritz.
Downloadằ http://Agriviet.Com
- 10 -
4) Thông la hán lá nhỏ - Podocarpus brevifolius (Stapf) Fovw.
5) Trắc bách quản bạ - Thuja quanbaensis sp. nov
Theo nhóm nghiên cứu trên thì loài Trắc bách quản bạ đó thuộc chi Trắc
bách (Thuja L) họ Hoàng đàn. Cũng trong năm 1999 và 2000, nhiều đợt nghiên cứu
của dự án Bảo tồn thực vật Việt Nam thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật và
Vờn Thực vật Mít xu ri, Hoa Kỳ kết hợp với chuyên gia thực vật Liên bang Nga đã
tổ chức nhiều đợt nghiên cứu tại tỉnh Hà Giang nói chung và Khu BTTN Bát Đại
Sơn nói riêng. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà thực vật Việt Nam và nớc ngoài
đã công bố nhiều loài mới thuộc lớp Thông, Lan và thực vật có hoa cho khoa học và
cho hệ thực vật Việt Nam (Phan Ke Loc, Nguyen Tien Hiep & Averyanov L.V.1999
a,b; Phan Ke Loc & Nguyen Tien Hiep, 1999; Phan Ke Loc, Nguyen Tien Hiep,
Averyanov L.V., 2000). Một trong những phát hiện lớn đối với khoa học là tìm ra
chi Bách vàng với một loài duy nhất Xanthocyparis vietnamensis Farjon & Hiep.
Đây là một phát hiện có tầm cỡ quốc tế vì trong lịch sử trên 60 năm gần đây trên thế
giới các nhà thực vật chỉ phát hiện đợc có 4 chi mới đối với khoa học thuộc lớp
Thông thì chi Bách vàng là chi thứ t có tại Việt Nam.
Để xây dựng luận chứng khả thi cho Khu BTTN Bát Đại Sơn, các cán bộ
thuộc Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ và Viện Điều tra Quy hoạch
rừng đợc giao nhiệm vụ điều tra nghiên cứu về hệ thực vật ở khu vực, tháng 10 năm
1999, dự án xây dựng Khu BTTN Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang đã
hoàn thành.
Từ kết quả của những nghiên cứu trên ta có thể thấy rằng Khu BTTN Bát Đại
Phía Tây Bắc là đờng biên giới giáp nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
Phía Đông Bắc là phần còn lại của xã Bát Đại Sơn và phía Đông lấy dòng
sông Miện làm ranh giới.
Phía Nam và Tây giáp với Tùng Vài và đờng ô tô đi biên giới
Tổng diện tích tự nhiên Khu BTTN là 10.684 ha nằm trên địa phận của 4 xã:
Bát Đại Sơn 3.825 ha
Thanh Vân 3.948 ha
Một phần xã Cán Tỷ 1.369 ha
Một phần xã Nghĩa Thuận 1.515 ha
b- Địa hình địa thế
Là vùng núi đá vôi, phần lớn là núi cao trên 1000m và thấp dần theo hớng
Tây Bắc- Đông Nam. Bát Đại Sơn có thể chia ra làm 3 kiểu địa hình chính sau :
Downloadằ http://Agriviet.Com
- 12 -
- Kiểu địa hình núi trung bình, đây là kiểu địa hình phổ biến nhất chiếm hầu
hết diện tích khu bảo tồn. Do địa hình bị chia cắt mạnh tạo ra những đỉnh núi cao,
sờn dốc đứng, các khe suối đều sâu, dốc, lòng hẹp, ở đây rừng còn phong phú, giầu
trữ lợng, hệ động, thực vật đa dạng đặc trng cho hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi
miền Bắc Việt Nam.
- Kiểu địa hình đồi cao nằm ở phía Đông Bắc xã Bát Đại Sơn. ở đây chủ yếu
là núi đất, địa hình chia cắt mạnh tạo ra nhiều dòng suối độ dốc bình quân từ 25-35
0
.
Kiểu địa hình này, tài nguyên rừng bị khai thác cạn kiệt, quá trình phát nơng làm
rẫy lặp lại nhiều lần trong một khoảng thời gian ngắn, nên thực bì chủ yếu là cây
bụi, trảng cỏ và một số ít diện tích rừng đợc phục hồi sau nơng rẫy.
- Kiểu địa hình thung lũng, đặc trng nhất là khu vực xã Thanh Vân, khu vực
này thuận tiện cho canh tác nông nghệp và chăn thả gia súc.
c- Đặc điểm địa chất, thổ nhỡng
- Lợng ma trung bình năm từ 2000 đến 2400 mm, tập trung từ tháng 4 đến
tháng 10, chiếm từ 80- 90% tổng lợng ma cả năm.
- Độ ẩm không khí trung bình là 82%, cao nhất 89% và thấp nhất 68%.
- Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ trung bình năm 15
0
C , Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 1
0
C , Nhiệt độ tối
cao tuyệt đối 35
0
C.
+ Thuỷ văn:
Sông Miện bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy theo hớng Đông- Đông Nam,
hình thành vành đai che chắn phía Đông và Đông Bắc của khu bảo tồn, Sông Miện
có dòng chảy quanh co, lòng hẹp, độ dốc lớn, về mùa ma có tốc độ chảy khá cao.
Downloadằ http://Agriviet.Com
- 14 -
2.2. Dân sinh kinh tế và xã hội.
a- Dân sinh kinh tế
Khu BTTN Bát Đại Sơn có các dân tộc:
+ Dân tộc H Mông có 6011 ngời, chiếm tỷ lệ 84% tổng dân số.
+ Dân tộc Dao có 583 ngời, chiếm 8,2% tổng dân số.
+ Dân tộc Tày và Nùng có 440 ngời, chiếm 6,2% tổng dân số.
+ Còn lại là các dân tộc khác có 38 ngời, chiếm 0,7%.
Nhìn chung các dân tộc đều sống phân bố rải rác trong vùng thành các bản
làng bên cạnh trục đờng giao thông, thung lũng bằng phẳng. Tập quán canh tác lạc
hậu, chủ yếu là phát nơng làm rẫy để trồng cây lơng thực và chăn nuôi gia súc,
hẹp, độ dốc lớn) dẫn đến việc đi lại vận chuyển rất khó khăn, nhất là về mùa ma,
cùng với hàng trăm km đờng liên thôn, liên bản cũng trong tình trạng rất tồi, nên
việc đi lại trên nhữn
g
con đờn
g
nà
y
hoàn toàn dựa vào sức n
g
ời và n
g
ựa.
- Ngành giáo dục mầm non cha đợc hình thành, trong 18 điểm dân c
thuộc 4 xã có 56 lớp học với 1200 học sinh tiểu học đến trờng. Nhìn chung ở Khu
bảo tồn số lợng ngời không biết chữ còn nhiều, nhất là những ngời cao tuổi và
những ngời ở vùng sâu, vùng xa.
- Cả 4 xã đều có trạm y tế, nhng cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn. Số
cán bộ y tế còn rất mỏng, bình quân 900 ngời dân mới có 1 y tá, những phong tục
lạc hậu của họ luôn luôn tồn tại. Vì thế, một số bệnh dịch tả, sốt suất huyết, sốt rét
vẫn thờng xảy ra gây ảnh hởng lớn đến sức khoẻ của ngời dân trong vùng.
- Cả 4 xã cha có nhà văn hoá riêng và xã Bát Đại Sơn, Nghĩa Thuận, các
thôn bản vùng sâu vùng xa của 2 xã còn lại cha có điện lới quốc gia. Mặt khác,
trình độ dân trí thấp, kinh tế kém phát triển, đời sống vật chất còn rất khó khăn. Do
vậy việc tiếp thu các thông tin đại chúng, hoạt động văn hoá là rất ít.
c- Đánh giá về điều kiện dân sinh kinh tế xã hội
- Trong khu vực đa số là dân tộc ít ngời, tập quán canh tác còn lạc hậu, nền
kinh tế tự cung tự cấp là chủ yếu. Lao động dồi dào nhng thiếu việc làm, trình độ
Downloadằ http://Agriviet.Com
bụi, dây leo, các loài cỏ quyết. Kiểu này nếu đợc quản lý bảo vệ tốt thì có thể giữ
đợc lớp thảm thực vật còn lại và tơng lai sẽ trở thành rừng có chất lợng tơng đối
tốt.
* Kiểu 2: Thảm thực vật rừng trên núi đất ở trạng thái nguyên sinh gồm các
kiểu nh:
+ Rừng kín lá rộng thờng xanh ẩm á nhiệt đới (ở vùng có địa hình cao
>700m).
+ Rừng kín lá rộng thờng xanh ẩm nhiệt đới (ở vùng có độ cao <=700m).
Trong kiểu rừng này, do các yếu tố nhân tác khác nhau mà có thể phân ra thành các
kiểu phụ nh sau:
- Kiểu phụ gỗ rải rác, trảng cỏ, trảng cỏ cây bụi ở vùng địa hình cao trên
700m, có diện tích 1857 ha, chiếm 15,4% diện tích khu vực.
- Kiểu phụ gỗ rải rác, trảng cỏ, trảng cỏ cây bụi ở vùng địa hình thấp hơn
700m, có diện tích 750 ha, chiếm 6,3% diện tích khu vực.
- Kiểu phụ rừng thứ sinh nhân tác (rừng phục hồi) tự nhiên có diện tích 70 ha,
chiếm 0,6% diện tích khu vực.
- Kiểu phụ rừng thứ sinh nhân tác (rừng trồng cây lá kim) có diện tích 73 ha,
chiếm 0,6% diện tích khu vực.
c. Thành phần thực vật.
Theo kết quả điều tra của Phân Viện Điều tra Quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ và
Viện Điều tra Quy hoạch rừng là 2 đơn vị đợc giao nhiệm vụ lập dự án xây dựng
Khu BTTN Bát Đại Sơn thì ở Khu BTTN có khoảng 361 loài thực vật thuộc 249 chi,
103 họ, chúng đợc phân bổ nh sau:
Downloadằ http://Agriviet.Com
- 18 -
8- Trai lý - Garcinia fagraeoides A.Chev.
9- Trầm hơng - Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte
10- Lát hoa - Chukrasia tabularis A. Juss.
Downloadằ http://Agriviet.Com
- 19 -
11- Re hơng - Cinamomum parthenoxylum (Jack) Meisn.
12- Sến mật - Madhuca pasquieri (Dubard) H. J. Lam
13- Vàng tâm - Manglietia fordiana Oliv.
14- Chò chỉ - Shorea chinensis (H. Wang) H. Zhu
15- Nghiến - Burretiodendron hsienmu Chun & How
16- Đỗ trọng - Euonymus chinensis Lindl.
17- Song mật - Calamus platyacanthus Warb. ex Becc.
18- Cu li - Cibotium barometz (L.) Smith
19- Cốt toái bổ - Drynaria fortunei (Kuntze) J. Smith
Về động vật có tới 195 loài, trong đó có tới 22 loài quý hiếm. Đặc biệt có
những loài quý hiếm nh: Voọc bạc má, Vợn đen, Gấu ngựa, Phợng hoàng đất . . .
có giá trị bảo tồn đang đợc các nhà khoa học trên thế giới quan tâm.
Từ một vài đặc điểm trên cho thấy Khu BTTN Bát Đại Sơn thực sự là khu hệ
sinh thái rừng gỗ núi đá điển hình, có nhiều loài thực, động vật quý hiếm cần đợc
bảo vệ, song vì Khu BTTN nằm trong khu dân c, gần đờng giao thông nên tính đa
dạng sinh học đã bị suy giảm cả về số lợng và chất lợng bởi sự tác động của con
ngời.
Để bảo đảm hệ sinh thái Khu BTTN Bát Đại Sơn đợc bền vững, rất cần có
các công trình nghiên cứu và đa ra phơng án giải quyết nhằm giữ đợc tính ổn
định của rừng cũng nh nâng cao đời sống của nhân dân.
3.4.2- Nghiên cứu một số đặc điểm về sinh thái có liên quan tới loài Bách
vàng
- ảnh hởng của đất tới loài cây Bách vàng.
- ảnh hởng của địa hình
3.4.3- ảnh hởng của cấu trúc rừng nơi có Bách vàng phân bố
3.4.4- Nghiên cứu mức độ tái sinh của loài trong khu vực nghiên cứu.
- Mức độ tái sinh theo tuyến
- Mức độ tái sinh quanh gốc cây mẹ
3.4.5- Thử nghiệm nhân giống bằng phơng pháp giâm cành tại vờn
ơm.
Bớc đầu đánh giá khả năng gây trồng thông qua phơng pháp giâm
cành.
3.4.6- ảnh hởng của điều kiện tự nhiên- kinh tế x hội tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Bát Đại Sơn tới quần thể Bách vàng. Định hớng một
số biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm bảo tồn và phát triển loài
Bách vàng.
3.4.7- Xác định tình trạng bảo tồn hiện nay và mức độ đe doạ tiêu diệt
loài Bách vàng tự nhiên theo tiêu chuẩn đánh giá của tổ chức
bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN),1994.
3.5- Phơng pháp nghiên cứu
3.5.1- Phơng pháp luận trong nghiên cứu:
Trong quá trình sinh trởng và phát triển, thực vật có tính thích ứng riêng với
điều kiện hoàn cảnh và môi trờng sống. Do vậy, mỗi loài thực vật đều có sự phân
bố riêng của mình. Từ khi tái sinh, sinh trởng, phát triển cho đến khi bị diệt vong,
cây rừng luôn ở một vị trí nhất định, toàn bộ quá trình biến đổi của cây theo hoàn
Downloadằ http://Agriviet.Com
- 22 -
cảnh và mọi tác động trở lại với cây đều xẩy ra trong hoàn cảnh và môi trờng sống
của chúng. Vì vậy, khi nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của loài cây không gì
Bách vàng
Xanthocyparis vietnamensis
Nghiên cứu ngoài tự
nhiên
Nghiên cứu chuyển vị
Các đặc điểm sinh
vật học
Giâm hom và trồng th
ử
Nghiên cứu tại hiện trờng (Hà Giang)
Nghiên cứu giâm hom (Hà Nội)
Nghiên cứu cơ sở khoa học cho quá
t
rình
g
i
â
m h
o
m
Đề xuất phơng án về bảo tồn và phát
triển bền vững loài Bách vàng
Sơ đồ 2-1: Một số bớc nghiên cứu chính trong luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ nghiên cứu tổng
quát của đề tài
Downloadằ http://Agriviet.Com
- 24 -
3.5.2- Phơng pháp thu thập số liệu
3.5.2.1- Đặc điểm hình thái - vật hậu