Phần 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. Điều tra cơ bản
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Quyết Thắng là xã miền tây trực thuộc thành phố Thái Nguyên, cách
trung tâm thành phố khoảng 6 km: phía đông giáp Phường Thịnh Đán, phía
tây giáp Xã Phúc Trìu và Xã Phúc Xuân, phía nam giáp Xã Thịnh Đức và
Phường Tân Thịnh, phía bắc giáp Xã Phúc Hà và Phường Quan Triều.
1.1.1.2. Điều kiện đất đai
Quyết Thắng là xã có diện tích khá rộng lớn. Tổng diện tích đất tự
nhiên khoảng 1292,76 ha, trong đó:
- Diện tích đất trồng lúa là 368ha
- Diện tích đất lâm nghiệp là 292ha
- Diện tích đất trồng hoa màu và cây ăn quả là 296ha
- Diện tích đất thổ cư là 290ha
- Đất chưa sử dụng là 46.76ha
Căn cứ vào số liệu thực tế chúng tôi thấy diện tích đất của xã khá rộng,
nhưng chủ yếu là đất đồi bãi, chưa sử dụng, độ màu mỡ kém do ít được cải
tạo, đầu tư thâm canh, do vậy năng suất cây trồng kém. Hầu hết đất được sử
dụng cho trồng cây lương thực và trồng cây lâm nghiệp. Mặt khác, cùng với
sự gia tăng dân số, xây dựng cơ sở hạ tầng cho nên diện tích đất lâm nghiệp
và đất hoang hóa ngày một giảm, gây khó khăn cho việc chăn thả gia súc.
Chính vì vậy trong những năm tới xã cần kết hợp chặt chẽ để quy hoạch phát
triển đồng cỏ trồng đảm bảo cân đối giữa ngành trồng trọt và ngành chăn
1
nuôi, phù hợp với trào lưu phát triển chăn nuôi hiện nay của các địa phương
trong tỉnh.
1.1.1.3. Điều kiện khí hậu thủy văn
Đây là nguồn nhân lực dồi dào, ngoài thời gian lao động mùa vụ, nguồn nhân
lực này còn là động lực thúc đẩy các ngành nghề khác phát triển.
Đóng trên địa bàn xã còn nhiều trường học như: trường Vùng Cao Việt
Bắc; Trung tâm Giáo Dục Quốc Phòng; Trường Đại học Công Nghệ Thông
Tin - Truyền Thông; Đại học Khoa Học Tự Nhiên; Các trường trung học cơ
sở, tiểu học. Đặc biệt, trên địa bàn Xã Quyết Thắng có trường Đại học Nông
Lâm: đây là một điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao dân trí, chuyển giao
khoa học kĩ thuật giữa nhà trường và bà con nông dân.
UBND xã là cơ quan điều hành chung và cao nhất trong xã, tổ chức chỉ
đạo mọi hoạt động của xã.
1.1.2.2. Đời sống văn hóa - kinh tế
Nhờ sự quan tâm của Đảng, chính quyền xã mà những năm gần đây đời
sống văn hóa của nhân dân đã được nâng cao lên nhiều, trình độ văn hóa của
người dân tương đối cao, toàn xã đã xóa được nạn mù chữ. Trong xã hầu hết
các hộ gia đình đã có phương tiện nghe nhìn như: đài, ti vi sách báo cũng
được đưa đến với bà con tương đối kịp thời nhưng chưa đầy đủ.
Cơ sở hạ tầng, đường giao thông, trạm y tế cũng được đầu tư thêm rất
nhiều, đáp ứng nhu cầu của người dân trong xã và giao lưu văn hóa kinh tế
với vùng khác.
Tuy đời sống của bà con đã được nâng cao lên nhiều so với những năm
trước đây song vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, mục tiêu xã đặt ra là phát
triển nông nghiệp nhằm tăng lương thực trên đầu người, giảm bớt khó khăn,
đói nghèo trong xã, thúc đẩy hơn nữa ngành chăn nuôi.
3
1.1.3. Tình hình sản xuất
Xã Quyết Thắng tập trung nhiều thành phần kinh tế, nhưng tập trung
một lượng lớn lao động trong ngành nông nghiệp (80%). Do vậy, nền kinh tế
xã phần lớn dựa vào nông nghiệp là chủ yếu.
1.1.3.1. Tình hình chăn nuôi
lợn ngoại có chất lượng tốt.
+ Tuy nhiên, phương pháp nuôi vẫn chủ yếu là tận dụng phế phụ phẩm
của ngành trồng trọt. Công tác vệ sinh thú y chưa được đảm bảo. Đặc biệt là
việc phòng bệnh chủ động bằng vacxin còn chưa được triệt để nên đôi khi
dịch bệnh vẫn xảy ra gây thiệt hại về kinh tế cho nhân dân. Hiện nay, do nhu
cầu thị trường, đã có một số hộ gia đình đầu tư xây dựng cơ sở chuồng trại
chăn nuôi lợn theo kiểu công nghiệp có đầu tư thâm canh với quy mô hàng
trăm đầu lợn thịt, mang lại hiệu quả kinh tế cao, mở ra một hướng làm giàu
cho nông dân trên chính mảnh đất của mình.
- Chăn nuôi gia cầm
+ Bệnh dịch cúm gia cầm đang diễn ra và lây lan trên diện rộng làm
thiệt hại rất lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi, đồng thời còn gây nguy hiển
tới con người.
+ Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, người dân Xã Quyết
Thắng đã phần nào hiểu được mức độ nguy hiểm của bệnh cúm gia cầm. Hầu
hết người dân đã thực hiện các biện pháp phòng chống dịch: nhốt tập trung
gia cầm, không thả rông, không vận chuyển gia cầm, phun thuốc sát trùng và
sẵn sàng thiêu hủy gia cầm khi cần thiết.
+ Năm 2011, bệnh cúm gia cầm không xảy ra trên địa bàn xã nhưng
không vì thế mà coi nhẹ chủ quan. Cơ quan TY luôn chú trọng khuyến cáo
5
nông dân áp dụng các biện pháp phòng ngừa để giảm bớt thiệt hại khi có
dịch bệnh.
- Công tác thú y
+ Dịch bệnh luôn là mối lo ngại lớn nhất của người chăn nuôi vì nó
gây thiệt hại lớn về kinh tế cũng như ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
Nhận thức được điều đó, những năm gần đây công tác thú y đã được lãnh
đạo xã và người dân rất quan tâm. Xã đã liên kết chặt chẽ với Trung tâm
Thực hành - Thực nghiệm trường Đại học Nông Lâm định kỳ tổ chức tiêm
1.1.4. Đánh giá chung
Qua điều tra điều kiện cơ bản của xã, tôi rút ra một số thuận lợi và khó
khăn của xã như sau:
1.1.4.1. Thuận lợi
Là một xã tập trung nhiều trường học, nhiều cơ quan nhà máy lại gần
trung tâm Thành phố TN, là điều kiện thuận lợi cho cho việc vận chuyển và
tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Là một xã nông nghiệp với diện tích khá lớn, mật độ dân số không cao,
lực lượng lao động dồi dào, tạo đà phát triển chăn nuôi.
Đặc biệt là xã có Trường Đại học Nông Lâm đóng trên địa bàn thường
xuyên chuyển giao khoa học kỹ thuật tới người dân để áp dụng vào thực tiễn,
cung cấp cây, con giống có chất lượng.
Đội ngũ cán bộ xã năng động, hăng hái trong mọi việc, tích cực học
hỏi, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
1.1.4.2. Khó khăn
Điều kiện khí hậu khắc nghiệt, lượng mưa phân bố không đồng đều,
mùa hè không khí nóng ẩm, mùa đông giá rét, ẩm độ và nhiệt độ giao động
với biên độ cao, ảnh hưởng đến trồng trọt và chăn nuôi.
7
Công tác giết mổ cũng như vận chuyển gia súc, gia cầm đôi khi thiếu
chặt chẽ nên khả năng lây lan dịch bệnh là rất cao.
Công tác tiêm phòng chưa triệt để, chưa đúng định kỳ, vệ sinh phòng
bệnh chưa tốt nên dịch bệnh vẫn xảy ra.
Người dân quen sản xuất nhỏ, đầu ra của sản phẩm gặp nhiều khó khăn
gây ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế.
1.2. Nội dung, phương pháp tiến hành và kết quả phục vụ sản xuất
1.2.1. Nội dung phục vụ sản xuất
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tôi đã đề ra cho mình phương
hướng thực tập tốt nghiệp và phục vụ sản xuất như sau:
Trước khi nhận gà vào chuồng nuôi vài giờ, tất cả dụng cụ sưởi ấm
phải được chuẩn bị đủ, tương ứng cho số gà nhận về. Quây gà bằng cót cao
50cm đã được rửa sạch phơi khô, diện tích quây hợp lý đảm bảo không quá
rộng, không quá chật và luôn điều chỉnh theo sức lớn của gà. Đảm bảo nhiệt
độ trong quây khi đưa gà vào là 32 - 33
o
c. Máng ăn, máng uống phải được
chuẩn bị đầy đủ, máng uống phải được chẩn bị trước khi cho gà vào để gà có
thể uống được ngay. Nước uống pha thêm vitaminC, Bcomplex. Máng uống
dùng máng Gallon cỡ 2 lit/50 con, khay ăn cho gà dùng khay nhôm cỡ 30-
50cm cho 50 gà con.
Thường xuyên theo dõi hoạt động của đàn gà, chăm sóc cẩn thận chu
đáo, không để gà đói hoặc hết nước uống. Theo dõi sức khỏe đàn gà, sức ăn,
sức uống, không để gà bị lạnh hoặc nóng quá. Thường xuyên nới quây theo
sức lớn của gà với mật độ thích hợp:
+ Từ 1 - 7 tuần tuổi 15 - 20 con/m
2
.
+ Từ 8 - 20 tuần tuổi 7 - 10 con/m
2
.
9
* Chế độ nhiệt
Gà nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ môi thường bên ngoài, đặc biệt là
giai đoạn gà còn nhỏ, nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của đàn gà.
Nếu nhiệt độ thấp quá gà nằm tụm đống lên nhau, ít ăn, ít uống. Nếu
nhiệt độ cao quá gà sẽ nóng, kêu nhiều, ít ăn, ít uống, há mỏ ra thở. Nếu nhiệt
độ thích hợp gà hoạt động nhiều, ham ăn uống. Do vậy, phải thường xuyên
quan sát xem hoạt động của gà để điều chỉnh nhiệt độ cho thích hợp.
23 - 24
20 - 22
60 - 70
Dùng bóng đèn 70 - 200W để điều chỉnh nhiệt độ của quây.
* Chế độ chiếu sáng: Để đạt mức tăng trọng cao nhất và kích thích nhu
cầu ăn uống của gà, chúng tôi tiến hành chiếu sáng cho gà 24/24h trong 9 tuần
đầu. Ban ngày dùng ánh sáng tự nhiên, ban đêm dùng bóng điện: ở 2 tuần đầu
với công suất 200w/m
2
, giảm dần tới 9 tuần thì tắt đèn hoàn toàn về đêm.
* Chế độ thoáng khí
Gà có cường độ trao đổi chất nhanh, đồng hóa, dị hóa cao. Đồng thời
thải ra một lượng khí độc như: CO
2
, NH
3
, H
2
S,… trong một thời gian ngắn,
nên phải trang bị quạt thông gió, để quây úm gà có sự trao đổi không khí giữa
quây và bên ngoài được điều hòa.
10
* Chế độ ăn, uống
Gà được cho ăn theo chế độ tự nhiên cả ngày lẫn đêm. Máng ăn luôn
sạch sẽ phù hợp với từng lứa tuổi của gà. Trong 2 tuần đầu thức ăn dược rải
trong khay cỡ 20 - 50cm dùng cho 50 gà con. Sau 2 tuần tuổi thay thế đần
bằng máng tròn, mật độ khoảng 50 con/máng. Máng ăn được nâng cao dần
theo độ lớn của gà, miệng máng luôn ở tầm ngang lưng gà.
Chế độ uống: nước uống phải đảm bảo vệ sinh, không lẫn tạp chất,
Viêm PQTN - IB lần 1
(Nhỏ 2 - 4 giọt vào mắt, mũi tuỳ lượng nước pha)
Phòng bệnh
Newcastle, viêm
phế quản truyền nhiễm.
7
Gumboro lần1 (tuỳ theo loại vacxin)
(Nhỏ 2 - 4 giọt vào mắt, mũi tuỳ lượng nước pha)
Đậu gà (chủng vào màng cánh)
Phòng bệnh Gumboro
Phòng bệnh đậu gà
21
Gumboro lần 2 (tuỳ theo loại vacxin)
Viêm PQTN - IB lần 2 (tuỳ theo loại vacxin)
(Nhỏ mắt, mũi hoặc pha nước uống trong 1 giờ)
Phòng bệnh Gumboro
Phòng Viêm phế quản
truyền nhiễm
28
Lasota lần 2 (tuỳ theo loại vacxin)
(Nhỏ mắt, mũi hoặc pha nước uống trong 1 giờ)
Phòng bệnh Newcastle
(Bệnh Gà rù)
56
Neucastle hệ 1 (Tiêm dưới da cánh 0,2 - 0,5ml/con tuỳ
lượng nước pha)
Phòng bệnh Newcastle
120
Vacxin Đậu gà lần 2 (Pha 2ml nước cất cho
pha nước uống: Tylosin 1g/4 lít nước hoặc 1g/3kg thức ăn.
+ Trị bệnh dùng Tylosin với liều gấp đôi liều phòng.
1.2.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Kết quả công tác phục vụ sản xuất được chúng tôi tổng hợp ở bảng sau:
Bảng 1.3: Kết quả phục vụ sản xuất
Nội dung công việc
ĐVT
Số lượng
Kết quả
1. Phòng bệnh:
- Nhỏ Lasota
Con
600
An toàn
- Nhỏ Gumboro
Con
600
An toàn
- Chủng Đậu gà
Con
600
An toàn
- Tiêm Newcastle H1
Con
600
An toàn
- Nhỏ IB
- Phải nắm vững kiến thức đã học và vận dụng nó vào trong thực tiễn sản
xuất, tạo cho mình một tâm lý tốt, tự tin vào khả năng chuyên môn của mình.
- Không ngại khó, ngại khổ, ngại bẩn mà bỏ qua những cơ hội tiếp xúc
với thực tiễn, nâng cao kỹ năng thực hành như: chữa bệnh cho gia súc, gia
cầm, vệ sinh thú y
- Luôn tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn
gà, đặc biệt thực hiện công tác vệ sinh thú y, phòng dịch một cách nghiêm
ngặt, đúng kỹ thuật, không được lơ là chủ quan. 14
Phần 2
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
2.1. Đặt vấn đề
Nước ta là một nước có nền nông nghiệp khá phát triển trong đó chăn
nuôi chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế. Hiện nay khoa học
kỹ thuật đang ngày càng phát triển và đi đôi với nó là xu hướng chăn nuôi
theo hướng thâm canh công nghiệp hóa ngày càng cao. Chăn nuôi gia cầm đã
có lịch sử phát triển từ lâu đời và mang lại hiệu quả kinh tế rất cao. Từ bao
đời nay nhân dân ta đã có tập quán nuôi gà và con gà có vai trò quan trọng
trong việc cải thiện kinh tế gia đình. Trong nông thôn từ đồng bằng đến miền
núi hầu như gia đình nào cũng nuôi gà. Trong những năm gần đây chăn nuôi
gà phát triển với quy mô lớn từ trăm con đến hàng nghìn con.
điểm bệnh lý, triệu chứng lâm sàng và biện pháp phòng bệnh ký sinh trùng
đường tiêu hóa ở gà Mông nuôi theo hình thức bán chăn thả.
2.3. Tổng quan tài liệu
2.3.1. Cơ sở khoa học
2.3.1.1. Những hiểu biết về k sinh trùng đường tiêu hóa ở gà
a. Đc đim sinh hc chung ca giun trn
* Hình thái, cấu tạo cơ thể
Cơ thể giun tròn ký sinh dài có dạng hình sợi chỉ hoặc suốt chỉ. Tiết
diện cắt ngang có hình tròn. Cá thể đực và cá thể cái thường có hình dạng
giống nhau nhưng cũng có trường hợp giun đực và giun cái hoàn toàn khác nhau
(họ Tetrameridae - Giun cái có dạng hình túi, giun đực dài), chiều dài cơ thể từ vài
mm (hoặc còn bé hơn) đến 8 cm. Cá thể cái thường lớn hơn cá thể đực, Phan Thế
Việt và cộng sự (1977) [11].
16
Lớp ngoài biểu bì giun tròn được cấu tạo bằng giác chất (kitin), có vân
ngang, vân dọc hoặc vân chéo. Một số giun tròn có những chỗ biểu bì phình
to gọi là cánh (cánh thân, cánh cổ và cánh đuôi - Chỉ có một số giun đực có
cánh đuôi). Một số loài giun có gai chồi và các bộ phận phụ khác có tác dụng
cảm giác, vận động và bám vào ký chủ. Dưới lớp biểu bì là lớp hạ bì gồm một
số lớp tế bào dẹt, trong cùng là lớp tế bào cơ có hình sợi, hình bó hoặc hình
vòng (tùy loài) (Theo Nguyễn Thị Kim Lan và CS, 1999 [4]).
Bộ phận tiêu hóa gồm 3 phần chính: hốc (nang), miệng, thực quản và
ruột không kể lỗ miệng và hậu môn. Miệng có môi hoặc không có môi, thành
hốc miệng đôi khi rất dày tạo thành nang miệng. Thực quản có cấu tạo khác
nhau ở các đơn vị phân loại giun tròn ký sinh khác nhau. Ruột thường là một
ống thẳng mở ra ở lỗ huyệt hoặc ở hậu môn. Giun tròn có cơ quan bài tiết bắt
đầu từ phần sau cơ thể, sau đó hợp lại thành nhánh chung mở ra ở mặt bụng
gồm phần trước cơ thể.
Hệ thần kinh gồm: thần kinh hầu bao quanh thực quản từ đó phát ra các
ra trong cơ thể vật chủ hoặc ký chủ trung gian còn gọi là giai đoạn nội sinh
(Endogenic).
Trứng theo phân ra ngoài mang theo phôi thai hoặc ấu trùng ra ngoài.
Với những loài đẻ trứng đã có ấu trùng sau khi ra ngoài môi trường. Trứng
gặp các ký chủ trung gian nuốt phải. Trong cơ thể ký chủ trung gian chúng lột
xác 2 lần và trở thành ấu trùng có sức gây bệnh. Gà nuốt phải ký chủ trung
gian có mang ấu trùng cảm nhiễm vào cơ thể tiếp tục qua 2 lần biến thái phát triển
thành giun trưởng thành. Vòng đời có thời gian kéo dài từ 2 - 4 tháng theo "Phòng
và trị bệnh ký sinh trùng cho gà nuôi gia đình" của Dương Công Thuận 1995 [10].
Với những loài đẻ trứng có phôi thai, sau khi ra ngoài thiên nhiên gặp
các điều kiện môi trường thuận lợi trứng phát triển thành ấu trùng có sức gây
18
nhiễm, gà ăn phải sẽ mắc bệnh do ấu trùng theo đường tiêu hóa đi tới dạ dày
tuyến và dạ dày cơ, ấu trùng nở ra di hành tới vị trí ký sinh rồi phát triển
thành giun trưởng thành (theo Nguyễn Thị Kim Lan và CS,1999 [4]).
* Khả năng gây bệnh
Giun tròn gây ra một số tác động đối với gà:
+ Tác động cơ giới: Giun sán sinh sôi phát triển nhanh chóng trong các
ống ở đường tiêu hóa. Với số lượng lớn gây tắc ruột, tắc ống mật, (giun
đũa), nhiều loài có miệng hút hoặc móc gai ở miệng bám vào gây tổn thương
niêm mạc ruột, theo Dương Công Thuận (1995) [10].
+ Tác động chiếm đoạt dinh dưỡng:
Cũng theo tác giả trên, giun tròn ký sinh ở gà sống nhờ chiếm đoạt các
chất dinh dưỡng của ký chủ hoặc tự nuôi mình bằng các mô tế bào thượng bì
hoặc hút máu ký chủ. Đa số lượng ký sinh trùng nhiều và tồn tại trong thời
gian kéo dài làm cho cơ thể gà bị suy yếu, còi cọc, chậm lớn, gà mái đẻ kém
và có thể gây chết. Trong một thí nghiệm so sánh trọng lượng: gà 5 tháng tuổi
nhiễm giun sán chỉ nặng có 500 - 800g. Trong khi đó gà được tẩy giun sán đạt
tới 1200 - 1500g.
châu chấu được gọi như ký chủ trung gian bất ngờ hoặc ký chủ mang trùng
nuốt những trứng cảm nhiễm và bảo vệ trứng khỏi bị các yếu tố bên ngoài phá
hoại. Sau khi vào đường tiêu hóa 1 ngày ấu trùng nở ra và phát triển trực tiếp
trong manh tràng.
Heterakis gallinarum tác động trực tiếp gây rách và kích thích niêm
mạc do ký sinh trùng ẩn nấp dưới lớp niêm mạc của manh tràng.
Heterakis gallinarum tiết độc tố gây xung huyết gan và hiện tượng ứ huyết.
- Giun xoắn dạ dày gồm:
Acuaria Hamulosa: ký sinh ở dạ dày cơ
20
Dispharunx, Tetrameres Mohledai: ký sinh ở dạ dày tuyến.
Giun cái trưởng thành đẻ trứng đã hình thành ấu trùng bên trong, trứng
theo phân ra ngoài. Trứng này bị các ký chủ trung gian nuốt phải, có thể là
chuồn chuồn, châu chấu, bọ đất hoặc giáp xác (đối với Tetrameres). Ấu trùng
qua 2 lần biến thái kéo dài từ 20 - 25 ngày và trở thành ấu trùng cảm nhiễm. Gà
ăn phải ký chủ trung gian mang trùng vào cơ thể, tiếp tục qua 2 lần biến thái nữa
hình thành giun trưởng thành. Thời gian kéo dài từ 1 - 4 tháng.
+ Tác động gây hại:
Acuaria Dispharunx ký sinh tại dạ dày cơ. Chỗ giun tập hợp lớp màng
kitin bị tan rã và gây viêm, tổ chức dạ dày cơ dày thêm lên và bị thủng từng
đường. Giun có thể phân hủy thành dạ dày và tạo những nang bên trong thành
dạ dày chứa nhiều giun.
Ấu trùng Tetrameres xâm nhập vào đường truyền của dạ dày tuyến.
Giun gây viêm dạ dày thể cata, làm thoái hóa và teo mô tuyến, phá hủy chức
năng dạ tuyến dẫn tới rối loạn chức năng hoạt động, làm ngừng tiết dịch vị, gà
gầy yếu và có thể chết nếu nhiễm nhiều giun.
- Giun tóc:Do 3 giống: Capolliaria, Eucolens và Thominx gây ra
Sở dĩ chúng tôi nhóm chung cả 3 giống này vào một bệnh vì chúng
cùng có một hình dáng giống nhau. Chúng cùng có hình dáng nhỏ và dài như
vòi có móc bám. Móc đôi khi còn có ở giác bám, mồm ngoạm và trên đầu.
+ Rãnh bám: là cơ quan bám có cấu tạo đơn giản gồm hai khe bám ở
phía lưng và phía bụng của đầu, ít khi có một hoặc bốn khe bám.
+ Mồm ngoạm: có hình dạng đa dạng hơn. Đây là những cơ quan bám
riêng biệt có sự phát triển cơ riêng biệt, phân bố theo kiểu chéo chữ thập ở
phía bụng và phía lưng bề mặt đầu.
22
+ Giác bám: có cấu tạo như nửa hình cầu, có thành cơ cấu tạo phức tạp,
giác thường ở bề mặt của đầu và thường có bốn giác. Giác bám có gai nhỏ và
móc phân bố thành một số hàng trên thành cơ như ở các giống Railietina. Giác
bám đặc trưng cho các đại diện của bộ Cyclophylidea. Trên thành của giác bám
đôi khi còn có những núm cơ đặc biệt (Schistometra conoidea).
+ Vòi: thường ở đỉnh của đầu, có cấu tạo cơ, có thể nhô cao trong bao vòi
với sự hoạt động của những cơ đặc biệt. Vòi thường có móc, móc có hình dạng, số
lượng và kích thước khác nhau tùy loài, thường được xếp thành một hoặc hai
hàng. Ở một số đại diện có móc xếp thành nhiều hàng (Raillietina).
+ Cổ: là phần hẹp lại ngay dưới đầu, có vai trò quan trọng trong việc
hình thành các đốt mới. Kích thước của cổ khác nhau ở các loài khác nhau. Ở
một số loài cổ rất thay đổi do sự co lại của cơ. Các đốt non được hình thành ở
khoảng giữa cổ và những đốt ở phía dưới nó, những đốt già bị đẩy lùi dần về
phía dưới. Vì vậy, những đốt non nhất nằm ở gần đầu, còn những đốt già nhất
nằm ở tận cùng của chuỗi đốt.
+ Chuỗi đốt: bao gồm các đốt sán, có từ một vài đốt đến hàng nghìn
đốt. Chiều dài của chuỗi đốt thay đổi từ vài milimet đến vài trăm milimet. Các
đốt thường có hình dạng và kích thước khác nhau, phụ thuộc vào sự sinh
trưởng của sán và chúng còn thay đổi ngay ở các cá thể trong một loài.
Trong các đốt chứa cơ quan sinh dục phát triển ở các giai đoạn khác
nhau. Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính. Trong mỗi đốt trưởng thành
thường có một hoặc hai hệ sinh dục (mỗi hệ sinh dục gồm một cơ quan sinh
Sán dây ký sinh ở gà muốn hoàn thành vòng đời cần phải có ký chủ
trung gian, do vậy gà chỉ bị nhiễm sán dây khi nuốt phải ký chủ trung gian
chứa ấu trùng có sức gây bệnh.
24
Đốt sán già rụng cùng phân ra ngoài, trứng sán phân tán, ký chủ trung
gian ăn phải, vỏ trứng bị phân hủy ở ruột ký trung gian, thai 6 móc chui vào
cơ thể ký chủ trung gian tiếp tục phát triển thành ấu trùng Cysticercoid. Gà ăn
ký chủ trung gian có mang ấu trùng này vào đường tiêu hóa, ký chủ trung
gian bị phân hủy, ấu trùng dùng giác bám vào niêm mạc ruột, lấy dinh dưỡng
và phát triển thành sán trưởng thành.
2.3.1.2. Nguyên nhân gà nhiễ m ký sinh trù ng
Bệnh phổ biến hầu khắp thế giới, nguồn lây bệnh là gà bệnh và gà đã khỏi
bệnh lâm sàng. Gà lây bệnh thông qua máng ăn, nước uống, máng uống, thức ăn
đất bị nhiễm trứng giun, sán. Trứng giun cũng có thể tiếp xúc với gà thông qua
dụng cụ lao động và phương tiện vận chuyển, giao thông của người nông dân.
Vật truyền bệnh cơ giới là các vật nuôi trong nhà như động vật nhai lại, chó,
mèo, chim chóc, côn trùng. Theo Phan Thế Việt và cộng sự (1977) [11].
Chính phương thức chăn nuôi và sự hiểu biết của người chăn nuôi cũng
có ý nghĩa lớn trong việc lan truyền của bệnh, chuồng trại và bãi chăn thả quá
chật, thức ăn không đủ chất, kỹ thuật chăn nuôi không đúng.
Giun, sán có s ức sinh sản cao, trứng giun tròn khá bền ở môi trường
bên ngoài khả năng phát tán của trứng giun tròn rất lớn(theo Phạm Văn Khuê,
Phan Lục (1996) [3].
Trong điều kiện Việt Nam bệnh giun, sán có ở hầu khắp các tỉnh, các
trại chăn nuôi, các vùng trong cả nước. Thiệt hại do bệnh giun tròn gây ra là
không thể tính được (theo Dương Công Thuận,1995) [10],
2.3.1.3. Đc điể m bệ nh lí và triệ u chứ ng lâm sà ng bệ nh do ký sinh trù ng
đườ ng tiêu hó a gây ra ở gà
a. Đc đim bệnh l v triệu chng lâm sng bệnh giun trn đường