luận văn thạc sỹ nông nghiệp nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng và một số biện pháp kỹ thuật đối với dứa đài nông 4 tại huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên - Pdf 12

Đại học Thái Nguyên
Trờng đại học Nông lâm
Nguyễn Minh chung
Nghiên cứu đặc điểm sinh trởng
và một số biện pháp kỹ thuật
đối với giống dứa đài nông 4
tại huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60. 62. 01
Luận văn thạc sỹ
Khoa học nông nghiệp
Ngời hớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Khắc Thái Sơn
Thái Nguyên, năm 2005
Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này
là hoàn toàn trung thực và cha hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào. Mọi sự
giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã đợc cảm ơn. Các thông tin, tài liệu
trình bày trong luận văn này đã đợc ghi rõ nguồn gốc./.
1
Tác giả
Nguyễn Minh Chung
Lời cảm ơn
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận
văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp. Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn
Ban Giám hiệu Trờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm và tập
thể cán bộ, giảng viên Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu tại trờng.
Xin trân trọng cảm ơn Huyện uỷ Đồng Hỷ, Huyện đoàn Đồng Hỷ, Văn
phòng Trung ơng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Viện Sinh học Nông nghịêp
thuộc Trờng Đại học Nông nghiệp I Hà Nội; cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, các

4
2.1.1. Cơ sở khoa học 4
2.1.2. Cơ sở thực tiễn 4
2.2. NGUồN GốC, Phân loại và đặc điểm của một số
nhóm dứa chính
5
2.2.1. Nguồn gốc 5
2.2.2. Phân loại 6
2.2.3. Đặc điểm của một số nhóm dứa chính 7
2.3. tình hình sản xuất, tiêu thụ dứa
8
2.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dứa trên thế giới 8
2.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dứa ở Việt Nam 11
2.3.3.Tình hình sản xuất và tiêu thụ dứa ở Thái Nguyên 12
2.3.4. Kế hoạch phát triển sản xuất dứa xuất khẩu của Việt Nam từ
1999 đến 2010
13
3
2.4. tình hình nghiên cứu dứa
14
2.4.1. Một số kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống 14
2.4.2. Một số kết quả nghiên cứu về nhân giống dứa 17
2.4.2.1. Một số nghiên cứu về nhân giống bằng phơng pháp giâm
hom
17
2.4.2.2. Một số kết quả nghiên cứu nhân giống dứa bằng phơng
pháp nuôi cấy mô trong ống nghiệm
20
2.4.3. Một số kết quả nghiên cứu về kỹ thuật chăm sóc dứa 27
2.4.3.1. Một số kết quả nghiên cứu về bón phân cho dứa

3.3.2. Các chỉ tiêu và phơng pháp theo dõi 53
3.3.3. Phơng pháp xử lý số liệu 55
3.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
55
Phần thứ t : kết quả và thảo luận
56
4.1. Khả năng sinh trởng và phát triển của dứa Đài nông 4 so với
một số giống dứa khác cùng đợc nhân từ chồi
56
4.1.1. Động thái tăng trởng chiều cao của dứa Đài nông 4 so với một
số giống dứa khác cùng đợc nhân từ chồi thân
56
4.1.2. Động thái tăng trởng đờng kính tán của dứa Đài nông 4 so với
một số giống dứa khác cùng đợc nhân từ chồi thân
57
4.1.3. Động thái tăng trởng tổng số lá của dứa Đài nông 4 so với một
số giống dứa khác cùng đợc nhân từ chồi thân
59
4.1.4. Động thái tăng trởng số lá hoạt động của dứa Đài nông 4 so
4
với một số giống dứa khác cùng đợc nhân từ chồi thân 60
4.1.5 Một số chỉ tiêu phát triển và năng suất của dứa Đài nông 4 so
với một số giống dứa khác cùng đợc nhân từ chồi thân
62
4.1.6. Một số chỉ tiêu về chất lợng quả của dứa Đài nông 4 so với
một số dứa khác cùng đợc nhân giống từ chồi thân
64
4.2. Khả năng sinh trởng và phát triển của dứa Đài nông 4 so với
một số giống dứa khác cùng đợc nhân bằng phơng pháp nuôi cấy


4.4.3. ảnh hởng của phân bón đến tổng số lá của dứa Đài nông 4 82
4.4.4. ảnh hởng của phân bón đến số lá hoạt động của dứa Đài nông 4 83
4.4.5. ảnh hởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của dứa Đài nông 4
84
4.4.6. Sơ bộ hạch toán kinh tế 86
4.5. ảnh hởng của nồng độ Ethrel khi xử lý đến khả năng ra hoa và
năng suất của dứa Đài nông 4
88
4.5.1. ảnh hởng của nồng độ Ethrel khi xử lý đến khả năng ra hoa
của dứa Đài nông 4
88
4.5.2 ảnh hởng của nồng độ Ethrel khi xử lý đến đến các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất của dứa Đài nông 4
91
Phần thứ năm: Kết luận và đề nghị
93
5.1. Kết luận
93
5.2. Đề nghị
94
5
Tài liệu tham khảo
95
Phụ lục
Danh mục các bảng biểu
Trang
Bảng 4.1. Động thái tăng trởng chiều cao của dứa Đài nông 4 so với
một số giống dứa khác cùng đợc nhân giống từ chồi thân
57

nông 4
73
Bảng 4.12. ảnh hởng của mật độ trồng đến tổng số lá của dứa Đài nông 4
75
Bảng 4.13. ảnh hởng của mật độ trồng đến số lá hoạt động của dứa Đài
nông 4
76
Bảng 4.14. ảnh hởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất của dứa Đài nông 4
77
Bảng 4.15. ảnh hởng của phân bón đến chiều cao của dứa Đài nông 4
79
Bảng 4.16. ảnh hởng của phân bón đến đờng kính tán của dứa Đài nông 4
81
Bảng 4.17. ảnh hởng của phân bón đến tổng số lá của dứa Đài nông 4
82
Bảng 4.18. ảnh hởng của phân bón đến số lá hoạt động của dứa Đài
nông 4
84
Bảng 4.19. ảnh hởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của dứa Đài nông 4
85
Bảng 4.20. ảnh hởng của các công thức bón phân đến lãi suất dứa Đài
nông 4
87
Bảng 4.21. ảnh hởng của nồng độ Ethrel khi xử lý đến khả năng ra hoa
của dứa Đài nông 4
89
Bảng 4.22. ảnh hởng của nồng độ Ethrel khi xử lý đến đến các yếu tố
cấu thành năng suất và năng suất của dứa Đài nông 4

ợng đờng tổng số là 11-15 %, acid 0,6 %. Ngoài ra, còn có nhiều loại Vitamin
và khoáng chất [20].
Mặt khác, trong quả dứa còn có men Bromelin giúp cho việc tiêu hoá rất
tốt; dùng trong công nghiệp thực phẩm, thuộc da, vật liệu làm phim v.v [20].
Quả dứa dùng để ăn tơi và để chế biến các loại đồ hộp, làm rợu, làm
giấm, làm nớc ép, nớc cô đặc, làm bột dứa dùng cho giải khát v.v. Sản phẩm
phụ của chế biến dứa lên men dùng làm thức ăn gia súc [18]. Theo Bùi Văn
Miên và cộng sự: Sử dụng bã dứa lên men làm thức ăn cho bò sữa giảm 70

80 % thức ăn thô và tăng hàm lợng sữa lên 7 10 % [5].
Cần phải nói thêm rằng dứa là cây ăn quả chịu hạn, nếu trồng ở vùng đồi
theo đờng đồng mức có khả năng bảo vệ đất, chống xói mòn rất tốt.
Tuy cây dứa có giá trị rất lớn về mặt kinh tế, dinh dỡng cũng nh bảo vệ
môi trờng đất nh vậy, nhng việc sản xuất dứa ở nớc ta còn hạn chế do nhiều
nguyên nhân, trong đó đặc biệt là thiếu giống năng suất cao, chất lợng tốt.
Hiện nay, cả nớc chỉ có khoảng 10 % diện tích trồng dứa sử dụng giống
Cayenne giống cho năng suất cao, còn lại là sử dụng các loại giống địa ph-
ơng quả nhỏ, năng suất thấp, chất lợng thấp, quả nhiều xơ, hàm lợng đờng
thấp. Đặc biệt, cha có giống tốt cho thị trờng dứa quả ăn tơi sống.
Đài nông 4 là một giống dứa rất quý có vai trò chủ lực đối với xuất khẩu
của Đài Loan do Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Gia Nghĩa lai tạo ra từ tổ hợp
lai giữa giống dứa Cayenne làm mẹ và giống Đài Loan thuộc nhóm Queen
làm bố. ở Đài Loan, Đài nông 4 cho năng suất khá cao, phẩm chất quả tốt,
phù hợp cho thị trờng sử dựng dứa quả tơi. Cụ thể, thịt quả có màu vàng sáng,
mịn, giòn, nhiều lỗ rộng, hàm lợng đờng cao, rất thơm, ít xơ, nớc vừa phải,
9
phẩm chất tốt, vỏ khá cứng nên chịu đợc vận chuyển. Khi ăn có thể bổ dọc
quả làm 4 miếng, dùng tay bóc vỏ và tách múi mà không cần gọt vỏ.
ở Việt Nam, để bổ sung cơ cấu giống dứa cho phong phú, ngoài việc lai
tạo thì việc nhập và khảo nghiệm các giống dứa mới là rất cần thiết. Giống

2.1.2. Cơ sở thực tiễn
Trong thực tế ở Thái Nguyên có nhiều giống dứa đang sinh trởng và phát
triển bình thờng nh: giống hoa Phú Thọ; Cayenne Phú Hộ, Queen
TS. Nguyễn Khắc Thái Sơn đã nghiên cứu thăm dò giống Đài nông 4 trên
đất đồi ở Thái Nguyên từ năm 2001 - 2003 có kết quả tốt.
Diện tích đất có khả năng trồng dứa ở Thái Nguyên còn khá nhiều, theo
thống kê còn khoảng 68.484 ha, chiếm gần 20 % tổng diện tích tự nhiên [11].
Với những cơ sở trên, việc nghiên cứu đặc điểm sinh học và một số biện
pháp kỹ thuật đối với giống dứa Đài nông 4 tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái
Nguyên là hoàn toàn có tính khả thi.
2.2. nguồn gốc, Phân loại và đặc điểm của một số
nhóm dứa chính
11
2.2.1. Nguồn gốc
Cây có nguồn gốc ở Nam Mỹ. Theo K.F. Baker và J.L. Collin những
ngời đã khảo sát ở Nam Mỹ năm 1939 thì nguồn gốc dứa có thể là một
vùng bốn cạnh rộng lớn nằm giữa vĩ tuyến Nam 15 30
0
, kinh tuyến Tây 40
60
0
bao gồm chủ yếu miền Nam Braxin, miền Bắc Achentina và Paragoay.
Các ông đã gặp ở đây dạng hoang dại các loại dứa A. ananassoides, A.
bracteatus và Pseudananas sagenarius, theo những hoàn cảnh thích hợp riêng
cho từng loại:
- A. ananassoides trong "rừng" khô của Braxin, cây mọc rải rác và thấp
lùn [20].
- A. bracteatus dới bóng cây tha thớt, thờng a mọc ven rừng [20].
- Pseudananas sagenarius trong những vùng ẩm ớt hơn, dọc theo các con
sông trong những vùng thấp có mùa bị ngập nớc hoặc trong những vùng rừng

răng ca, không có hạt hoặc rất ít hạt, quả dùng để ăn là A. comosus [20].
6. Lá mọc đứng, cứng, không gai trừ gai ở đầu lá, lá rộng 35 cm là A.
erectifolius [20].
7. Lá cong, nhiều răng ca nhỏ ở biên lá, lá rộng không qúa 2,5 cm
A. ananassoides [20].
2.2.3. Đặc điểm một số nhóm dứa chính
Theo Hume Miller (1904), cây dứa đợc chia thành ba nhóm chính sau:
Nhóm Cayenne, nhóm Queen, nhóm Spanish.
* Nhóm Cayenne:
Cayenne là nhóm đợc trồng nhiều trên thế giới. ở nớc ta Cayenne đợc
trồng đầu tiên ở Sơn Tây vào năm 1939. Hiện nay, Cayenne đang đợc nhân
nhanh để trồng thay thế các giống địa phơng khác. Nhóm Cayenne có đặc
13
điểm cơ bản nh sau: Cây cao (100-120 cm); lá dài (60-100 cm), rộng (4-8
cm), không hoặc có ít gai, bản lá dày, cứng, máng sâu. Hoa có màu xanh nhạt,
hơi đỏ. Quả có hình trụ, mắt dẹt và rất nông, khối lợng quả trung bình 1,5-2,0
kg có khi lên tới 4,0-5,0 kg nên rất phù hợp cho chế biến đồ hộp, đạt yêu cầu
của các nhà máy chế biến xuất khẩu hiện nay [4].
Tuy nhiên, nhóm dứa Cayenne có một số nhợc điểm đó là: Hàm lợng nớc
trong quả cao, vỏ mỏng nên khi vận chuyển dễ bị dập thối; chống chịu với sâu
bệnh kém, đặc biệt là mẫn cảm với bệnh héo virus, tuyến trùng, thối nõn; hệ
số nhân giống tự nhiên thấp [4].
ở nớc ta có các giống dứa thuộc nhóm Cayenne nh: Thơm Tây, Thơm Đà
Lạt, Cayenne Quảng Bình, Cayenne Phú Hộ,Hiện nay, nớc ta còn tuyển
chọn nhập thêm một số giống nh Cayenne Trung Quốc, Cayenne Thái Lan [4].
* Nhóm Queen:
Nhóm Queen gồm các giống nh: Dứa Tây, Hoa Phú Thọ, Na HoaSo với
nhóm Cayenne thì nhóm Queen sinh trởng phát triển kém hơn, cây thấp lá ngắn
hẹp, có nhiều gai ở mép lá, hoa có màu xanh hồng, quả có nhiều mắt nhỏ và
sâu, thịt quả có màu vàng, dai, có màu sắc và hơng vị thích hợp cho ăn tơi.

Tổng sản lợng dứa trên thế giới là 15.287.413 tấn, trong đó nhiều nhất là
Châu á (8.171.122,25 tấn), chiếm 53,45 %. Năm nớc sản xuất dứa đứng đầu
trên thế giới là: Thái Lan (1.700.000 tấn), Philippines (1.650.000 tấn), Trung
Quốc (1.475.000 tấn), Brazil (1.435.600 tấn) và ấn Độ (1.300.000 tấn).
Một số nớc có điều kiện tự nhiên tơng tự nh nớc ta là Trung Quốc,
Philippines, Thái Lan - những nớc sản xuất nhiều dứa trên thế giới. Điều này,
cho phép khẳng định Việt Nam cũng có thể có điều kiện sinh thái thuận lợi để
phát triển cây trồng này.
* Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ dứa một số nớc trên thế giới
Ngành công nghiệp dứa ở Thái Lan bắt đầu phát triển mạnh vào những
năm đầu thập kỷ 70 và hiện nay, Thái Lan đã trở thành một trong những quốc
15
gia sản xuất và xuất khẩu dứa chủ yếu trên thế giới. Trong vòng 5 năm qua,
sản lợng dứa trung bình hàng năm của nớc này đạt 2 triệu tấn. Với tổng diện
tích sử dụng cho trồng dứa vào khoảng 100.000 ha trải rộng ở trên 13 tỉnh,
phần lớn các nông trang trồng dứa lớn nằm ở bờ biển phía Đông và Tây của
vịnh Thái Lan. Các chủ hộ quy mô nhỏ, thông thờng chiếm khoảng 1-5 ha đất
trồng, chiếm tới hơn 95 % các hộ sản xuất. Khoảng 80 % sản lợng dứa sản
xuất ra đợc dùng để chế biến (đặc biệt là đóng hộp), phần còn lại chủ yếu
dành cho tiêu thụ tơi ngay trong thị trờng nội địa. Ngành sản xuất dứa ở nớc
này đã từ lâu vốn là một ngành thơng mại tự do nhng hiện nay đang có xu thế
phát triển trở thành một ngành kinh doanh theo hợp đồng bao tiêu. Là một tổ
chức chủ chốt trong việc thực hiện các nghiên cứu về nông nghiệp, Bộ Nông
nghiệp Thái Lan đã có những đề xuất chỉ đạo hớng dẫn về phơng pháp trồng
dứa tiên tiến cho nông dân. Các biện pháp chỉ đạo này nhằm mục đích nâng
cao hiệu quả sản xuất, trong khi vẫn bảo đảm tính bền vững và an toàn của
môi trờng. Các nhà máy chế biến dứa của Thái Lan cũng đã áp dụng những
biện pháp chế biến tiên tiến và rất nhiều nhà máy trong số đó đã đợc cấp
chứng chỉ ISO [25].
Hiện trạng về công nghiệp, nghiên cứu và phát triển của ngành dứa tại

rộng ra ở các Trại Phú Hộ, Tuyên Quang, Âu Lâu và Đào Giả (Trần Thế Tục
và Vũ Mạnh Hải, 2000) [20]. Giống Cayenne không gai đợc trồng đầu tiên ở
Sơn Tây vào năm 1939, từ đó phát triển dần ra các vùng khác, nh: các xã ven
đờng từ Phủ Quỳ đến Quỳ Châu tỉnh Nghệ An, xã Chân Mộng tỉnh Vĩnh Phúc,
xã Giới Phiên tỉnh Yên Bái, nông trờng Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn, Thực ra,
cây dứa có thể đã có mặt ở Việt Nam sớm hơn; trong một tài liệu của giáo sĩ
Borri ngời ý viết năm 1633 xuất bản ở Rome, trong phần nói về các sinh vật
của miền Nam đã có mô tả chi tiết về cây dứa [20].
Từ năm 2001 đến năm 2004, diện tích và sản lợng dứa ở Việt Nam luôn
biến động theo xu hớng tăng hàng năm, diện tích tăng từ 37,20 ngàn ha năm
2001 đến 43,35 ngàn ha năm 2004; sản lợng biến động từ 319,90 422,25
ngàn tấn. ở miền Bắc diện tích và sản lợng dứa chiếm một tỷ lệ rất thấp so với
toàn quốc, diện tích dao động trong khoảng 12 16,97 ngàn ha và sản lợng
dao động từ 80,50 137,42 nghìn tấn. Phần lớn diện tích và sản lợng dứa của
Việt Nam tập trung chính ở miền Nam và có phần ổn định hơn miền Bắc; về
diện tích khoảng 25,20 26,38 ngàn ha và sản lợng 238,40 284,83 ngàn
tấn. Tuy diện tích và sản lợng dứa tăng hàng năm nhng năng suất dứa ở Việt
Nam hiện nay rất thấp chỉ đạt trung bình 11,12 tấn/ha. Trong đó, miền Bắc
năng suất biến động từ 8,56 11,68 tấn/ha, miền Nam từ 10,50 13,35
tấn/ha [2].
17
Về chế biến dứa, năm 1990 cả nớc có 12 nhà máy chế biến đồ hộp
với tổng công suất 45.000 tấn/năm, 9 nhà máy chế biến đông lạnh, tổng
công suất 19 nghìn tấn/năm. Hiện nay, cả nớc có 15 nhà máy chế biến dứa
có quy mô khá cao với sản lợng hàng năm đạt 20.000 tấn dứa hộp và
10.000 tấn dứa cô đặc. Theo Công ty Thực phẩm xuất khẩu Tân Bình,
thành phố Hồ Chí Minh, so với sản lợng dứa Thái Lan thì Việt Nam chỉ
bằng 5 10 %. Sản lợng sản phẩm giảm theo từng năm do thiếu nguyên
liệu. Năm 2002, đạt 2.500 tấn với 6.000 tấn dứa nguyên liệu. Đến năm
2003 còn 2.000 tấn sản phẩm với 5.000 tấn dứa nguyên liệu Trong khi đó,

khẩu chính (chuối và dứa). Chính phủ ta phấn đấu đến năm 2010 xuất khẩu
717 nghìn tấn quả, gồm 590 nghìn tấn quả tơi và 127 nghìn tấn quả đã chế
biến; trong đó có 80 nghìn tấn dứa đã chế biến, chiếm 62,99 %. Nh vậy, Nhà
nớc chủ trơng bố trí cơ cấu xuất khẩu quả tơi chủ yếu là chuối, còn sản phẩm
quả chế biến thì chủ yếu là dứa.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề ra kế hoạch cụ thể về phát
triển sản xuất dứa xuất khẩu. Theo kế hoạch này, đến năm 2010 sản xuất dứa
đạt năng suất trung bình 25 và 40 tấn/ha; sản lợng bằng 800 nghìn tấn dứa;
xuất khẩu đợc 120 nghìn tấn dứa, thu về 150 triệu USD. Thực tế năm 1998,
chúng ta mới chỉ xuất khẩu đợc hơn 6 nghìn tấn dứa.
Để phấn đấu đạt kế hoạch đã đề ra về sản xuất và xuất khẩu dứa nh trên:
Chính phủ đã quy hoạch 6 vùng để sản xuất dứa xuất khẩu là: Hà Tĩnh 5.000
ha, Kiên Giang 5.000 ha, Nông trờng Đồng Giao 3.000 ha (Ninh Bình), Tiền
Giang 3.000 ha, Bình Phớc 2.000 ha và Bắc Giang 2.000 ha. Ngoài ra, Nhà n-
ớc còn quy hoạch một số nhà máy chế biến với tổng công suất là 120 nghìn
tấn ở Hà Tĩnh, Kiên Giang, Bình Phớc, Đồng Giao [13]
2.4. tình hình nghiên cứu dứa
2.4.1. Một số kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống
Năm 1905, ở Mỹ đã bắt đầu công tác chọn giống dứa thu đợc một số con
lai. Sau này ở Hawai, Philippin, Trung Quốc, Braxin, Malaixia, Nam Phi lần
lợt tiến hành việc chọn giống dứa [20].
Năm 1925 - 1927, Phân viện Nghiên cứu Nông nghiệp Gia Nghĩa, Đài
Loan đã tiến hành lai giống dứa. Tổ hợp lai lấy giống dứa Cayenne làm mẹ,
giống dứa Đài Loan làm bố tạo ra đợc các giống mới đặt tên là Đài Nông 1
19
cho đến Đài Nông 8. Trong đó Đài Nông 1, 2, 3, 7, 8 thích hợp cho làm đồ
hộp. Đài nông 4, 5 dùng để ăn tơi và Đài Nông 6 dùng cho cả 2 mục đích [4].
Từ 1931 - 1939, Phân viện Nghiên cứu Nghề vờn Phong Sơn, Đài Loan
tiến hành lai hữu tính và thu thập các con lai tự nhiên, chọn ra đợc giống mới
đặt tên Phong Sơn 1, 6, 16, 22 và 88 [20].

[20].
Từ năm 1962, Mailaixia thực hiện chơng trình chọn giống chọn các cá
thể tốt ở 5 vùng sản xuất dứa lớn trong nớc. Kết quả từ các giống địa phơng
Nemasmerah, Singapore Spanish (thuộc nhóm Spanish) đã chọn ra đợc giống
Nemasmerah, quả nặng 1,5 3 kg, hình ống tròn, năng suất cao phù hợp với
sản xuất dứa hộp của Malaixia trong những năm 1970 [20].
Năm 1973, Trung Quốc nhập giống Cayenne từ Hawai và đem trồng
khảo nghiệm ở nông trờng Hoa Kiều, huyện Ninh Minh, tỉnh Quảng Tây. Kết
quả cho thấy giống Cayenne nhập nội hơn hẳn giống Cayenne địa phơng về
các chỉ tiêu kinh tế [20].
Sripaoraya S và cộng sự (2001), đã tiến hành nghiên cứu giống dứa cấy
ghép gen chịu thuốc diệt cỏ, cho thấy: Các chồi của cây dứa Phuket đợc
chuyển đổi Plasmid AHC 25 có chứa gen thông tin, gus, beta-glucuronidase
v gen bialaphos có tính năng chịu thuốc diệt cỏ. Những cây đã chuyển đổi đ -
ợc phục hồi lại bằng cách nuôi cấy trong môi trờng MS chứa 0,5 mg 2,4 D,
2,0 mg benzyladenine v 0,5 mg phosphinothricin/lít. Khả năng chịu đựng và
khôi phục lại của dứa đối với thuốc diệt cỏ thơng mại Basta (0, 3, 5, 7, 10, 15
hoặc 20 mg/lít glufosinate amoni trong môi trờng trồng trọt v 100, 200, 400,
600, 800, 1200 hoặc 1400 mg/lít thuốc phun) đã đợc nghiên cứu trong môi tr-
ờng ống nghiệm và trong nhà kính. Khả năng sống sót và tăng trởng của cây
chuyển đổi gen trong ống nghiệm và trong môi trờng có 20 mg/lít glufosinate
amino đã xác nhận sự biểu hiện có hiệu quả của việc chuyển đổi gen kháng.
Cây dứa cũng sống sót sau khi phun thuốc với tỷ lệ glufosinate amino lên đến
1400 mg/ lít [48].
Embrapa đã so sánh hai giống dứa Perola và Smooth Cayene. Trong đó,
Perola là giống dứa chủ yếu đợc trồng ở Braxin, còn Smooth Cayenne đợc
trồng phổ biến trên thế giới, kết quả cho thấy: Giống dứa Perola có cuống quả
dài hơn, trái nhỏ hơn, dài hơn và có hình nón, màu hơi trắng, quả ít xơ và lõi
có thể ăn đợc, độ chua thấp. Loại dứa Perola rất dễ bị ảnh hởng trong quá trình
21

(tuỳ theo kích thớc hom),
giữ ẩm thờng xuyên bằng cách tới 1 - 2 lần/ngày. Sau một tháng, hom bắt đầu
mọc mầm, đến khi chồi cao từ 7 - 10 cm thì tách ra vờn ơm và tiếp tục chăm
22
sóc. Trung bình một thân cây già cho 15 cây con làm giống (Võ Thị Tuyết,
1990 - 1994) [4].
- Phơng pháp giâm hom bằng nách lá: Vật liệu là chồi ngọn, chồi cuống
hoặc chồi thân. Có thể tóm tắt cách làm nh sau: Dùng dao sắc chẻ chồi làm 4
từ gốc tới ngọn, sau đó cắt thành miếng nhỏ, mỗi miếng có 1 - 2 lá và các kỹ
thuật tiếp theo tiến hành nh giâm hom thân già với mật độ 200 - 220 hom/m
2
,
sau 80-85 ngày tách chồi ra giâm ở vờn ơm. Hệ số nhân có thể đạt tới 19,2 lần
nếu vật liệu là chồi ngọn (Nguyễn Văn Nghiêm, Phạm Thị Tham) [4].
Theo nghiên cứu của Trần Thế Tục và cộng sự biện pháp nhân giống
bằng giâm hom có nhiều u điểm, có thể áp dụng tốt trong điều kiện Việt Nam
[21].
Nguyễn Quang Thạch và cộng sự đã tiến hành đề tài: Nghiên cứu nhân
nhanh giống dứa Đài nông 4 bằng phơng pháp giâm hom nách lá. Vật liệu
nghiên cứu: Cây giống dứa Đài nông 4 cấy mô ở các khối lợng khác nhau từ
50-200gram (ra cây ở các thời gian khác nhau). Cách làm đợc tóm tắt nh sau:
Cây dứa đợc bổ dọc làm bốn, cắt thành các hom theo bề ngang, độ dày của
phần thân hom là 1,5-2mm, mỗi hom có 1-2 lá. Hom giâm đợc giâm trên giá
thể cát và tới ẩm thờng xuyên. Kết quả cho thấy:
+ Có thể sử dụng cây dứa cấy mô làm nguyên liệu ban đầu để nhân giống
dứa bằng kỹ thuật giâm hom nách lá.
+ Tiêu chuẩn cây mẹ: cây dứa cấy mô có khối lợng từ 50g trở lên. Nên sử
dụng cây mẹ có khối lợng khoảng 200g sẽ cho hệ số nhân chồi cao.
+ Số nách lá/hom giống tốt nhất là 2 nách lá/hom. Hom giống có thể để
nguyên lá hoặc cắt 1/2 hay 1/3 lá tuỳ theo điều kiện chăm sóc của vờn giâm.

trọt (chôn) tạm thời. Trong hệ thống trồng trọt tạm thời, sau 3 giờ đồng hồ, mô
cây lại đợc trồng tạm thời trong thời gian 3 phút trong môi trờng trồng trọt. Hệ
thống trồng trọt tạm thời đem đến tỷ lệ nhân chồi cao nhất. Paclobutrazol
trong môi trờng trồng trọt làm tăng tỷ lệ nhân chồi cây và acid gibberellic
trong môi trờng làm tăng chiều dài của chồi cây [26].
24
2.4.2.2. Một số kết quả nghiên cứu nhân giống dứa bằng phơng pháp
nuôi cấy mô trong ống nghiệm
* Một số nghiên cứu nhân giống dứa bằng phơng pháp nuôi cấy mô ở n-
ớc ngoài:
Năm 1974, Laknisita (G), Singh (R) và Tyer (C.P.A) đã tái sinh thành
công cây dứa từ mô phân sinh đỉnh của cây dứa [4].
Năm 1976, C.Pannertier và C.Lanaud đã đa ra kết luận: "Trong điều kiện
tốt nhất, từ một mầm dứa ban đầu chúng ta có thể thu đợc một triệu mầm dứa
đồng nhất về di truyền và trẻ về sinh lý sau 2 năm" [4].
Năm 1977, T.K Chenko đã đề xuất biện pháp nhân nhanh bằng kỹ thuật
nuôi cấy mô cho cây dứa. Điều này đã mở ra một triển vọng mới cho ngành
trồng dứa. Cũng trong những năm cuối thập kỳ 70 P. Y (C) và Etanore (P) đã
thành công trong khi nuôi các đoạn thân cây dứa [4].
Năm 1991, nhiều tác giả nh F.Cote, R.Domergue, M.Folliol, J.Bowquipin
và F.Marrie đã công bố quy trình nhân nhanh invitro cho cây dứa, bao gồm
các bớc sau:
Nuôi cấy ban đầu (2,5 tháng) -> Nhân nhanh (1,5 tháng) -> Tạo cây hoàn
chỉnh (12 tháng) -> Vờn ơm (6-7 tháng) -> Ruộng sản xuất (12 tháng) [4].
Các chồi non đợc nhân giống bằng các mô lấy từ lá thực hiện nhân chồi
cây dứa trong ống nghiệm. Mỗi một lá cây đợc cắt ngang thành 3 đoạn (0,5
cm; cuống, giữa là và đầu lá) và đợc trồng tại Murashige và Skoog (MS) trong
môi trờng cơ bản đợc thêm 2% Sacaroza (đờng mía) và đợc phụ trợ thêm một
số loại máy kích thích tăng trởng khác. Các mô cây có chứa phần cuống của lá
đợc cắt ra phồng lên và chồi mầm mọc ra từ đó. Số chồi cao nhất sinh ra trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status