nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại vqg vũ quang, tỉnh hà tĩnh - Pdf 13

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được
sự giúp đỡ của nhiều tập thể và cá nhân.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo Trường
Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo TS. Lê Sỹ Việt đã tận
tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn chỉnh khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên Ban quản lý
Vườn Quốc gia Vũ Quang, các hộ gia đình cá nhân tại địa bàn nghiên cứu đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu, phỏng vấn điều tra
và đóng góp ý kiến xây dựng phục vụ công tác nghiên cứu.
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do điều kiện và trình độ có hạn nên khóa
luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi kính mong nhận được những ý
kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo để khóa luận được hoàn thiện
hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 04/06/2012
Sinh viên

Phạm Văn Ngọc
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VQG Vườn quốc gia
KBT Khu bảo tồn
KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
DDSH Đa dạng sinh học
TNR Tài nguyên rừng
KT - XH Kinh tế - xã hội
PHST Phục hồi sinh thái
HGĐ Hộ gia đình
LSNG Lâm sản ngoài gỗ

2.1 Tháp sinh thái nhân văn trong nhiên cứu sự tác động của người
dân địa phương tới TNR
15
3.1 Bản đồ quy hoạch phân khu VQG Vũ Quang – Hà Tĩnh 20
3.2 Cơ cấu đất đai của xã Hương Minh 27
4.1 Tình hình vi phạm công tác QLBVR tại VQG Vũ Quang 30
4.2 Cơ cấu đất đai trung bình của các HGĐ 39
4.3 Cơ cấu thu thập của HGĐ theo nhóm hộ 41
4.4 Cơ cấu chi phí của các nhóm HGĐ 43
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trải qua hơn bốn thập kỷ hình thành và phát triển đến nay hệ thống Khu
bảo tồn thiên nhiên của nước ta gồm 164 khu rừng đặc dụng (gồm 30VQG,
69 khu dự trữ sinh quyển, 45 khu cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm
khoa học) và 3 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc
trưng có giá trị sinh học tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và
trên biển đã và đang được xây dựng trên khắp các vùng miền của nước ta.
Đa số các VQG đều có dân sinh sống xung quanh hoặc bên trong ranh
giới. Trên thế giới việc thành lập và bảo vệ các VQG phụ thuộc vào sự hợp
tác giữa người dân địa phương và các ban quản lý VQG. Các VQG sẽ không
đạt được kết quả mong muốn nếu những mối quan tâm của người dân địa
phương không được đáp ứng một cách phù hợp, người dân địa phương là
những người hiểu rõ về những vấn đề quan trọng và sự sống còn đối với các
VQG. Chính vì vậy, phải coi người dân địa phương là những nhóm đặc biệt
khi thành lập và quản lý VQG. Các VQG không thể tách rời khỏi các nhu cầu
phát triển kinh tế, xã hội và tinh thần của người dân địa phương.
Hiện nay tình trạng đói nghèo của người dân sống trong và xung quanh các
VQG là một thực tế của vùng núi xa xôi hẻo lánh, thường có diện tích đất
canh tác hạn hẹp và ít có cơ hội tiếp cận thị trường. Nhiều VQG của nước ta
là nơi sinh sống của các dân tộc ít người chiếm khoảng 14% dân số cả nước
và tình trạng đói nghèo của họ cũng chủ yếu do những nguyên nhân như:

1.1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm
thay đổi chiến lược bảo tồn từ đầu thập kỷ 80. Một chiến lược bảo tồn mới
dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý
KBTTN và VQG với các hạt động sinh kế của người dân địa phương, cần
thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn
hóa trong quá trình xây dựng các quyết định.
Ý tưởng về một khu rừng nhất định cần được bảo vệ khỏi tác động khai thác
sử dụng thường nhật của con người đã có ít nhất từ 3000 năm trước đây vào
thời vua Ai Cập Ikhnaton hoặc thậm chí sớm hơn.
Nguồn gốc của KBTTN “hiện đại” có từ thế kỷ 19. VQG Yellowstone là
VQG đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872. VQG này nằm
trên vùng đất do người Crow và người Shosshone sinh sống trên cơ sở sử
dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời khỏi mảnh đất của
họ. Nhiều KBTTN và VQG được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên
thế giới cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này. Dựa trên mô
hình Hoa Kỳ, phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm
việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác TNR
[10]. Tại các nước Đông Nam Á phương thức này tỏ ra không thích hợp vì để
duy trì sự ĐDSH thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn
TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn.
Ở Nepal, đã có một số mô hình thành công về chương trình bảo tồn ĐDSH
theo hướng toàn cầu. Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của cuộc xung đột vũ trang
trong gần một thập kỷ đã tác động xấu đến các hoạt động bảo tồn và động vật
hoang dã. Chính vì vậy, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của những
hoạt động này đến bảo tồn ĐDSH tại VQG Bardia và vùng đệm phía tây
Nepal đã được thực hiện. Nghiên cứu đã khẳng định 73% người dân địa
3
phương sống trong khu vực phụ thuộc vào nông nghiệp, nguồn chất đốt và
thức ăn [25].

đây đã nhấn mạnh các quyền sở hữu và kiểm soát rừng của nhà nước mà
không chú ý tới ảnh hưởng giữa con người và các nguồn tài nguyên, đã dẫn
tới những thất bại vì tỷ lệ phá rừng hàng năm vẫn ở mức cao tới 2,6%. Bink
Man W (1988) trong nghiên cứu của mình thực hiện tại làng Ban Pong, tỉnh
S.Risaket, Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng
để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như củi đun và hoa quả
trong rừng [17].
Ở Philippines, chiến lược quốc gia về bảo tồn ĐDSH nêu rõ rằng: “Điều
chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn ĐDSH là phải bảo đảm rằng các cộng
đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định
về chính sách liên quan đến môi trường sẽ tham gia vào quá trình lập kế
hoạch và quản lý đối với bảo tồn ĐDSH” (Denr và TCSD, 1994) [19].
Ở Indonesia, kế hoạch hành động ĐDSH ghi nhận rằng: “Việc tăng cường
sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong và phụ
thuộc vào các vùng có tính đa dạng sinh học cao, là mục tiêu chính của kế
hoạch hành động và là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch
(Bappenas, 1993 - dẫn theo Lê Sỹ Trung, 2005) [19].
Về chính sách lâm nghiệp, Sheppherd G cho rằng đối với cộng đồng dân cư
sống trong và gần các KBTTN, một giải pháp đề nghị là cho phép người dân
địa phương củng cố quyền lợi của họ theo cách hiểu của các hệ thống quản lý
nông nghiệp hiện đại, bằng cách trồng cây, cho và nhận đất, nhà nước cần xác
định rõ các quyền lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ nhận với mục
đích tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập và giảm tác động đến tài
nguyên rừng [16].
Dilmour D.A. [8], lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẩn đến tính kém hiệu
quả của các chương trình, dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên là chưa giải
quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa lợi ích
5
cộng đồng địa phương với lợi ích quốc gia. Do đó chưa phát huy được năng
lực nội sinh của các cộng đồng cho quản lý tài nguyên. Vì vậy, quản lý tài

+ Khu bảo tồn thiên nhiên gồm: Khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài,
sinh cảnh
+ Khu bảo vệ cảnh quan gồm: Khu rừng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam
thắng cảnh
+ Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học
Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ban hành ngày 11/01/2001 [4], đã đề cập
đến việc ban quản lý các khu bảo vệ được xây dựng các quy định về phạm vi
sử dụng rừng đối với người dân địa phương sinh sống trong các KBT. Gần
đây nhất, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày
14/08/2006 về việc ban hành Quy chế quản lý rừng [18], thay thế quyết định
số 08/2001/QĐ-TTg. Theo điều 14 chương II của quy chế quản lý rừng Nghị
định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/09/2003 về bảo tồn và phát triển bền vững
các vùng đất ngập nước.
Quyết định số 62/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 quy định tiêu chí phân
loại rừng đặc dụng.
Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 về tổ chức và quản lý hệ
thống rừng đặc dụng.
Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2020.
Trong nhiều năm qua, đã có nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao
hiệu quả của các KBTTN và VQG theo quan điểm bảo tồn - phát triển. Đó là
làm sao dung hòa mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát
triển kinh tế - xã hội của người dân địa phương.
Theo Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên [9], đã
đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương vào rừng.
Đánh giá hiệu quả của công tác bảo vệ các KBT ở Việt Nam, Nguyễn Bá
Thụ đã nhận định: Công tác này phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết
7
những vấn đề tồn tại trên vùng đệm bao gồm nâng cao đời sống của nhân dân
vùng đệm, chuyển đổi hoặc thay thế tập quán dùng củi, gỗ bừa bãi lãng phí
của người dân sống trong vùng đệm; nâng cao trình độ kỹ thuật canh tác nông

dụng đất lâm nghiệp tại khu phục hồi sinh thái (PHST). Các tác giả cho rằng
hệ thống chính sách hiện nay là đầy đủ để có thể thu hút cộng đồng địa
phương vào quản lý, sử dụng các khu rừng đặc dụng, không thể loại trừ cộng
đồng ra khỏi quyền hưởng lợi từ VQG và đề xuất mô hình quản lý đất đai
trong khu PHST của VQG Ba Vì.
Nguyễn Thị Phương [13], khi “nghiên cứu tác động của cộng đồng địa
phương vùng đệm đến tài nguyên rừng Ba Vì - Hà Tây” đã vận dụng phần
mềm SPSS trong việc tổng hợp và sử lý số liệu về hình thức tác động của các
nguyên nhân tác động và chỉ ra rằng: Cộng đồng ở đây sống chủ yếu bằng
nghề nông nhưng diện tích đất nông nghiệp rất ít và năng suất lúa thấp. Vì
vậy, để giải quyết nhu cầu của cuộc sống hàng ngày họ tác động tới tài
nguyên rừng dưới nhiều hình thức như: Sử dụng đất rừng để sản xuất hàng
hóa, khai thác sản phẩm với mục đích tiêu dùng, chăn thả gia súc trong đó
hình thức sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hóa cho tỷ trọng thu nhập cao
nhất tổng cơ cấu thu nhập của cộng đồng (36,4%). Tuy nhiên, đề tài chưa
đánh giá được mức độ tác động tới tài nguyên rừng của các dân tộc, các nhóm
hộ khác nhau.
Hoàng Quốc Xạ [24], đã có sự kết hợp tốt giữa phân tích định tính và định
lượng trong việc xác định các hình thức tác động và nguyên nhân tác động khi
nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương đến TNR tại vùng đệm VQG
Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Các giải pháp được tác giả đưa ra tuy bao hàm nhiều
lĩnh vực song chưa dựa trên các yếu tố đã phân tích cụ thể tại khu vực nghiên
cứu và chưa thể hiện tính khả thi của các giải pháp đưa ra.
Ngô Ngọc Tuyên [22], đã lượng hoá tốt và thể hiện sinh động ảnh hưởng
của các yếu tố sản xuất đến tổng thu nhập của hộ gia đình cũng như mối quan
hệ giữa tổng thu nhập với các nhân tố trong khai thác TNR thông qua việc
9
thực hiện nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến TNR tại
KBTTN Na Nang, Tuyên Quang. Tác giả đã lựa chọn 4 dân tộc chính trong
mỗi khu vực, mỗi dân tộc 30 HGĐ để phỏng vấn, nhưng chưa chỉ ra cho

hình. Kết quả cho thấy đã tồn tại mối quan hệ rất chặt giữa tổng thu nhập từ
rừng với 4 yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất và 6 yếu tố hiệu quả với hệ
số xác định R
2
= 0.93 (F= 14.601, Sig.F=0.000) và 93% biến động của thu
nhập được giải thích bởi các yếu tố này. Đây là 1 nghiên cứu mẫu có ý nghĩa
tham khảo rất tốt. Tuy nhiên đề tài chỉ tập trung phân tích các tác động bất lợi
của người dân địa phương tới TNR mà chưa quan tâm tới các tác động tích
cực của người dân, trong khi đó sự tham gia của cộng đồng theo hướng tích
cực là phần không thể thiếu đối với công tác bảo tồn đối với bất kỳ VQG nào.
Đỗ Thị Hường [7], khi nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến
tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, huyện Kim Bôi,
tỉnh Hoà Bình” đã đánh giá được tình hình hiện trạng công tác quản lý bảo vệ
TNR, phân tích kinh tế HGĐ, nghiên cứu các hình thức và mức độ tác động
của người dân đến TNR và tổng thu nhập của các HGĐ ở khu vực nghiên
cứu. Tác giả đã phân tích sự phụ thuộc, các nguyên nhân dẫn đến sự tác động
bất lợi của người dân đến TNR. Đề tài đã đề xuất được một số giải pháp tác
động tích cực và hạn chế tác tác động bất lợi của cộng đồng người dân tới
TNR của KBT, các giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn có thể làm tài
liệu tham khảo tốt. Tuy nhiên đề tài chưa làm rõ các yếu tố đầu vào nào của
sản xuất, yếu tố nào đưa vào tính toán, đưa yếu tố “loại kinh tế hộ” làm yếu tố
đầu vào là không chính xác, xác định nhu cầu thị trường bằng phương pháp
nào, nhu cầu thị trường là những gì mà ở đây mới nghiên cứu được kênh tiêu
thụ.
1.3. Những kết luận rút ra phục vụ cho nghiên cứu
Như vậy, mối quan hệ giữa cộng đồng người dân với công tác bảo tồn ở các
khu rừng đặc dụng đã và đang được nghiên cứu dưới nhiều góc nhìn khác
nhau. Một số nghiên cứu đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn khá đầy đủ
11
cũng như đã lượng hoá được hình thức và mức độ tác động của cộng đồng

TNR tại VQG Vũ Quang.
- Xác định được các nguyên nhân chính dẫn đến những tác động bất lợi
tới TNR.
- Đề xuất các giải pháp góp phần giảm thiểu tác động bất lợi và thu hút
người dân tham gia vào quản lý, bảo vệ, phát triển bền vững TNR tại VQG
Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Là các tác động bất lợi làm giảm nguồn tài nguyên rừng tại VQG Vũ Quang.
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Do hạn chế về thời gian nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tại 1 xã đại
diện thuộc VQG Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Trong đó đề cập đến mức độ kinh
tế gia đình.
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những tác động bất lợi của người dân địa
phương tại VQG Vũ Quang vào TNR.
- Đề tài chỉ giới hạn ở việc xác định những tác động, nguyên nhân, mức độ
tác động của cộng đồng sống trong ranh giới của VQG. Những cộng đồng
sống ngoài ranh giới của VQG không thuộc phạm vi nghiên cứu.
13
- Đề tài chỉ đề cập tới loại hình kinh tế chính của địa phương (thoát nghèo,
cận nghèo, nghèo) việc xác định loại hình kinh tế không thuộc phạm vi
nghiên cứu.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng công tác bảo vệ tài nguyên rừng tại VQG Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
- Phân tích và đánh giá các tác động bất lợi của các hộ gia đình đến TNR tại
VQG.
- Phân tích các nguyên nhân dẫn đến những tác động bất lợi của người dân
địa phương đến TNR tại VQG.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế các tác động bất lợi và thu hút người dân
tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển TNR tại VQG Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.

địa phương.
Hình 2.1. Tháp sinh thái nhân văn trong nghiên cứu sự tác động
của người dân địa phương tới tài nguyên rừng
Ảnh Hưởng Các nhân tố thích hợp
Tác
động
bất lợi
của
người
dân địa
phương
đến
TNR
Phát
triển
KT-XH
địa
phương
và bảo
tồn
TNR
Các yếu tố văn hóa
Các yếu tố thể
chế chính sách
Các yếu tố
kinh tế
Các yếu tố
sinh
thái,công
nghệ

a, Thu thập các tài liệu thứ cấp liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Các văn bản, chính sách pháp luật của nhà nước liên quan đến vấn đề
nghiên cứu.
- Các báo cáo của tỉnh, huyện, xã, các ban quản lý VQG về công tác quản
lý, phát triển rừng tại VQG.
- Các tài liệu liên quan đến địa điểm nghiên cứu được thu thập tại địa
phương như: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
b, Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu
Chọn địa điểm nghiên cứu là công việc được tiến hành trước khi điều tra thu
thập số liệu. Nguyên tắc của chọn địa điểm nghiên cứu là đại diện tương đối
16
cho khu vực nghiên cứu. Vì vậy, các tài liệu thứ cấp liên quan đến khu vực
được nghiên cứu nhằm tìm hiểu chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã
hội khu vực và một đợt khảo sát nhanh được tiến hành tại các điểm thuộc khu
vực nghiên cứu nhằm tìm hiểu những đặc trưng về địa hình và điều kiện kinh
tế - xã hội của từng địa điểm nghiên cứu.
- Về nguyên tắc
Xã được chọn đa dạng về thành phần dân tộc (chủ yếu là Kinh và Lào
Thừng)
Xã được chọn là xã có địa giới hành chính thuộc VQG (có trạng thái rừng
đặc trưng của khu vực nghiên cứu)
Xã được lựa chọn có điều kiện dân sinh kinh tế xã hội, đạt mức trung bình
đại diện cho tình hình dân sinh kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu.
Thôn, xóm được chọn phải đảm bảo có đủ 3 loại hình kinh tế: Hộ thoát
nghèo, hộ cận nghèo, hộ nghèo.
- Lựa chọn xã nghiên cứu.
Tại khu vực của VQG Vũ Quang có 2 xã Hương Quang và Hương Điền có
2 thành phần dân tộc sinh sống (Kinh và Lào Thừng) trong vùng lõi của
VQG, đây là 2 xã đại diện tốt nhất về tác động vào TNR. Nhưng sở dĩ không
chọn 2 xã này vì 2 xã này đã giải tỏa di dời dân ra khỏi vùng lõi của VQG để

+ t
2.
.S
2
Trong đó: n: Dung lượng mẫu cần chọn
N: Số hộ của xã điều tra
t: Hệ số ứng với mức tin cậy của kết quả
d: Sai số mẫu (cho trước d = 5% - 10%)
S
2
: Phương sai của tổng thể (cho trước S
2
= 0,25)
Kết quả tính số HGĐ cần phỏng vấn tại thôn là:
1. Thôn Hợp Bình: n = 30,8 Làm tròn n = 30
2. Thôn Hợp Thắng: n = 32,6 Làm tròn n = 30
3. Thôn Hợp Lợi: n =30,1 Làm tròn n = 30
Vậy tổng số HGĐ cần phỏng vấn là: 90 HGĐ.
d, Thu thập thông tin và số liệu hiện trường
Khóa luận sử dụng bộ công cụ PRA để thu thập số liệu hiện trường
- Phỏng vấn cá nhân (cán bộ ban quản lý Khu bảo tồn, cán bộ kiểm lâm, cán
bộ xã, ban quản lý thôn, tổ bảo vệ rừng ) bằng câu hỏi mở. Phỏng vấn hộ gia
đình bằng phiếu câu hỏi đã được chuẩn bị.
18
- Thảo luận nhóm: Nội dung thảo luận dựa trên khung thảo luận chuẩn bị
sẵn với số lượng từ 7 người hoặc hơn đảm bảo đầy đủ thành phần kinh tế hộ
trong thôn.
- Phân tích tổ chức, thể chế: Xác định các tổ chức trong cộng đồng, vai trò
của các tổ chức đó, các thể chế cộng đồng và sự ảnh hưởng của chúng tới việc
quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng.

(Nguồn từ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 do tổng cục địa chính xuất
bản, thời gian lập bản đồ năm 2002). Vườn quốc gia Vũ Quang thuộc vùng
địa lý sinh vật Bắc Trường Sơn
Hình 3.1. Bản đồ quy hoạch phân khu Vườn quốc gia Vũ Quang – Hà Tĩnh
(Nguồn: Phòng KHKT – HTQT, VQG Vũ Quang năm 2012)
20
3.1.2. Đặc điểm địa hình
VQG Vũ Quang nằm trong một vùng núi thấp núi trung bình và một phần
núi cao, chênh cao địa hình từ 30-2286 m (đỉnh Rào Cỏ). Địa hình núi cao
vực sâu thung lũng hẹp, độ dốc lớn, độ chia cắt sâu và dày.
Địa hình đặc trưng bằng 3 kiểu sau:
- Kiểu địa hình núi diện tích 31.180ha chiếm 56,6% diện tích Vườn, phân
bố chạy dọc theo biên giới Việt Lào. Độ cao của địa hình núi từ 301-2000m
với nhiều đỉnh cao độ dốc 20-35
0
có nơi hơn 35
0
. Đây là kiểu đại hình đặc
trưng có ý nghĩa quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học.
- Kiểu địa hình đồi đai cao < 300m có diện tích 23.681ha chiếm 43% tổng
diện tích VQG độ dốc nhỏ hơn so với kiểu địa hình núi là từ 15-30
0
phân bố
chủ yếu ở phân khu phục hồi sinh thái, chủ yếu các khu vực tiếp giáp vùng
đệm. Thực vật ở kiểu địa hình này chứa nhiều tác động của con người, đặc
biệt từ năm 1986 trở về trước là khu vực dành riêng cho khai thác lâm sản.
Kiểu địa hình đồi có ý nghĩa trong việc phục hồi hệ sinh thái bản địa góp phần
bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học cho Vườn Quốc gia.
- Kiểu địa hình đồng bằng dốc tụ và thung lũng có diện tích rất ít 197ha
chiếm 0,4% toàn Vườn, phân bố theo dạng đồng bằng ở Hương Quang và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status