LUẬN VĂN: Mối quan hệ giữa lượng giá trị của hàng hoá với năng suất lao động và cường độ lao động - Pdf 11



LUẬN VĂN:

Mối quan hệ giữa lượng giá trị
của hàng hoá với năng suất lao
động và cường độ lao động

quan điểm của các nhà kinh tế học đã đưa ra.

Nội dung

Đầu tiên sẽ đề cập đến vấn đề hàng hoá. Vậy, hàng hoá là gì? Hàng hoá là
sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và dùng để
trao đổi với nhau. Sản xuất hàng hoá ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử
phát triển của xã hội loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng "mông muội"
xoá bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng
cao hiệu quả kinh tế xã hội. Sản xuất hàng hoá chỉ ra đời khi có đủ 2 điều kiện:
Phân công lao động xã hội và sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những
người sản xuất. Hàng hoá đều có hai thuộc tính, đó là: giá trị sử dụng và giá trị
hàng hoá. Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào
đó của con người. Ví dụ: nước để sinh hoạt, cơm để ăn, xe để đi, máy móc,
nguyên vật liệu để sản xuất Vật phẩm nào cũng có một số công dụng nhất định.
Khoa học kỹ thuật càng phát triển người ta càng phát hiện thêm những công dụng
có giá trị sử dụng của sản phẩm. Giá trị sản xuất là phạm trù vĩnh viễn. Giá trị sử
dụng với tư cách là thuộc tính của hàng hoá, nó không phải giá trị sử dụng cho
bản thân người sản xuất hàng hoá, mà là giá trị sử dụng cho người khác, cho xã
hội thông qua trao đổi - mua bán. Giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi. Còn
giá trị hàng hoá, muốn hiểu được giá trị hàng hoá phải đi từ giá trị sử dụng này
trao đổi với giá trị sử dụng khác. Khi hai sản phẩm khác nhau có thể trao đổi được
với nhau thì giữa chúng phải có một cơ sở chung nào đó. Đó là chúng đều là sản
phẩm của lao động. Để sản xuất ra hàng hoá thì người sản xuất phải hao phí sức
lao động. Vậy giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh
trong hàng hoá. Vậy thì lao động hàng hoá là gì? lao động hàng hoá có tính hai
mặt, chính C. Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt này đó là: lao động

thước kẻ ít hơn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một cái áo Do
thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trị của hàng hoá
cũng là một đại lượng luôn thay đổi, không cố định. Sự thay đổi phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố, nhưng trong đó hai yếu tố năng suất lao động và mức độ phức tạp
hay giản đơn của lao động là hai nhân tố ảnh hưởng quyết định nhất đến sự thay
đổi của lượng giá trị hàng hoá.
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động nó được tính
bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời
gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Đo lượng lao động bằng thước
đo thời gian như: một giờ lao động, một ngày lao động, một tuần lao động, một
tháng lao động Thời gian cần thiết để sản xuất ra một loại sản phẩm phụ thuộc
rất nhiều vào sản phẩm đó. Thông thường loại hàng hoá càng có nhiều giá trị sử
dụng càng cần nhiều lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra đó. Năng suất lao
động xã hội càng tăng, thời gian sản xuất ra hàng hoá đó cần thiết càng giảm,
lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít và ngược lại, năng suất lao động xã
hội càng giảm, thì thời gian cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó càng tăng và
lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng nhiều. Bởi vì ta đã biết, chất của giá
trị là lao động. Sản phẩm nào không có lao động của người sản xuất chứa đựng
trong đó thì nó không có giá trị sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra
chúng càng nhiều thì giá trị càng cao. Khi con người trao đổi hàng hoá cho nhau
những người sản xuất ngầm so sánh lao động ẩn giấu trong hàng hoá với nhau.
Thực chất của việc trao đổi là người ta trao đổi lượng lao động hao phí của mình
chứa đựng trong các hàng hoá. Vì vậy, giá trị là biểu hiện quan hệ giữa những
người sản xuất hàng hoá. Giá trị là một thuộc tính xã hội của hàng hoá.
Lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá tỷ lệ thuận với số lượng lao động kết
tinh và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Trong thực tế, đối với người sản xuất
hàng hoá họ tạo ra giá trị sử dụng, nhưng mục đích của họ không phải là giá trị sử

thời gian lao động. Ngươc lại, khi cường độ lao động giảm thì lượng lao động hao
phí trong cùng một đơn vị thời gian giảm và lượng sản phẩm được tao ra giảm
tương ứng còn lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm cũng không đổi. Giảm thời
gian lao động cũng giống giảm cường độ lao động. Trong xã hội nào cũng vậy,
cũng có những người lao động với cường độ lao động rất nhanh và cũng có những
người lao động lao động với cường độ lao động rất chậm. Xong cũng có những
hàng hoá cần phải lao động với cường độ khá chậm và tỉ mỉ thì mới đảm bảo được
lượng giá trị của hàng hoá đó. Ví dụ như: cường độ sản xuất của những máy móc
hiện đại, máy bay, các thiết bị điện tử. Cũng có những hàng hoá mà với cường độ
lao động rất nhanh nhưng vẫn bảo đảm được lượng giá trị cần thiết của hàng hoá.
Như vậy, với mỗi loại hàng hoá khác nhau thì cái cường độ lao động để cho ra đời
sản phẩm đó cũng khác nhau. Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới cường độ lao
động của mỗi lao động: trình độ khéo bó của người lao động, sự phát triển của
khoa học kỹ thuật và trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật, sự kết hợp xã hội của
người sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất, cái điều kiện tự nhiên. Ví dụ như
cường độ lao động để xây dựng một ngôi nhà vào những ngày không mưa rõ ràng
sẽ nhanh hơn cường độ xây dựng ngôi nhà vào những ngày mưa gió. Tuỳ thuộc
những lao động khác nhau mà cường độ lao động sẽ khác nhau.
Lượng giá trị của hàng hoá được đo bằng lượng thời gian lao động xã hội
cần thiết, lao động giản đơn và lao động phức tạp. Lao động giản đơn là lao động
mà sự hao phí lao động một cách đơn giản mà bất kỳ một người bình thường nào
có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được, như: lao động để sản xuất ra
sản phẩm là đũa. Còn lao động phức tạo là lao động đòi hỏi phải được đào tạo,
huấn luyện, chẳng hạn, các kỹ sư xây dựng, công nhân kỹ thuật Trong cùng một
đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị
hơn sơ với lao động giản đơn. Bởi vì, lao động phức tạp phải qua thời gian đào
tạo, huấn luyện. Thời gian đào tạo, huấn luyện càng dài thì trình độ lao động càng

của hàng hoá và năng suất lao động và cường độ lao động đã có một ý nghĩa quan
trọng không chỉ với mỗi người lao động mà cả với mọi nền sản xuất của mọi thời
đại. Việc nghiên cứu này giúp cho lao động có thể thấy được rằng việc quyết định
đến lượng giá trị hàng hoá là do tác động của năng suất lao động rất nhiều. Mà
năng suất lao động thì lại phục thuộc vào rất nhiều các nhân tố, trong đó các nhân
tố khoa học kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật là rất quan trọng. Qua đây,
người lao động thấy được rằng xã hội ngày càng phát triển thì mình cần phải học
hỏi để nâng cao trình độ của mình. Muốn theo kịp thời đại thì việc học tập các
trình độ khoa học tiên tiến là hết sức quan trọng. Do vậy, năng suất lao động sẽ
ngày càng tăng và điều đó cũng là một động lực để thúc đẩy xã hội phát triển. Vấn
đề nghiên cứu này không chỉ chho người lao động nhận thức được rằng cuộc sống
muốn ngày càng tốt hơn thì phải luôn học hỏi nâng cao trình độ. Mà qua đây, các
nhà quản lý, các nhà doanh nghiệp còn thấy được rằng mình muốn quản lý tốt,
muốn đầu tư phát triển một cách có hiệu quả thì việc thu hút các nhân tài, những
người có trình độ tay nghề cao là không thể thiếu. Họ luôn là người năng động
trong vấn đề này, họ có thể dùng mọi cách tốt nhất để lôi kéo, để có được những
người có trình độ khoa học kỹ thuật và tay nghề cao. Điều đó sẽ ảnh hưởng rất
lớn đến sản phẩm, giá trị của những hàng hoá mà họ sản xuất ra. Chất lượng, giá
trị sản phẩm là một điều kiện quan trọng để sản phẩm của các nhà sản xuất cạnh
tranh trên thị trường. Điều này cũng là một yếu tố tác động đến kết quả đầu tư
của các nhà đầu tư. Mỗi quốc gia mỗi dân tộc khi hiểu được đúng đắn về các mối
quan hệ này là rất quan trọng. Chính phủ của mỗi nước luôn muốn cho đất nước
mình ngày càng phát triển. Vì vậy, chính phủ đã có chiến lược phát triển, bồi
dưỡng và nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật cho các nhân lực trong nước.
Không những chỉ khuyến khích để thu hút các nhân tài trong nước phục vụ cho
đất nước mà còn thu hút các nhân tài, nhà đầu tư nước ngoài. Hạn chế tối đa việc
chảy máu chất xám. Từ khi đổi mới chính phủ Việt Nam đã thu được những kết

nhà ngày càng vươn cao và hội nhập với nền kinh tế thế giới. Khi nghiên cứu
phạm trù này, chúng ta đang là những người sinh viên thế hệ trẻ của đất nước có
sức khoẻ có kiến thức, chúng ta phải làm gì để nước nhà càng phát triển ? Đó là
một câu hỏi lớn, nhưng câu trả lời lại nằm trong mỗi tiềm thức của thế hệ trẻ
chúng ta. Có một danh nhân nào đó đã từng có lơòi khuyên " trẻ không học thì
già phải hối hận", đó là một sự đúc kết rất đúng đắn qua kinh nghiệm sống.
Vâng, thế hệ trẻ của chúng ta ngay bây giờ hãy có gắng thật nhiều, đang ngồi
trên ghề nhà trường điều quan trọng lúc này là học tập và học tập. Luôn tìm hiểu
khám phá không chỉ những kiến thức trong nhà trường mà những kinh nghiệm
va chạm cuộc sống xã hội cũng rất quan trọng. Đặc biệt chúng em là những sinh
viên của khoa Quản trị kinh doanh học bộ môn kinh tế chính trị, hiểu được các
quy luật kinh tế là một điều quan trọng cho công việc sau này. Tất cả chúng ta,
ai cũng muốn sống trong một xã hội tiến bộ. Vậy chúng ta hãy cố gắng thật
nhiều để vì một xã hội Việt Nam ngày càng phát triển hơn, văn minh hơn, tươi
đẹp hơn. Việt Nam rồi sẽ trở thành con rồng Châu á, trở thành cường quốc kinh
tế lớn trên thế giới. Chúng ta hãy tin rằng điều đó sẽ trở thành sự thật trong một
tương lai gần. Điều đó sẽ xảy ra nhanh hay chậm thì phụ thuộc rất nhiều vào thế
hệ trẻ chúng ta hãy tin vào chính bản thân chúng ta để vì một xã hội Việt Nam
tiến bộ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status