nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại vườn quốc gia ba bể tỉnh bắc cạn - Pdf 22


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP TRẦN NGỌC THỂ

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG
ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ,
TỈNH BẮC KẠN LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.68 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN BÁ NGÃI
Hà Nội, 2009 ii
LỜI CẢM ƠN Luận văn này được thực hiện và hoàn thành theo chương trình đào tạo Thạc sỹ
khoa học Lâm nghiệp của Trường Đại học Lâm nghiệp, Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà
Nội.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.

iii
MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Ở ngoài nước 3
1.2. Ở trong nước 7
1.3. Một số kết luận rút ra từ nghiên cứu tổng quan 12
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1. Mục tiêu nghiên cứu 14
2.1.1. Mục tiêu tổng quát 14
2.1.2. Mục tiêu cụ thể 14
2.2. Đối tượng nghiên cứu 14
2.3. Giới hạn nghiên cứu 14
2.4. Nội dung nghiên cứu 15
2.5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 15
2.5.1. Quan điểm và phương pháp luận 15
2.5.2. Phương pháp nghiên cứu 20
2.5.2.1. Nghiên cứu và phân tích tài liệu thứ cấp 20
2.5.2.2. Chọn địa điểm nghiên cứu 21
2.5.2.3. Xác định dung lượng mẫu điều tra 24
2.5.2.4. Phương pháp điều tra thu thập số liệu hiện trường 25
2.5.2.5. Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 26
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN

4.3. Nguyên nhân dẫn tới những tác động bất lợi của người dân địa phương đến
TNR tại VQG Ba Bể
63
4.3.1. Cơ cấu đất canh tác 63
4.3.2. Cơ cấu thu nhập 65
4.3.3. Cơ cấu chi phí 68
4.3.4. Sức hấp dẫn của tỷ số thu chi đối với hoạt động canh tác và khai thác sản
phẩm từ rừng
70
4.3.5. Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến thu nhập chung của HGĐ 72
4.3.6. Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến thu nhập từ rừng của HGĐ 74
4.3.7. Các nguyên nhân cơ bản khác dẫn tới những tác động bất lợi của người
dân địa phương đến TNR tại VQG Ba Bể
77
4.3.7.1. Sự phụ thuộc của người dân địa phương vào TNR 77
4.3.7.2. Các nguyên nhân về kinh tế 78
4.3.7.3. Các nguyên nhân về xã hội 85
4.4. Đề xuất các giải pháp góp phần giảm thiểu những tác động bất lợi của người
dân địa phương đến TNR tại VQG Ba Bể 91
4.4.1. Cơ sở đề xuất các giải pháp 91
4.4.2. Các giải pháp cụ thể 93
4.4.2.1. Huy động người dân tham gia hoạt động bảo vệ rừng, khoanh nuôi
tái sinh rừng tự nhiên và trồng rừng sản xuất
93
4.4.2.2. Quy hoạch và xây dựng các dự án phát triển KT-XH vùng đệm 95
4.4.2.3. Phát triển du lịch sinh thái 96
4.4.2.4. Đào tạo nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động 97
4.4.2.5. Tổ chức di dân vùng cao ra khỏi khu bảo vệ nghiêm ngặt 98
4.4.2.6. Bảo vệ nghiêm ngặt vùng lõi, ngăn chặn tích luỹ gỗ trong dân 99
4.4.2.7. Quy hoạch vùng chăn thả gia súc và trồng cỏ cho chăn nuôi 100

KTG : Khai thác gỗ
KT-XH : Kinh tế - xã hội
NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
PARC : Xây dựng các khu bảo vệ nhằm bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
trên cơ sở sinh thái cảnh quan
PRA : Đánh giá nông thôn có sự tham gia
QLBVR : Quản lý bảo vệ rừng
RRA : Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
RTN : Rừng tự nhiên
SPSS : Phần mềm xử lý thống kê dùng trong các ngành khoa học xã
hội (Statistical Package for Social Sciences)
SWOT : Phân tích Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Thách thức
SX : Sản xuất
TB : Trung bình
TNR : Tài nguyên rừng
UBND : U
ỷ ban nhân dân
UNDP : Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
VQG : Vườn Quốc gia
WCMC : Trung tâm quan trắc Bảo tồn Thế giới
GTKT : Giá trị kinh tế

1
Là thuật ngữ trong nhiều trường hợp được dùng để gọi chung cho tất cả các bậc phân hạng của hệ thống bao
gồm các Vườn Quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên (các khu dự trữ thiên nhiên, các khu bảo tồn loài/ sinh
cảnh) và các khu bảo tồn cảnh quan,… của Việt Nam cũng như trên thế giới.

vi
DANH MỤC BẢNG


Bảng 4.19. Ước lượng độ co giãn của mô hình đối với thu nhập chung của HGĐ 73
Bảng 4.20. Ước lượng độ co giãn của mô hình đối với thu nhập từ rừng của HGĐ75
Bảng 4.21. Nhu cầu và khả năng đáp ứng lương thực của HGĐ 79
Bảng 4.22. Nhu cầu và khả năng đáp ứng thu chi tiền mặt của HGĐ 81
Bảng 4.23. Nhu cầu chất đốt của HGĐ tại VQG Ba Bể 83
Bảng 4.24. Mô hình tứ diện về phát triển kinh tế hộ với quản lý tài nguyên rừng tại
khu vực nghiên cứu
92
Bảng 4.25. Kế hoạch triển khai một số hoạt động lâm nghiệp theo nhu cầu của HGĐ
khu vực nghiên cứu
95 vii

DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Tháp sinh thái nhân văn trong nghiên cứu sự tác động của người dân địa
phương đến TNR
18
Hình 2.2. Mô hình tứ diện về phát triển kinh tế hộ và quản lý tài nguyên rừng 30
Hình 3.1. Sơ đồ khu vực nghiên cứu 33
Hình 3.2. Bản đồ khu vực nghiên cứu 34
Hình 3.3. Biểu đồ cơ cấu đất đai của VQG Ba Bể 37
Hình 3.4. Biểu đồ cơ cấu đất đai của các xã nghiên cứu 38
Hình 4.1. Tình hình vi phạm công tác QLBVR VQG Ba Bể 45
Hình 4.2. Tỷ trọng số hộ tham gia khai thác gỗ và bán gỗ 53
Hình 4.3. Số hộ tham gia khai thác LSNG theo thành phần dân tộc 59

thuẫn giữa khu bảo tồn, VQG với người dân địa phương - những người đã và đang
sống phụ thuộc một phần vào nguồn TNR. Do đó, việc tồn tại những tác động bất
lợi của người dân vào TNR là một tất yếu.
VQG Ba Bể - vườn di sản ASEAN, nằm trên địa bàn huyện Ba Bể - một trong
2 huyện nghèo của tỉnh Bắc Kạn và là một trong 61 huyện nghèo của cả nước thuộc
Chương trình 30a của Chính phủ [
10] cũng trong tình trạng chung như thế. Dân số
sống trong và xung quanh VQG Ba Bể có 19.375 người, gồm 5 dân tộc chính là Tày,
H’Mông, Dao, Nùng và Kinh đã sinh sống lâu đời ở nơi đây với những tập quán
truyền thống như canh tác nương rẫy, du canh du cư, săn bắn động vật, chặt gỗ, lấy
củi, thu lượm các sản phẩm từ rừng Đời sống của người dân địa phương phần lớn

2
dựa vào nguồn TNR là chính, họ cố gắng tiếp cận đến mức tối đa nguồn tài nguyên
này mỗi khi có cơ hội. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giảm thiểu những tác động
bất lợi của người dân địa phương tới TNR ở các KBT, VQG nói chung và VQG Ba
Bể nói riêng nhằm bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển bền vững TNR nơi đây.
Để trả lời câu hỏi trên và góp phầ
n làm rõ những tồn tại nêu trên, đề tài
“Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại VQG Ba
Bể, tỉnh Bắc Kạn” được thực hiện là có cơ sở và hết sức cần thiết.

3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Heading 1_Tran Ngoc The
1.1. Ở ngoài nước
Trên thế giới, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay

Ở Indonesia, kế hoạch hành động đa dạng sinh học ghi nhận rằng "Việc tăng
cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong và

4
phụ thuộc vào các vùng có tính đa dạng sinh học cao, là mục tiêu chính của kế
hoạch hành động và là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch
(Bappenas, 1993) (dẫn theo Lê Sỹ Trung, 2005) [
50, tr. 7].
Bink Man W. (1988) trong nghiên cứu của mình thực hiện tại làng Ban Pong,
tỉnh S. Risaket, Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để
chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như: củi đun và hoa quả trong rừng.
Tuy nhiên đây là một minh hoạ rất cần thiết của người dân địa phương tham gia vào
việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển (FAO, 1996).
Colfer. C.J.P (1980) trong tác phẩm “Thay đổi và NLKH bản địa” tại
Đông
Kalimamtan. Qua mô tả việc đi thu hái lâm sản phụ, tác giả đã nhận định rằng
những sản vật đó được coi như là những mặt hàng không phải trả tiền, ai cũng có
thể thu lượm được. Thế nhưng những quyền đó không được quy định cụ thể, nó đã
trở thành một thông lệ, trong đó có cả việc dùng gỗ làm nhà, có lúc dùng để biện hộ
cho việc thu hoạch g
ỗ và bán (dẫn theo Ngô Ngọc Tuyên, 2007) [51, tr. 8].
Năm 1986, trong tác phẩm “Lâm nghiệp xã hội và hành động của cộng đồng”
các tác giả Dorji, D.C. Chavada, B. Thinley và Wangchuks cho rằng: Rừng chủ yếu
là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả và
chuồng trại cho gia súc. Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức
ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ
đất và nước trên vùng đất dốc (FAO, 1996) [
51].
Theo Gadgil và VP. Vartok năm 1976 trong tác phẩm: “Những lùm cây thiêng
miền Tây dãy Ghats ở Ấn Độ” cho rằng: Người dân địa phương ở Ấn Độ đã bảo vệ

ăng trưởng kinh tế nông thôn ở Ấn
Độ mà vẫn hỗ trợ tốt mục tiêu quan trọng là bảo tồn [
73].
Phần lớn các khu bảo tồn đều được thiết lập vì mục đích Quốc gia, mà ít nghĩ
đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương. Dựa trên mô hình của
Hoa Kỳ, phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn
cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác TNR. Phương thức này
gọi là biện pháp "Rào và phạt". Tại các nước Đông Nam Châu Á phương thức này
tỏ
ra không thích hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa phương bị
mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất
lớn [
50, tr. 6, 7].
Ở Đông Nam Châu Á, sự tham gia của người dân địa phương vào công tác bảo
tồn đa dạng sinh học là một biện pháp cần thiết và thường có hiệu quả. Lý do để
khuyến khích sự tham gia này là: Nỗ lực của các cơ quan Chính phủ nhằm đưa dân
chúng ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương

6
diện quản lý TNR và kinh tế xã hội. Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn
của họ đến một nơi mới chẳng khác nào "bắt cá khỏi nước" và khi đó lực lượng
khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có người bảo vệ. Người dân địa
phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các
thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu qu
ả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này
[
50].
Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các KBT
và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn
bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của người dân địa phương. Ở VQG

trình. Kết quả thảo luận ở đây cũng đã khẳng định rằng, có một cơ hội để tạo ra một
sự hiểu biết tốt hơn giữa người dân nông thôn về tầm quan trọng của trồng rừng và
bảo tồn thiên nhiên sẽ dẫn đến một cách quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên trong
tương lai [
62].
Các nguyên tắc được lập ra trong công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên và
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội quốc gia năm 1992 - 1996 tại Thái Lan là:
"Khuyến khích người dân cộng tác với chính phủ, trong bảo tồn tài nguyên thiên
nhiên thông qua việc đề cao vai trò của các tổ chức nhân dân, tổ chức phi chính phủ,
từ trung ương đến địa phương. Trong việc quyết định các dự án quản lý tài nguyên
thiên nhiên cũng như trong việc theo dõi, giám sát và đánh giá thành công của dự án
này". Nhận rõ sự cần thi
ết phải xem xét điều kiện kinh tế, xã hội xung quanh KBT,
các nhà quy hoạch quản lý KBT đã bắt đầu đề xuất và thiết lập các vùng đệm để
ngăn chặn sự xâm hại từ bên ngoài vào các KBT [
50].
Các nghiên cứu trên thế giới được liệt kê trên đây mới chỉ có những phân tích
định tính về sự phụ thuộc của các cộng động dân cư vào tài nguyên và khẳng định
cần thiết phải có sự tham gia của người dân vào các hoạt động bảo tồn TNR. Tuy
nhiên, chưa có các nghiên cứu định lượng xác định những tác động của cộng đồng
vào TNR và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tác động đó vào TNR.
1.2. Ở trong nước
Trải qua thời gian, diễn biến TNR ở các khu rừng đặc dụng nước ta đã có
nhiều thay đổi do sức ép của sự gia tăng dân số, nhu cầu về gỗ, LSNG ngày một gia
tăng đối với cộng đồng dân cư sinh sống trong KBT và VQG. Việc đầu tư quản lý
bảo vệ và phát triển các khu rừng đặc dụng còn hạn hẹp. Việc triển khai, thực thi
các chính sách, pháp luật của nhà nướ
c đối với hệ thống này chưa đồng bộ, kịp thời.
Vì thế, dẫn đến có nhiều vi phạm nghiêm trọng vào các khu rừng đặc dụng.
So với nhiều nước trên thế giới và khu vực thì lịch sử thành lập các khu rừng

- Rừng đặc dụng bao gồm các loại: VQG, KBTTN, khu bảo vệ cảnh quan, khu
rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học [
47, tr.5].
- Trong VQG và KBTTN được chia thành 3 phân khu chức năng chính sau: (1)
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: Là khu vực có diện tích vừa đủ để bảo vệ nguyên vẹn
hệ sinh thái tự nhiên như mẫu chuẩn sinh thái quốc gia, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ
để theo dõi diễn biến tự nhiên của rừng và hệ sinh thái; Đối với rừng đặc dụng ở vùng
đất ngập nước, phạm vi và quy mô của phân khu bảo vệ nghiêm ngặt được xác
định
theo mục tiêu, đối tượng, tiêu chí bảo tồn và điều kiện thuỷ văn; (2) Phân khu phục
hồi sinh thái: Là khu vực được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để khôi phục các hệ sinh thái

2
Trung tâm Giám sát bảo tồn Thế giới của UNEP đánh giá Việt Nam là một trong 16 nước có ĐDSH cao
nhất – WCMC, 1992, Báo cáo xây dựng chỉ số ĐDSH Quốc gia: Tài liệu thảo luận, Cambridge, UK. (dẫn
theo PARC, 2006) [17, tr. 4].

9
rừng thông qua việc thực hiện một số hoạt động lâm sinh cần thiết; (3) Phân khu dịch
vụ - hành chính: Là khu vực để xây dựng các công trình làm việc và sinh hoạt của
ban quản lý, các cơ sở nghiên cứu - thí nghiệm, dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí [
47,
tr. 7].
- VQG và KBTTN phải xây dựng vùng đệm cho khu rừng. Vùng đệm là vùng
rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm liền kề với vườn quốc gia và khu bảo
tồn thiên nhiên; bao gồm toàn bộ hoặc một phần các xã, phường, thị trấn nằm sát ranh
giới với vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Vùng đệm được xác lập nhằm
ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại của con người tới v
ườn quốc gia và khu bảo tồn
thiên nhiên. Ban quản lý khu rừng đặc dụng tổ chức cho cộng đồng dân cư vùng đệm

số kết luận rằng: (1) Các nông hộ trong vùng đệm Pù Mát có sự gắn bó chặt chẽ với
rừng, nguồn thu nhập từ khai thác lâm sản và canh tác nương rẫy đóng vai trò quan
trọng trong tổng thu nhập của mỗi nông hộ. Hiện nay, các nông hộ đang có sự
chuyển đổi về sinh kế, song mới chỉ có rất ít ở các hộ có hiểu biết và có v
ốn đầu tư;
(2) Hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng TNR một cách bất hợp pháp. Tại
thời điểm nghiên cứu, 34% tổng thu nhập hàng năm của một HGĐ trong vùng đệm
và 62% tổng thu nhập của một HGĐ trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt là từ rừng. Việc
thành lập KBTTN (năm 1997) đã làm giảm 30% - 71,4% diện tích đất và khoảng
50% thu nhập từ rừng củ
a người dân địa phương; (3) Mặc dù đã có một vài chương
trình hỗ trợ được thực hiện tại KBTTN Pù Mát, song chúng chưa bù đắp được những
mất mát do việc thành lập KBTTN gây ra.
Như vậy, các nghiên cứu đã thực hiện chủ yếu là phân tích, đánh giá sự phụ
thuộc của cộng đồng địa phương vào rừng và đất rừng. Nhưng vấn đề nhìn nhận từ
góc độ
cộng đồng địa phương đối với tài nguyên rừng còn chưa được nghiên cứu
sâu sắc. Một số nghiên cứu trong những năm gần đây đã đề cập đến vấn đề tác động
của cộng đồng địa phương tới tài nguyên rừng nhưng chỉ giới hạn ở tác động của
cộng đồng địa phương vùng đệm đến các VQG hoặc KBTTN.
Nguyễn Thị Ph
ương (2003) [29] khi “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa
phương vùng đệm đến tài nguyên rừng VQG Ba Vì- Hà Tây”, đã vận dụng phần
mềm SPSS trong việc tổng hợp và xử lý số liệu về hình thức tác động và các
nguyên nhân tác động và chỉ ra rằng: Cộng đồng ở đây sống chủ yếu bằng nghề
nông nhưng diện tích đất nông nghiệp rất ít và năng suất lúa thấp. Vì vậy, để giải
quyế
t nhu cầu cuộc sống hàng ngày họ tác động tới tài nguyên rừng dưới nhiều hình
thức như: sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hoá, khai thác sản phẩm với mục đích
tiêu dùng, chăn thả gia súc….trong đó hình thức sử dụng đất rừng để sản xuất hàng

đất của các hộ trong thôn bị mất
đi, thu nhập về lâm nghiệp tập trung vào một số
chủ rừng, ảnh hưởng tới sự phân công lao động trong HGĐ (dẫn theo Nguyễn Thị
Phương, 2003) [
29].
Một nghiên cứu về nhu cầu sử dụng gỗ củi của Lê Thu Hiền (2003) [
19], được
thực hiện tại xã Khang Ninh - một xã vùng đệm VQG Ba Bể cho thấy: Gỗ củi là
nhiên liệu chính sử dụng làm chất đốt ở đây, loại nhiên liệu này có nguồn gốc từ gỗ
lớn là 2,8%, gỗ nhỏ là 27%, cây bụi là 53,5% và cành nhánh là 16,9%. Nhu cầu sử
dụng gỗ củi bình quân mỗi hộ gia đình là khá cao 20,3 kg/ngày, trong đó ở vùng
cao là 26 kg/ngày, ở vùng thấp là 17,5 kg/ngày. Đặc biệt, nguồn cung cấp gỗ củi

12
cho người dân địa phương chủ yếu từ rừng tự nhiên, rừng phục hồi, đồi trọc và cây
trồng phân tán.
Cũng tại VQG Ba Bể, tác giả Lê Đức Vượng (2007) [
59], đã bước đầu tìm
hiểu sự phụ thuộc của người dân địa phương vào tài nguyên rừng tại 2 thôn của xã
Nam Mẫu - một xã nằm trọn trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Kết quả nghiên
cứu tuy độc lập ở từng thôn trong xã Nam Mẫu nhưng phần nào đã khẳng định được
vai trò của lâm sản đối với người dân địa phương cũng như sự phụ thuộc của h
ọ vào
TNR thông qua tỷ trọng giữa thu nhập từ lâm sản nói chung so với tổng thu nhập
của hộ gia đình (40,18% đối với thôn Cốc Tộc, 50,92% đối với thôn Nặm Dài).
Nghiên cứu mới chỉ chỉ tập trung ở 2 thôn, đối với 2 dân tộc Tày và H’Mông do vậy
chưa phản ánh được đầy đủ sự phụ thuộc của người dân sống trong và xung quanh
VQG Ba Bể vào TNR.
1.3. Một số kết luận rút ra từ nghiên cứ
u tổng quan

giảm thiểu những tác động bất lợi của người dân địa phương vào tài nguyên rừng tại
KBT, VQG.
- Một số nghiên cứu ch
ưa làm rõ được dung lượng, cơ cấu mẫu điều tra theo
từng phương pháp cụ thể; chưa đưa ra được các chỉ số, chỉ báo thể hiện sự thay đổi,
biến đổi TNR qua các giai đoạn khác nhau.
- Hầu hết các giải pháp đưa ra trong những nghiên cứu dạng này còn chung
chung, tản mạn, đặc biệt mới chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng, có nghĩa là mới khẳng
đị
nh đó là giải pháp gì (Cái gì), chứ chưa chỉ ra được làm như thế nào.
Vì vậy, vấn đề này cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện. 14
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2 Heading 1_Tran Ngoc The
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Góp phần xây dựng cơ sở lý luận giải quyết mối quan hệ giữa các cộng đồng
sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng tại các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam, đồng
thời góp phần giúp địa phương có được những luận cứ khoa học cũng như thực tiễn
đề ra giải pháp quản lý, bảo v
ệ, phát triển bền vững tài nguyên rừng dựa vào cộng
đồng.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định được các hình thức và mức độ tác động của các hộ gia đình đồng
bào dân tộc Tày, Dao, H’Mông vào tài nguyên rừng tại VQG Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Xác định được các nguyên nhân chính dẫn đến những tác động bất lợi tới tài

- Đề xuất các giải pháp làm giảm thiểu các tác động bất lợi và thu hút người
dân tham gia vào quản lý bảo v
ệ và phát triển tài nguyên rừng tại VQG Ba Bể, tỉnh
Bắc Kạn.
2.5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Quan điểm và phương pháp luận
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên: (1) Lý luận về lý thuyết hệ thống; (2)
Quan điểm sinh thái - nhân văn; (3) Quan điểm bảo tồn - phát triển và (4) Tiếp cận
có sự tham gia.
Một là, vận dụng lý luận về lý thuyết hệ thống: Hệ th
ống được hiểu là một cấu
trúc hoàn chỉnh của tự nhiên, nó bao gồm nhiều bộ phận chức năng liên kết với
nhau một cách có tổ chức và trật tự, tồn tại và vận động theo những quy luật thống
nhất. Một hệ thống luôn bao gồm những hệ thống thành phần (nhỏ hơn) hay còn gọi
là hệ thống phụ. Mọi sự vật, hiện tượng đề
u nằm trong hệ thống và mỗi hệ thống lại
nằm trong hệ thống lớn hơn.
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống
kinh tế xã hội và tác động tới hệ thống tự nhiên.
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống
kinh tế, bởi vì mức độ
tác động của người dân địa phương gắn liền với các hoạt

16
động kinh tế của con người như sử dụng đất rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn
thả gia súc… Sự tác động này cũng phụ thuộc vào sinh kế, mức sống, nhu cầu thị
trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận trước mắt và hiệu quả kinh tế thường quyết định
tới hình thức sử dụng TNR của người dân địa phương. Ngược lại, mức
độ giàu có và
đa dạng của TNR cũng tác động mạnh mẽ tới nguồn thu của người dân địa phương.

17
con người phải phù hợp với quy luật tự nhiên và giảm thiểu những tác động bất lợi
tới nó.
Hai là, quan điểm sinh thái - nhân văn: Thực tế cho thấy, các hoạt động kinh
tế xã hội trong cộng đồng hay trong mỗi HGĐ đều rất đa dạng và phong phú. Nó
phản ánh đặc điểm sinh thái và mối quan hệ KT-XH. Điều này chỉ ra rằng, các hoạt
động trong cộng đồng chịu sự chi ph
ối của nhiều yếu tố và có một yếu tố nào đó giữ
vai trò quan trọng trong cộng đồng này vào thời điểm này nhưng lại không phải
quan trọng trong thời điểm khác hoặc trong cộng đồng khác. Để giải thích tác động
bất lợi của người dân địa phương đến TNR, đề tài sử dụng tháp sinh thái - nhân văn
của Park (1936) đã được Teherani Kroenner (1992) và Nguyễn Bá Ngãi (2001) mô
phỏng [
39, tr.79].
Mô hình sinh thái - nhân văn được Park thiết kế theo hình tháp dựa trên các
hoạt động xã hội của cộng đồng chịu sự chi phối của 4 bậc của các nhóm nhân tố
theo trình tự: Bậc sinh thái, bậc kinh tế, bậc thể chế chính sách và bậc đạo đức. Mô
hình này đề cập đến quan hệ giữa sắp xếp thứ bậc các nhóm nhân tố với các hoạt
động của cá nhân và sự bền vững.
Dựa trên hình tháp này (
Hình 2.1) có thể giải thích: Quan hệ giữa tác động bất
lợi của cộng đồng đến TNR và phát triển kinh tế - xã hội địa phương - bảo tồn TNR
là quan hệ có xu hướng nghịch. Tức là khi kinh tế - xã hội địa phương càng phát
triển, điều kiện sống về vật chất, tinh thần được đảm bảo và công tác bảo tồn TNR
được thực hiện tốt thì những tác động bất lợi tớ
i TNR sẽ càng giảm. Sự tác động bất
lợi của người dân địa phương vào TNR đều có cơ sở sinh thái và chịu sự ảnh hưởng
của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status