BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
------------------------------------------TRƯỜNG
ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------
NGÔ VIẾT HUY
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG
CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG
ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN BẮC HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI, NĂM 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-----------------
NGÔ VIẾT HUY
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG
CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG
ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN
vậy mâu thuẫn đã nảy sinh giữa KBT, VQG với người dân địa phươngnhững người đã và đang sống phụ thuộc một phần vào nguồn TNR. Do đó
việc tồn tại những tác động bất lợi của người dân vào TNR là một tất yếu.
KBTTN Bắc Hướng Hóa, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị được
thành lập ngày 14/3/2007 nhưng đến ngày 7/7/2010 Ban quản lý KBTTN Bắc
Hướng Hóa mới chính thức đi vào hoạt động. KBTTN Bắc Hướng Hóa thuộc
vùng Trung Trường Sơn, là nơi giao lưu của các luồng thực vật Bắc Nam, khu
vực Đông Dương. Đây là điểm nóng về ĐDSH mang tầm vóc quốc gia và thế
giới, là nơi sinh sống của các loài động thực vật có ý nghĩa bảo tồn quốc tế.
Vùng đệm KBTTN Bắc Hướng Hóa có 5 xã, 42 thôn, 2.402 hộ, 11.073 khẩu
của 2 dân tộc Kinh và Vân Kiều (dân tộc Vân Kiều chiếm 67%). Trong đó có
1
02 thôn sinh sống ở trong vùng lõi đó là thôn Cuôi, Cựp xã Hướng Lập; có 19
thôn ven rừng. Tất cả 21 thôn này đều là người Vân Kiều có đời sống kinh tế
rất khó khăn, dân trí thấp và gắn liền với tập quán truyền thống như canh tác
nương rẫy, chặt gỗ, săn bắt động vật, thu lượm các sản phẩm từ rừng...Đời
sống của người dân địa phương phần lớn dựa vào nguồn TNR là chính, họ cố
gắng tiếp cận tới mức tối đa nguồn tài nguyên này mỗi khi có cơ hội. Vấn đề
đặt ra là làm thế nào để giảm thiểu những tác động bất lợi của người dân địa
phương tới TNR ở các KBT, VQG nói chung và KBTTN Bắc Hướng Hóa nói
riêng nhằm bảo vệ ĐDSH và phát triển bền vững TNR nơi đây.
Để trả lời câu hỏi đặt ra và góp phần làm rõ những tồn tại nêu trên, đề
tài “Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại
Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị” được thực hiện là
có cơ sở và hết sức cần thiết.
2
tây Nepal đã được thực hiện. Nghiên cứu đã khẳng định 73% người dân địa
phương sống trong khu vực phụ thuộc vào nông nghiệp, nguồn chất đốt và
thức ăn[26].
Ở Ấn Độ, diện tích đất lâm nghiệp đứng thứ hai sau diện tích đất nông
nghiệp và là nơi ước tính có 275 triệu người dân địa phương ở các vùng nông
thôn phụ thuộc vào rừng (ít nhất là một phần sinh kế của họ). Một nghiên cứu
về lâm nghiệp cộng đồng bên ngoài khu rừng đặc dụng đã chỉ ra rằng các khu
rừng không chỉ cung cấp tiềm năng to lớn về xóa đói giảm nghèo và tăng
trưởng kinh tế nông thôn ở Ấn Độ mà vẫn hỗ trợ tốt mục tiêu quan trọng là
bảo tồn[27].
Các mô hình ở Đông Nam Á đã chỉ ra rằng: Nỗ lực của các cơ quan
chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả
như mong muốn trên cả phương diện quản lý TNR và KT-XH. Việc đưa
người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới chẳng khắc nào
“bắt cá khỏi nước” và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR
mà không có người bảo vệ. Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ
truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ
ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này[19].
Trước những bất cập trong công tác bảo tồn ở các VQG và KBT trên
thế giới từ những năm đầu của thập kỷ 80 đã có nhiều nghiên cứu, hội thảo
quốc tế với sự đóng góp của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về bảo tồn đã
đề xuất những thay đổi trong chiến lược bảo tồn. Một chiến lược bảo tồn mới
dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý
KBTTN và VQG với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần
thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn
hóa trong quá trình xây dựng các quyết định.
Ở Thái Lan, một thử nghiệm của Dự án “Quản lý bền vững thông qua
sự cộng tác” đã thực hiện tại KBT động vật hoang dã Phu Kheio, tỉnh
đến tài nguyên rừng[16].
Dilmour D.A. (1999)[8], lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẩn đến
tính kém hiệu quả của các chương trình, dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên
5
là chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng,
giữa lợi ích cộng đồng địa phương với lợi ích quốc gia. Do đó chưa phát huy
được năng lực nội sinh của các cộng đồng cho quản lý tài nguyên. Vì vậy,
quản lý tài nguyên cần phát triển theo hướng kết hợp giữa hoạt động bảo tồn
và phát triển tài nguyên với hoạt động sản xuất để cải thiện chất lượng cuộc
sống người dân, thống nhất lợi ích của người dân với lợi ích quốc gia trong
hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng[16].
Theo Nick Salafky và các cộng sự (trong Biodiversity Support Program
Washington, DC, USA, 2000)[3], cho rằng vào những năm 90 của thế kỷ
trước, các nhà bảo tồn bắt đầu phát triển một cách tiếp cận mới nhằm đáp ứng
nhu cầu lợi ích kinh tế và bảo tồn. Những cách tiếp cận này dựa vào việc thực
hiện các hoạt động sinh kế độc lập và có mối quan hệ trực tiếp với bảo tồn.
Đặc điểm cơ bản của chiến lược này là mối liên hệ giữa ĐDSH và con người
xung quanh. Cũng trong chiến lược này, các nhà bảo tồn có thể giúp người
dân địa phương khai thác sử dụng LSNG hoặc phát triển du lịch sinh thái[16].
Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (WWF) 2001 đã đưa
ra một thông điệp chung rất đơn giản: “Hoạt động bảo tồn phải đề cập đến
vấn đề xóa đói giảm nghèo như là một phần quan trọng của chính sách bảo
tồn tài nguyên rừng.”[16].
1.2. Ở trong nước
Trải qua hơn bốn thập kỷ hình thành và phát triển, đến nay hệ thống
KBTTN của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 Vườn Quốc
gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu bảo vệ Cảnh quan, 20 khu nghiên cứu
thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái,
cao hiệu quả của các KBTTN và VQG theo quan điểm bảo tồn – phát triển.
Đó là làm sao dung hòa mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và
phát triển kinh tế - xã hội của người dân địa phương.
Theo Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên
(1997)[9], đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa
phương vào rừng.
7
Đánh giá hiệu quả của công tác bảo vệ các KBT ở Việt Nam, Nguyễn
Bá Thụ (1997) đã nhận định: Công tác này phụ thuộc rất nhiều vào việc giải
quyết những vấn đề tồn tại trên vùng đệm bao gồm nâng cao đời sống của
nhân dân vùng đệm, chuyển đổi hoặc thay thế tập quán dùng củi, gỗ bừa bãi
lãng phí của người dân sống trong vùng đệm; nâng cao trình độ kỹ thuật canh
tác nông lâm nghiệp, đẩy mạnh thâm canh, nâng cao năng suất cây trồng,
nhanh chóng từ bỏ lối canh tác du canh, quảng canh, nâng cao trình độ hiểu
biết về bảo tồn, sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên cho người dân địa
phương[16].
D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản(1999)[8], đã thực hiện một nghiên
cứu về quản lý vùng đệm tại 3 VQG : Ba Vì, Bạch Mã và Cát Tiên. Kết quả
nghiên cứu đã phản ánh khá rõ nét thực trạng vùng đệm ở Việt Nam.
Về quan hệ đồng tác trên cơ sở cộng đồng trong vùng đệm các
KBTTN, Lê Quý An (2001)[1], đã khẳng định quản lý và phát triển vùng đệm
trên cơ sở cộng đồng là phát huy lợi thế của cộng đồng, hạn chế tác động tiêu
cực trong các hoạt động bảo tồn. Cộng đồng còn có thể phát huy những mặt
hay của phong tục, tập quán trong mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng
đồng, trong mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên để xây dựng nề nếp
của cuộc sống lành mạnh về mặt môi trường, góp sức cho việu bảo tồn.
Năm 2001, Đỗ Anh Tuân thực hiện một nghiên cứu điểm tại KBTTN
Pù Mát cho đề tài ảnh hưởng của bảo tồn tới sinh kế của các cộng đồng địa
hình thức sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hóa cho tỷ trọng thu nhập cao
nhất tổng cơ cấu thu nhập của cộng đồng(36,4%). Tuy nhiên, đề tài chưa đánh
giá được mức độ tác động tới tài nguyên rừng của các dân tộc, các nhóm hộ
khác nhau.
Hoàng Quốc Xạ (2005)[25], đã có sự kết hợp tốt giữa phân tích định
tính và định lượng trong việc xác định các hình thức tác động và nguyên nhân
tác động khi nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương đến TNR tại
vùng đệm VQG Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ. Các giải pháp được tác giả đưa ra
tuy bao hàm nhiều lĩnh vực song chưa dựa trên các yếu tố đã phân tích cụ thể
tại khu vực nghiên cứu và chưa thể hiện tính khả thi của các giải pháp đưa ra.
9
Ngô Ngọc Tuyên (2007)[22], đã lượng hoá tốt và thể hiện sinh động
ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến tổng thu nhập của hộ gia đình cũng
như mối quan hệ giữa tổng thu nhập với các nhân tố trong khai thác TNR
thông qua việc thực hiện nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến
TNR tại KBTTN Na Nang, Tuyên Quang. Tác giả đã lựa chọn 4 dân tộc
chính trong mỗi khu vực, mỗi dân tộc 30 HGĐ để phỏng vấn, nhưng chưa chỉ
ra cho người đọc cách thức và nguyên tắc chọn mẫu. Kết quả nghiên cứu chỉ
ra rằng, để giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày người dân đã tác động tới
TNR dưới nhiều hình thức song “sử dụng tài nguyên rừng” là hình thức tác
động bất lợi nhất, các dân tộc khác nhau thì mức độ tác động cũng khác nhau.
Nghiên cứu đã sử dụng hàm Cobb-Douglas để phân tích ảnh hưởng của các
yếu tố đến thu nhập của HGĐ, tuy nhiên phân tích mới dừng lại ở 3 yếu tố
nguồn lực mà chưa phân tích đến các yếu tố hiệu quả[22].
Khuất Thị Lan Anh (2009)[2], khi “Nghiên cứu tác động của cộng
đồng địa phương đến tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ,
tỉnh Bắc Kạn” đã nghiên cứu các yếu tố kinh tế và xã hội chi phối các hình
thức và mức độ tác động bất lợi của người dân địa phương tới TNR. Đề tài đã
VQG nào.
Đỗ Thị Hường (2010)[7], khi nghiên cứu tác động của người dân địa
phương đến tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, huyện
Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình” đã đánh giá được tình hình hiện trạng công tác quản
lý bảo vệ TNR, phân tích kinh tế HGĐ, nghiên cứu các hình thức và mức độ
tác động của người dân đến TNR và tổng thu nhập của các HGĐ ở khu vực
nghiên cứu. Tác giả đã phân tích sự phụ thuộc, các nguyên nhân dẫn đến sự
tác động bất lợi của người dân đến TNR. Đề tài đã đề xuất được một số giải
pháp tác động tích cực và hạn chế tác tác động bất lợi của cộng đồng người
dân tới TNR của KBT, các giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn có thể
làm tài liệu tham khảo tốt. Tuy nhiên đề tài chưa làm rõ các yếu tố đầu vào
nào của sản xuất, yếu tố nào đưa vào tính toán, đưa yếu tố “loại kinh tế hộ”
làm yếu tố đầu vào là không chính xác, xác định nhu cầu thị trường bằng
11
phương pháp nào, nhu cầu thị trường là những gì mà ở đây mới nghiên cứu
được kênh tiêu thụ.
1.3. Những kết luận rút ra phục vụ cho nghiên cứu
Như vậy, mối quan hệ giữa cộng đồng người dân với công tác bảo tồn
ở các khu rừng đặc dụng đã và đang được nghiên cứu dưới nhiều góc nhìn
khác nhau. Một số nghiên cứu đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn khá đầy
đủ cũng như đã lượng hoá được hình thức và mức độ tác động của cộng đồng
người dân tới tài nguyên rừng của một số khu rừng đặc dụng. Các nghiên cứu
khác lại tập trung vào phân tích mức độ phụ thuộc của người dân vào TNR.
Tuy nhiên, cách tiếp cận của các đề tài nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở khía
cạnh phân tích tác động bất lợi mà chưa đề cập đến tác động tích cực từ phía
người dân trong công tác bảo tồn. Ngoài ra các nghiên cứu chỉ đưa ra các
phương pháp chung, mang tính chất định hướng, chưa giải quyết được các
của người dân địa phương tới TNR.
* Đề xuất các giải pháp phát huy tác động tích cực và giảm thiểu tác
động bất lợi của cộng đồng người dân tới TNR tại KBTTN Bắc Hướng Hóa.
2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những tác động tích cực và bất
lợi của của cộng đồng người dân sống trong phân khu phục hồi sinh thái và
vùng đệm tại KBTTN Bắc Hướng Hóa, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
2.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu các tác động tích cực và bất
lợi của cộng đồng người dân vào TNR tại KBTTN Bắc Hướng Hóa tạo nền
tảng cho việc đề xuất các biện pháp quản lý, bảo vệ và sử dụng TNR tại khu
vực nghiên cứu.
- Luận văn chỉ giới hạn ở việc xác định những tác động, nguyên nhân,
mức độ tác động của cộng đồng sống trong vùng lõi và vùng đệm của KBT.
- Luận văn chỉ đề cập đến 3 loại kinh tế hộ gia đình của cộng đồng là
khá, trung bình và nghèo theo sự phân loại của địa phương.
13
2.4. Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Hình thức và mức độ tác động của người dân vào TNR tại
KBTTN Bắc Hướng Hóa.
- Các hình thức tác động: khai thác gỗ, khai thác song mây, khai thác
các lâm sản ngoài gỗ khác, săn bắt động vật hoang dã, chăn thả gia súc, khai
thác củi...
- Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tới thu nhập từ TNR và thu nhập
của các HGĐ.
+ Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tới thu nhập từ TNR
+ Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tới tổng thu nhập của HGD
Theo tác giả Trần Ngọc Thể (2009)[17]: Sự tác động của người dân địa
phương đến TNR là hoạt động hệ thống kinh tế- xã hội và tác động tới hệ
thống tự nhiên.
* Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong
hệ thống kinh tế có nghĩa là các yếu tố trong hệ thống kinh tế như nguồn thu
nhập, chi phí, mức sống, nhu cầu thị trường, các nguồn sinh kế, lợi nhuận...có
ảnh hưởng tới các hình thức và mức độ tác động của người dân tới TNR.
Ngược lại các tác động của người dân tới TNR và mức độ tác động cũng chi
phối đến hiệu quả kinh tế của các HGĐ như: tác động trực tiếp hoặc gián tiếp,
mức độ tác động lớn hay nhỏ...
Do tác động của người dân có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố kinh tế
nên có thể tác động vào các yếu tố kinh tế nhằm phát huy tác động tích cực và
giảm thiểu tác động bất lợi của người dân tới TNR trong KBT. Đây là một
trong những cơ sở lý luận quan trọng để đề xuất các giải phứp kinh tế trong
luận văn.
* Các tác động của người dân tới TNR là hoạt động mang tính xã hội.
Điều này được thể hiện ở chỗ: Con người là trung tâm của các tác động tích
cực hoặc bất lợi tới TNR. Vì vậy, các tác động chịu sự chi phối của các yếu tố
xã hội như: nhận thức của người dân về vai trò của rừng, hiểu biết về chính
sách, thể chế, luật pháp của Nhà nước, phong tục tập quán, tín ngưỡng...Ngoài
15
ra các chính sách của KBT, các quy định riêng của cộng đồng cũng ảnh
hưởng không nhỏ tới tác động của người dân địa phương vào TNR.
Ngược lại các tác động của người dân tới TNR cũng thể hiện các yếu
tôe xã hội trong một cộng đồng như: vấn đề công bằng, bình đẵng, tổ chức và
thể chế của cộng đồng được thực thi, phát triển bền vững...
* TNR là một hệ thống tự nhiên ở đó các phần tử trong hệ thống có mối
Ảnh Hưởng
Các nhân tố thích hợp
Đạo
đức
Phát triển
KT-XH
địa
phương
và bảo
tồn TNR
Các yếu tố văn hóa
Bậc
thể
chế
Tác động
bất lợi
của
người
dân địa
phương
đến TNR
Bậc kinh tế
cực và bất lợi của người dân địa phương vào TNR đều có cơ sở sinh thái và
chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế- xã hội.
Cơ sở sinh thái được giải thích bằng các yếu tố vật lý, sinh học và
được chia làm 2 loại: Những yếu tố không thể kiểm soát được như khí hậu,
thủy văn, địa hình...và những yếu tố có thể kiểm soát được hoặc hạn chế được
như xói mòn, lũ lụt, sâu bệnh, lửa rừng, hạn hán...Những yếu tố kiểm soát
hoặc hạn chế được cần được nghiên cứu bằng các giải pháp công nghệ.
Các yếu tố kinh tế như sinh kế, mức sống của người dân địa phương,
nhu cầu thị trường..., những nhân tố này rất có ý nghĩa đối với sự tác động của
người dân địa phương tới TNR.
Bậc thể chế được giải thích là các yếu tố về thể chế, chính sách, tổ
chức cộng đồng... ảnh hưởng giản tiếp tới những tác động của người dân địa
phương tới TNR.
Bậc đạo đức được hiểu là tập quán, sự nhận thức hay ở mức cao hơn
nữa là văn hóa của cộng đồng. Mọi tác động của các yếu tố khác đều có thể
làm thay đổi thái độ và nhận thức của cộng đồng.
Theo tháp sinh thái- nhân văn thì bất kỳ một giải pháp nào nằhm phát
huy các tác động tích cực và giảm thiểu các tác động bất lợi tới TNR, bảo tồn
và phát triển bền vững TNR đều phải dựa tên cơ sở sinh thái và đảm bảo được
các yếu tố kinh tế- xã hội của cộng đồng người dân địa phương.
2.5.1.3. Quan điểm bảo tồn - phát triển:
Theo quan niệm trước đây, các KBTTN thường được xem như một khu
vực tách biệt với thế giới loài người. Quan niệm này dẫn đến những sai lầm
trong việc quản lý các KBTTN. Kết quả là thiên nhiên vẫn liên tục bị con
người tác động theo hướng tiêu cực: Tàn phá mà nguyên nhân là do những áp
18
lực xã hội và sinh thái trong và ngoài KBT[15]. Theo chương trình Con người
và Sinh quyển (Man and Biosphere Program; viết tắt là: MAB thuộc
dụng và khai thác tài nguyên một cách hợp lý và bền vững (Cách tiếp cận
tham gia quy hoạch).
Trong 3 cách tiếp cận trên, không thể nói cách tiếp cận nào có hiệu quả
hơn mà tùy thuộc vào điều kiện địa phương nhất định chúng ta nên vận dụng
cách tiếp cận nào cho phù hợp. Trong khuôn khổ đề tài, tác giả đã vận dụng
cả 3 cách tiếp cận này đối với cộng đồng người dân ở trong và ngoài KBT
nhằm đề xuất các giải pháp phát huy các tác động tích cực và giảm thiểu các
tác động bất lợi của người dân tới TNR.
- Tiếp cận có sự tham gia: Theo ngân hàng thế giới, sự tham gia được
định nghĩa như là một quá trình thông qua đó các chủ thể hay các bên liên
quan cùng tác động và chia sẽ những sáng kiến phát triển và cùng quyết
định[12]. FAO (1982) định nghĩa:”Sự tham gia của nhân dân như quá trình
mà qua đó người nghèo nông thôn có khả năng tự tổ chức, có khả năng nhận
biết các nhu cầu của chính mình và tham gia trong thiết kế, thực hiện và đánh
giá các phương án tại địa phương”. Năm 1996, Hosley đưa ra 7 mức độ của
sự tham gia từ thấp đến cao, đó là: Tham gia có tính chất vận động, tham gia
bị động, tham gia qua hình thức tư vấn, tham gia vì mục tiêu được hưởng các
hỗ trợ vật tư từ bên ngoài, tham gia theo chức năng, tham gia hỗ trợ, tự huy
động và tổ chức[12].
Trong đề tài này, phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân
được áp dụng trong quá trình thu thập số liệu tại địa điểm nghiên cứu. Người
dân tham gia ở mức độ tư vấn, cung cấp thông tin. Điều này được thể hiện ở
các phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong đề tài: Phương pháp đánh
giá nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sưh tham
gia (PRA). Các phương pháp này giúp thu thập được các thông tin và phân
tích của chính người dân địa phương về vấn đề nghiên cứu.
\2.5.2. Phương pháp điều tra thu thập tài liệu
2.5.2.1. Lựa chọn địa điểm nghiên cứu
20
37
2
1-4km
644
3
4-7km
284
Thứ ba: Về dung lượng mẫu điều tra được tính toán theo công thức
N. t2..S2
sau:
n=
N.d2 + t2..S2
Trong đó: n: Dung lượng mẫu cần chọn
N: Số hộ của xã điều tra
21
t: Là hệ số ứng với mức tin cậy của kết quả
d: Sai số mẫu(cho trước d= 5% - 10%)
S2: Phương sai của tổng thể(cho trước S2=0,25)
Mới
Hồ
Pin
Hướng Sơn
Nguồn Rào
Cát
Ra Ly
Tổng số
Trăng
Tà Puồng
Chai
Hướng Việt
Xà Đưng
Tà Rùng
Tổng số
Cóc
Hoong
Hướng Linh Xà Bai
Mới
Tổng số
Chênh Vênh
Hướng Phùng
Tổng số
Tổng cộng
Số
Khoảng cách
HGĐ
đến KBT
19
66
4-7km
42
4-7km
295
33
1-4km
17
1-4km
42
1-4km
51
1-4km
63
4-7km
206
47
1-4km
53
1-4km
36
1-4km
27
1-4km
163
43
1-4km
43
965
3
2
2
10
3
3
96
Kết quả tính toán số HGĐ cần lựa chọn phỏng vấn theo khoảng cách
đến KBT được xác định như sau:
Khoảng cách
18
13
16
37
2.5.2.2. Nghiên cứu tài liệu thứ cấp
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của các thôn/xã nằm
trong phân khu phục hồi sinh thái và vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc
Hướng Hóa.
- Các hệ thống chính sách liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học và
quản lý rừng đặc dụng.
- Các tài liệu nghiên cứu về Khu bảo tồn, các tài liệu khác liên quan đến
Khu bảo tồn và địa phương.
23