ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG DẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
• •
9 m
* * * * * * * * *
ĐỂ TÀI KHOA HỌC CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
(Tháng 4/2001 - 4/2002)
Tên đê tài:
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC
■ ■ ■
TRONG QUẢN LÝ XÃ HÔI ỏ NƯỚC TA HIÊN NAY
Mã số : QX.2000.04
Họ và tên chủ tr ì : TS. Hoàng Thị Kim Quế
Cơ quan : Khoa Luật - ĐHQGHN
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 nám 2002
LỜI NÓ: ĐẦU
1. Tính cáp thiết của đé tài
V iệc nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức có ý ngh ĩ.1
lý luận và thực tiễn to lớn, là một trong những hướng nghiên cứu mới của
khoa học pháp lý ở nước ta. Đ ảng cộng sản Việt nam đã xác định nhiệm
vụ xây dưng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta dựa trên
nguyên tầc quản lý xã hội bàng pháp luật, đồng thời coi trọng việc giác)
dục, nâng cao đạo đức. Pháp luật và đạo đức có vai trò đặc biệt quan
trọng, là công cụ để phát huy những ưu việt và hạn chế những khuyết tật
vốn có của nền kinh tế thị trường, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa
trong công cuộc xây dựng xã hội dân giàu nước m ạnh, công bằng, dân chủ
và văn m inh ở nước ta.
2. Tinh hình nghiên cứu
Trong khoa học pháp lý XH CN truyền thống , m ối quan hệ giữa
pháp luật và đạo đức ít được quan tâm nghiên cứu. ơ V iệt nam , về đề tài
này cho đến nay cũng chưa có một công trình nghiên cứu độc lập nàc,
đạo đức với tư cách là những phương tiện điều chỉnh đặc biệt quan trọng
trong hệ thống các quy phạm xã hội.
- Trình bầy về tính tất yếu khách quan của việc sử dụng pháp luật
kết hợp với đạo đức trong quản lý xã hội, để làm sáng tỏ vấn đề , trong đề
tài cũng có trình bầy một cách khái quát nhũng quan điểm khác nhau
trong lịch sử về sử dụng pháp luật và đạo đức.
- Bước đầu đề cập một sô' biểu hiện của mối quan hệ giữa pháp luật
và đạo đức trong m ột số ngành luật
- Phân tích diễn biến của tình hình pháp luật và đạo đức ở nwocs ta
trong giai đoạn hiện nay và tính cấp thiết của việc tăng cường quản lý xã
hội bằng pháp luật, giáo dục và nâng cao đạo đức.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu để tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu nhũng tư tưởng, quan
điểm của chủ nghĩa M ác-Lê nin và tư tường Hồ Chí Minh vể nhà nước và
pháp luật; những quan điểm của Đảng cộng sản Việt nam và nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam về quản lý xã hội bàng pháp luật và
đạo đức. Đồng thời để tài cũng được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của
khoa học pháp lý, các khoa học khác như: triết học,lịch sử, đạo đức
học,văn hoá học, giáo dục học Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận
dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử; các phương pháp nghiên cứu như : so sánh , lịch sử, phân tích
tổng hợp, điều tra xã hội học
6. Những điểm mới của đề tài
Trong để tài này, lần đầu tiên, mối quan hệ giữa pháp luật và đạo
đức được nghiên cứu m ột cách tương đối toàn diện và có hệ thống. Đặc
biệt đã phân tích m ột cách sâu sắc về sự tương tác của pháp luật và đạo
đức, vị trí. vai trò của chúng trong hệ thống các quv phạm xã hội. Xem xét
theo phương pháp so sánh và xã hội học về tương quan giữa vi phạm pháp
luật và vi phạm đạo đức.
Từ góc độ so sánh, nêu những đặc thù cơ bản trong quan niệm
Thời gian nghiên cứu: 2000 - 2002
1. Tóm tát nội dung chính của đề tài:
Để tài nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diẻn vể
mối quan hộ giữa pháp luật và đạo đức. Phân tích vai trò của pháp luật và
đạo đức trong quản lý xã hội, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghãi và xây dựng nhà nước pháp quyển Việt nam.
Trình bầy mối quan hệ giữa pháp luật, đạo đức với các phương tiên - các
loại quy tắc xã hội khác ở Việt nam, từ quá khữ đến hiện tại. Tác giả đã
trình bầy khái quát nhũng quan điểm khác nhau trong lịch sử về sử dụng
pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội, từ đó rút ra nhũng hạt ahân hợp
lý cho quản lý xã hội hiên đại.
Tác giả đã đi sâu phân tích sự thống nhất, sự khác biệt và sự tương
tác giữa pháp luật và đạo đức, chì ra những ưu thế, sức mạnh và những hạn
chế của hai phương tiện điều chỉnh quan trọng đó. Phân tích mối quan hệ
giữa trách nhiệm pháp luật và trách nhiệm đạo đức hiên nay. Đề cập
những nét cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt nam
vể pháp luật và đạo đức. Lý giải về tính tất yếu khách quan của quản lý xã
hội bàng pháp luật kết hợp với đạo đức trong điểu kiện xây dựng nhà nước
pháp quyền Việt nam. Để tài dã tập trung phân tích sự thể hiên của mối
quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong một số lĩnh vực pháp luật tiêu
biểu: tư pháp hình sự, pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình. Trên cơ sờ
thực trạng về pháp luật và đạo đức hiện nay, đề tài để xuất những giải
pháp chủ vếu nhầm tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật và kết hợp
với đạo đức, nâng cao hiệu quả pháp luật, xây dựng lối sống đạo đức, 2Óp
phần xây dưụng xã hội giàu mạnh, dân chủ và vãn minh.
2. Danh mục một sò bài viết có liên quan đến đề tài đã được cõng bố:
1. Tham gia đề tài đặc biệt cấp Đại học quốc gia: " Quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dàn" thời kỳ đổi mới đất nước, phần về" Quvền
và nghĩa vụ công dân trong lĩnh vực vãn hóa - xã hội".
3." M ột sô' vấn đề về sự điều chỉnh của pháp luật nhà I^ê trona Q uốc triều
chí Nghiên cứu lập pháp só 9/200120.
16. Pháp luật về người cao tuổi ở nước ta, tạp chí Dân chủ và pháp luật, sô'
1/2002
17. Tư tưởng Đ ông, Tây về nhà nước và pháp luật - Những nhân tô' nhà
nước pháp quyền, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, sô' 3/2002
18. M ột sô' đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền, tạp chí Dán
chủ và pháp luật, số 4/2002
Hà nội ngày 8, tháng 4, nãm 2002
Chủ trì để tài
TS. Hoàng Thị Kim Què
VIETNAM NATIONAL ƯNIVERSITY
LAW FACULTY
SƯMMARY OF CONTENT AND RESULT OF
SCIENTIFIC RESEARCHING THEME.
leme title: The relationship between law and m orality in social rranagement in our
mntry nowadays.
jll name of the leader: Dr. Hoang Thi Kim Que, Law Faculty, V ietnam National
niversity Hanoi.
esearch time: 2000 - 2002
Summarv of main content of the proiect:
The author studied the relationship betw een law and m orality systematically
id completely, analyzed the role of law and m orality in social m anagem ent, specially
I the m arket economy with the social orientation and building Legality based State in
ietnam. The author also showed the reiation betvveen law and m ora!ity and measures
other social rules in Vietnam from the past so far. The author also showed shortly the
ifferent views about the usage of Law and M orality in social m anagement and
ìereírom draw the appropriate factors for social m anagem ent in the recent.
The author analyzed the uniíication, difference, and the mutual affection
etw een law and m orality, pointed out their advantages and disadvantages of those
■nportant measures. In addition, she also presented the relationship betw een Legal an
"W om en Scientiíic Seminar", VNU Publishing House, Hanoi, 2000, (From paae 66 to
88). '
10. Some issues on Customary Law and Legality in Dac Lac nowadays, in
book: " Customary Law and the development of the country nowadays in Vietnam"
N ational political Publishing House, Hanoi, 2000 (From page 802 to page 965).
11. Some issues on W om en, M arriage and Fami]y in Vietnam through periods
of tim e, Democratic and Lavv magazine No 3/2001, (From page 14 to page 19)
12. The specific characteristics of regulating law on W om en, M arriaae, and
Fam ily in our country, State and Law, No3/2001.
13. Some thoughts about Law on ơ iild re n in our country, State m anagem ent
m agazine, N o 6/2001, (From page 23 to page 29).
14. Problem s about W omen, M arriage, and Pam ily in V ietnam, Vietnam Law
M agazine, Law Joum al Revue de Droit Vietnamien.
15. The impact o f non- econom ic factors in Law field, Legislative Studies
m agazine, No 9/ 2001.
16. About Property Inheritance R ight o f W omen in Penal Code of Le dynasty
(C o-author), W omen s Scientific m agazine, N o2/2000
17. Law on the elderly in our country, D emocratic and Law m agazine, No
í/2002.
18. The Eastem and W estem thoughts about State and Law factors of Lesality -
based State, Legislative Studies M agazine, No 3/2002.
19. Some charateristics of Law in Legality-based State, Democratic and law
M agazine, No 4/ 2002.
MỤC LỤC
Lời nói đầu
Chương I
Những quan điểm chủ yếu về pháp luật, đạo đức trong quản lý xã hội
qua các thòi kỳ lịch sử. Thực trạng pháp luật và đạo đức trong quản lý
xã hội ở nước ta hiện nay
A. Những quan điểm chủ yếu về pháp luật, đạo đức trong quản lý xã hội
hội chủ nghĩa
I. N hững nét khái quát về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong đời
sống xã hội.
1. Sự thống nhất - những điểm chung giữa pháp luật và đạo đức
2. Sự khác biệt giữa pháp luật và đạo đức
3. Sự tác động qua lại giữa pháp luật và đạo đức
4. M ối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức với các quy phạm xã hội khác
5. V ài nét về m ối quan hệ giữa pháp luật và các quy phạm xã hội khác
trong lịch sử dân tộc
II. T hực trạng về m ối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong m ột số lĩnh vực
pháp luật
1. M ối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong tư pháp hình sự
2. M ối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân
và gia đình
3. M ối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực pháp luật dân sự
III. T ính tất yếu khách quan của quản lý xã hội bằng pháp luật kết hợp với đạo
đức trong điểu kiện xây dựng nhà nước pháp quyền V iệt nam xã hội chủ
nghĩa
1. X ây dựng nhà nước pháp quyền Việt nam xã hội chủ nghĩa
2.T ính tất yếu khách quan của quản lý xã hội bằng pháp luật kết hợp với
giáo dục, nâng cao đạo đức
Chương m . Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý xã hội
bằng pháp luật, báo vệ và phát huy đạo đức truyển thống dân tộc và đạo
đức mới tiến bộ
I. Hệ thống các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý xã hội bằng
pháp luật, bảo vệ và phát huy đạo đức truyền thống dân tộc và đạo đức tiến
bộ
II. N âng cao chất lượng hoạt động xây dựng pháp luật, hoàn thiện hệ thống
pháp luật
III. T ổ chức tốt hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật
chức năng chung phát sinh từ toàn bộ sự vận động của cơ thể sản xuất M ột
nhạc công thì tự điều kh.ển lấy m ình , nhưng một dàn nhạc thì nhất thiết phải
có m ột nhạc trưởng chỉ lu y ."1. Người chỉ huy đó chính là cơ chế quản lý xã
hội do xã hội thiết lập nên. Cơ chế xã hội và các khách thể của quản lý xã
hội tồn tại trong m ối liên hệ hữu cơ, tác động qua lại như một sự thống nhất
biện chứng của các nhân tố quản lý và bị quản lý.
Đê’ xã hội vận hành, hoạt động quản lý xã hội là một đòi hỏi tất yếu
khách quan. Q uản lý xã hội là sự tác động liên tục, có tổ chức của chủ thể
quản lý xã hội lên xã hội và các khách thể có liên quan, nhằm duy trì và phát
triển xã hội theo các đặc trưng và các mục tiêu mang tính xu thế phái (riển
khách quan của xã hội.
2. Một sô học thuyết chính về quản lý xã hội
M ột sô học thuyết quản lý xã hội được giới khoa học nêu ra như
- T huyết đức trị.
- T huyết pháp trị.
- Thuyết nhân trị.
T heo thuyết đức trị, công cụ hữu hiệu nhất, xếp vị trí hàng đầu trong
việc trị nuớc ( quản lý xã hội ) là đạo đức. Đối lập lại là thuyết pháp trị, pháp
luật mới là công cụ duy nhất và đủ sức cai trị con người và xã hội dù ờ t ất cứ
hoàn cảnh nào. Theo thuyết này việc quản lý xã hội lệ thuộc chủ yếu vào các
nhà nước đứng đầu Nhà nước và một số phần tử ưu việt đặc biệt, đó là giới có
chức quỵền và thế lực khác của xã hội.
- 'ĩhu yết dân trị.
T huyết dân trị cho rằng việc quản lý xã hội phải do chính người dân
qu yết định, họ là các tế bào xã hội; từng tế bào mạnh và chúng lại đươc tổ
chức đồng thuận với nhau thì làm cho xã hội phát triển m ạnh nhất.
H ọc thuyết dân trị cũng có nhiều nhánh khác nhau. N hánh thứ nhất
đòi hỏi phải để cho mọi công dân được tự do và thực hiện dân chủ tuyệt đối;
đại diện cho nhánh này thời cổ xưa là Lão Tử (604 - 517 TCN) và thời nay là
học thuyết N hà nước dịch vụ đang được m ột số cường quốc và học giả tư sản
PHÁP LUẬT, ĐẠO ĐỨC TRONG QUẢN LÝ XÃ HỘI - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ s o
SÁNH
ề. So sánh những nét tương đồng và sác thái đặc thù của tư tưởng - học
thuyết Đồng, Tây về pháp luật đạo đức trong quản lý xả hội
Trước đây, khi xem xét đến các tư tưởng chính trị - pháp lý nói chung,
về những nhân tố nhà nước pháp quyền ( N N PQ ) nói riêng, thường lý luận
chỉ dừng lại ở phương Tây. Điều này là hệ quả tất yếu của nhiều lý do trong
đó trước hết là sự phũ nhận nhà nước pháp quvền trong lý luận m ột thời của
chúng ta. M ột sự đổi mới nhận thức và đánh giá khách quan, công bằng hơn
trong lý luận chính trị - pháp lý trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, đó là
sự khai thác những nhân tố NNPQ trong tư tuởng phương Đ ông. Đúng là tư
tưởng phương Tây cổ đại thể hiện rõ nét hơn những nhân tố NN PQ. Song
trong tư tưởng phương Đ ông cũng chứa đựng những nhân tố N N PQ nhưng
với những m ức độ thể hiện đặc thù. X em xét lại toàn bộ tư tưởng chính trị -
pháp lỷ phương Đ ông, chúng ta vẫn tìm thấy trong đó các quan điểm vể pháp
luật, đạo đức, về phương thức quản lý xã hội; về những nhân tô' N N PQ, tiêu
biểu là ở học thuyết đức trị và pháp trị. D ẫu rằng còn ở dạng sơ khai, nhưng
những nhân tố NN PQ cũng đã được thể hiện trong các tác phẩm của các nhà
tư tưởng vĩ đại như: K hổng Tử, M ạnh Tử, Tuân Tử, H àn Phi Tử, các nhà
chính trị - tư tưởng V iệt nam thời kỳ phong kiến: N guyễn Trãi, Lẻ Thánh
T ô n g
Các nhà tư tường phương Đ ông cổ đại tựu chung lại cũng bàn về
chính trị - con người, xã hội, nhà nước và pháp luật, nhưng theo" cách riêng",
m ức đ ộ riêng, tạo nên những sắc thái đặc thù so với tư tưởng phương Tây cổ
đại. So sánh với phương Tây cổ đại, các nhà tư tưởng phương Đ ông ít bàn
lu ận về nhà nước, pháp luật hơn. Điều này được lý giải bởi hàng loạt các yếu
tố khách q uan , chủ quan có nhiều sự khác nhau ở hai khu vực địa lý này như:
tương q uan giữa các giai cấp, lực lượng, m ức độ xung đột, m àu thuẫn xã hội
phươ ng pháp giải quyết, những điều kiện kinh tế. vãn hoá, lối sống lương
quan ^iữa pháp luật và phong tục, tập quán dẫn đến m ức độ quan târr. về
Đ iều cốt lõi nhất có lẽ theo chúng tôi đó là neười phương Đ ông quan niệm
về pháp luật chủ yếu thuần tuý như là phương thức, công cụ m à nhà nước sử
dụng để cai trị con người và xã hội theo đường lối của m ình. M ối quan hệ
giữa tôn giáo và chính trị, giữa thần quyền và thế quyền hay sự tôn giáo hoá,
đạo đức hoá chính trị là đặc trưng của các tư tưởng và học thuyết chính trị
của các nước phương Đ ông cổ đại. Tuy còn m ang tính chất sơ khai, nhimg
những tư tưởng chính trị và pháp luật của các nước phương Đ ông cổ díỊÌ đã
phát triển khá đa dạng và phong phú, nó luôn dựa trên cơ sở của mộl ihố
4
quan triêt học nhất định và gắn chặt với những vấn đề đạo đức, luân lý xã hội
nhất định 2.
Còn nguời phương Tây lại có cách nhìn khác hơn về pháp luật - theo
họ pháp luật không những chỉ là công cu cai trị của nhà nước m à còn tìm
thấy ở pháp luật giá trị xã hội của nó, pháp luật như là phương thức điều
chỉnh quan trọng nhất đối với quan hệ xã hội, các nhu cầu về giao dịch dân
sự do sự phát triển của kinh tế đem lại. Pháp luật là phương tiện giải quyết
các tranh chấp nẩy sinh trong xã hội, bản thân nhà nước cũng phải phục tùng.
Và khác với phương Đ ông như đã nêu trên, người phương Tây ngay từ xa xưa
đã coi ph áp luật có vị trí, hiệu lực cao hơn phong tục tập quán. Theo họ, pháp
luật không chỉ đơn thuần là công cụ cai trị hữu hiệu của nhà cầm quyền.
Được sinh ra trong bầu không khí dân chủ tương đối cao nên các nhà tư
tưởng phương Tây thời xưa cũng đã đề cập đến ý tưởng tổ chức quyền lực
nhà nước m ột cách khoa học
N goài ra còn lý do tôn giáo, thiên chúa giáo thống trị ở châu  u được
đậc trưng ở chủ nghĩa cá nhân, đối lập với các tôn giáo chính thống ở chấu Á
có tính chất tập thể. Đ iều này càng làm củng cố thêm cho tâm lý cộng đồng,
của con người phương Đ ồ n g .3 Sang đến thời kv tư sản, chủ nghiã cá nhân ở
T ây phương lại m ột lần nữa được nâng cấp, không chi có trong tư tướng học
thuyết m à đã hiện thực hoá trong hộ thống pháp luật. Trong quan điểm của J.
L ocke, J. R uosseu vể " khế ước xã hội", thì xã hội bao gồm các cá nhân tự
luận sâu sắc bao nhiêu thì Tây phương lại mê m ải luận về tính triết lý của
pháp luật như H êghen, Căntơ.
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền ở phương Tây cổ đại chủ yếu gắn
liền với sự phát triển của nền dân chủ H y Lạp và La Mã, có phần sâu sắc hơn
vì được dựa trên cơ sớ tư duy triết học, thể hiện sự tìm kiếm cái khách quan,
cái duy lý lại được thể nghiệm trong bầu không khí dân chủ ở trình độ tương
đối cao. Các nhà tư tưởng chú ý tới tính tối cao của đạo luật và cả lính hợp
lý, tới sự tổ chức hợp lý của bộ m áy nhà nước, hiểu pháp luật là pháp luật tự
nhiên, pháp luật xuất phát từ bản chất lỷ trí của con người và của thế giới
xung quanh con người, pháp luật là thuộc tính vốn có của con người, luật nhà
nước phải đáp ứng yêu cầu của luật tự nhiên.
N hà bác học Xierôn coi nhà nước là trật tự pháp luật chung, bảo vệ tự
do cho công dân. Theo H êm akrit, nhân dân phải đấu tranh bảo vệ pháp luật
n
hư bảo vệ chốn nương thân của chính m ình. Nhà tư tưởng lớn của Hy lạp -
Xôkxat đã khẳng định rằng: xã hội không thể tồn tại nếu thiếu pháp luât, nhà
nước phải tôn trọng, phục tùng pháp luật, tôn trọng pháp luật là tôn trọng lý
trí, công bàng và trí tuệ phổ biến, nếu không quyển lực sẽ lạc lối.
A rixtôt, nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ đại cũng khẳng định: pháp
luật thống trị trên tất cả, và đã đưa ra lý thuyết về sự tổ chức hợp lý của
qu y ền lực nhà nước - bất kỳ nhà nước nào cũng phải có ba bộ phận: cơ quan
làm luật, cơ quan thực hành pháp luật, cơ quan - toà án xét xử. N hà triết học
H y Lạp cổ đại Platôn đã viết: nếu pháp luật không có sức m ạnh, bị đậl dưới
qu yền lực của ai đó thì nhà nước sẽ diệt vong.
Hai ngôi sao sáng ưên nền trời văn hoá cổ đại phía T ây là Platon và
M achiavel (Ý ) đại diện cho nhân trị và pháp trị. Từ những nghiên cứu của họ
4 Xem Đào Trí úc ( chù biên ). Những vấn để lý luận cơ bản vể nhà nước và pháp luật. Nxb Khoa hoe xã
hội. Ha nội 1995. tr 102
Ố
ta có thể coi Platon như hiện thàn của "Vương đạo" gần với N ho G ia (quan
cách con người. Ô ng tìm thấy ở trong nhạc cái thiện, cái chân, cái m ỹ:"
N hạc thiều tận mỹ lại tận thiện, N hạc Vũ tận m ỹ nhưng chưa tận thiện"6. T ìm
thấy trong nhạc điều thiện, có thè’ cảm hoá được con người, ông nghe nhạc
đến nỗi ba tháng quên cả ăn thịt!. Theo K hổng Tử. pháp luàt thì chỉ liú ế n
người ta vì sợ m à không dám làm điều ác. Còn dùng đức thì người ta xúc
5 V ãn h oá v à n g u y ê n lý qu àn trụ iNhà xu ất bản thố n g kê n am 1996 , tác giả T S. N g u v ể n V án Đáng
6 L u ạ n ng ư , n x b T n d ư c tòn g t h a Sài g ò n , 1 950 , tr4 6
7
người ta vì sợ m à không dám làm điều ác. Còn dùng đứ c thì người ta xúc
độn g đ ê n tận đáy lòng và tự n gu yện thực hiện, k hông phải vì sợ pháp luật m à
là vì sợ xấu bổ trước người khác, sợ lương tâm cấn dứt đến chết dần , chết
m òn. K h ổ ng Tử và những người h ọc trò của ông đã nhận ra sức m ạn h của
đạo đức. O ng ước m ong sao cho xã hội được quay trở lại cái thời vua N g hiêu,
T huấn, cách xa ông gần ba ng àn năm . Đ ó là cái thời những vua thánh , tôi
hiển cai trị n hân dân không phải bằng bạo lực m à bằng đạo đức. Ô ng coi đạo
đức là phư ơng tiện cai trị hữu hiệu nhất.
T h eo ông quan niệm, đạo đức được thể hiện ở "đ ạo” và " đứ c". Đ ạo là
năm m ối q uan hệ cơ bản của con người, gọi là ngũ luân: vua- tôi, cha-con;
chồng -vợ; anh- em , bè bạn, trong đó ba m ối qu an hệ đầu là quan trọng nhất,
được gọi là " tam cương". Đ ó là ba sợi dây ràng buộc con người vào các
trách n h iệm lớn nhất của họ.
N hân, Trí, D ũng, ba phẩm chất quan trọng nhất m à con người cần phải
có để thực hiện tốt n hất năm m ối q uan hệ cơ bản trên, T ư tưởng đ ạo đức của
K hổn g T ử bao gồm : đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân. T rong thuy ết về đạo
đức xã hội, ô ng nêu thuyết " chính danh"- khu y ên con người phải ứng xử
th eo đún g vị trí , cương vị của m ình. T huy ết chính dan h chủ y ếu ở góc độ
chính dan h đ ể định phận, hướng tới m ộ t xã hội có trật tự , song lại là m ột
trật tự ngôi thế định sẩn, chứ không phải là m ột trậl tự ưẻ n cơ sở thoả thu ận7.
N hiều người cho rằng, h ọc thuyết của K hổng Tử cũng như toàn bộ tư
tưởng đức trị nho giáo chỉ duy n hấ t đề cập đến đạo đức m à khô ng biết đến
hành pháp luật. "Pháp", " thuật"," thế" là không thể phân chia được. Cần áp
dụng hình phạt phải đủ độ nghiêm khắc, nhưng ông lại loại trừ việc áp dụng
hình phạt đối với vua và thái tử. Thái tử bị tội thì quan thái phó chịu tội
thay. H ọc thuyết của Hàn Phi đối lập với học thuyết ” nhân trị- đức trị " của
phái nho gia. Phái pháp gia kêu gọi " dập tắt văn chương đi và làm sáng tỏ
pháp độ lên, lấp hết đường lợi riêng và chuyên vào việc chung"10. Hàn Phi
cũng đã có công lao vạch ra những điều không hợp) lý của đức trị nho giáo.
Ông cho rằng, để trị dân thì chỉ cần pháp luật và thưởng phạt phân minh, chứ
không cần nhân nghĩa: " Không nhẫn tâm giết phạt thì sự bạo loạn không
hết, ban ơn cho kẻ nghèo khổ thành ra kẻ không có công mà lại được
hưởng"11. Hàn Phi phê phán tư tưởng của nho giáo, cho rằng nếu người ưèn
mà theo nhân nghĩa thì dân sẽ theo nhân nghĩa - theo Hàn Phi, điều đó chỉ là
ảo tưởng, làm hại cho nước.
Theo ông, xã hội luôn luôn biến đổi, phải tuỳ thời thế mà đặt ra pháp
luật:" Thời thế đã thay đổi mà pháp luật không thay đổi thì loạn"( Hàn phi
Tử, thiên 14 ). Xuất phát từ " bản chất vốn là ác" của con người , ông cho
rằng, ham muốn cảu con người là vô hạn, chỉ có bằng pháp luật hà khắc thì
mới chế ngự được dục vọng khôn cùng của con người và để cho họ khỏi nổi
loạn:" Hàn Phi coi pháp luật là chuẩn mực cao nhất để giai cấp cầm quyền
cai trị đất nước. Để cao hình phạt, chú trọng khen thướng:" Để lãnh đạo bầy
tôi chẳng qua là nhờ vào hình và đức( hình phạt, ân đức khen thưởng)"12.
Ph áp luật được ví như cái thước kẻ của người thợ, thợ dẫu có vụng nhưng
nếu có thước kẻ để vẽ khuôn, nảy mực thì " trăm bánh xe chế ra đều dùng
được".
Nếu Khổng Tử tán dương việc cảm hoá bằng đạo đức, thì Hàn Phi lại
cho rằng:" Hiệu quả của việc cảm hoá đạo đức là có hạn, tiến trình cũng
chậm chạp, không bằng hình phạt có thể chỉnh đốn từng bước đi của người
10 Đ in h V ã n M ậu và tập th ể tác g i i Ch ính trị họ c dại c ư ơ ng , n xb T hà nh ph ố Hổ C h í M in h 199 7 , tr. 47
11 D ã n theo , V ũ K h iẻu , N h o g iá o và phát triển ở V iệt nam , s đ d, tr. 1 2 5 -1 2 6
12 H àn P h i Tử, n xb V ãn h o i 1996. ih ièn V I, t 1. tr. 93
T rung qu ốc hơn 2000 năm, nếu tính từ thời nhà H án ( thế kỷ II TCN )- thời
kỳ độ c tôn của nho giáo đến cách m ạng Tân Hợi ( 19911), lật đổ chế độ
ph ong kiến T rung q u ố c15. Tuy vậy, Khổng Tử lại được đánh giá khác nhau
qua các thời đại, học thuyết của ông phải trải qua nhiều bước thăng trầm. Sự
kiên đãc sắc nhất là nhà Tần đốt sách, chôn nhà nho, nhà Hán lại đề cao
K hổ ng Tử và thờ ông như một người thầy của m uôn đời. H ơn 2000 năm của
13 Hàn Phi Tử. oxb Đổng nai. 1995. tr 157
14 Hàn PHiTử, nxb Văn hoá, 1996. Thièn III. 12. ư. 232
15 Nguyẽn Tài Thư Nho hoe và nho hoc ờ Việt nam, Một số vấn dé iý luân và (hực tiển. n.xb Khoa hoc xã
hội. H.’ 1997. ừ. 9-10
10
chế độ phong kiên Trung quốc, các triều đại k ế tiếp nhau đ ều xem đạo nho là
cơ sở tư tưởng của đạo trị nước.
N hà Tần thực hiện chế độ quân chủ chuyên chế, áp dụng tuyệt đối
đường lối pháp trị. H ọc thuyết của H àn Phi Tử đã đóng góp to lớn vào sự
nghiộp cai trị đất nước của nhà Tần. Đến năm 221 TCN , bằng sức m ạnh
quân sự, nhà Tần đã thống nhất được Trung quốc. T ần T huỷ H oàng đã áp
dụng cải cách của Thương Ư ởng trong nền đ ế chế của m ình, nhằm xây dựng
m ột nhà nước quân chủ chuyên chế. Chính quyền Tần T huỷ H oàng để củng
cố hệ tư tưởng chính thống của nhà Tần. đã ban hành đạo luật: đốt sách, giết
kẻ sỹ; ai cất dấu Kinh thư, kinh thi, phải đốt đi
Triều đại nhà Tần ngày càng tàn bạo nên đến năm 206 T CN thì bị lật
đổ. Đ ến thời nhà H án, đường lối trị nước theo đạo đức nho giáo đựợc áp
dụng rộng rãi, học thuyết K hổng Tử được khôi phục. Với K hổng Tử được k ế
thừa và đổi m ói, nhà Hán và sau đó là nhà Đường đã trở nên bền vững và tạo
ra sự phát triển nhiều m ặt của xã hội Trung Hoa. Đ ến các triều đại Tống,
Nguyên, M inh, Thanh, đường lối cai trị nước theo đạo trị nước của nho giáo
vẫn được duy trì, song đã bộc lộ nhiều nhược điểm , báo động sự già cỗi, Ịụi
tàn của học thuyết đạo K hổng. T hế kỷ XIX nổi lên với sự xâm lược của chủ
nghĩa đ ế quốc vào các nước phương Đông. Trước tình hình đất nước bị đe
thống trị17. Đ iều nhận xét này, theo chúng tôi là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp
với quy luật khách quan của việc cai trị, quản lý xã hội. Đ ể quản lv xã hội có
hiệu quả, nhất thiết phải sử dụng cả pháp luật và đạo đức. Đ ó là vấn để có
tính quy luật khách quan của m ọi xã hội có nhà nước. Trên thực tế, các nhà
nước phong kiến ở đây đã kết hợp cả hai đường lối đó.
Nho giáo có vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển của pháp
luật phong kiến Việt nam, pháp luật đầu tiên là do các nhà nho xây dựng nên
và công lao hình thành các bộ luật là thuộc về nhà nho l8. Nho giáo nh ư đã
đề cập, ít bàn đến pháp luật và cũng ít nhấn m ạnh vai trò của pháp luật.
Nhưng ở Việt nam, sự hình thành và phát triển pháp luật lại song song với sự
truyền bá nho giáo.
Qua thế kỷ XI, xã hội V iệt nam dần dần được ổn định và củng cố. N hà
Lý m ở đầu cho viẽc giáo dục N ho và truvén bá đao Nho, m ờ đầu cho việc
xây dựng một nền pháp luật thành vãn ở nước ta. N hà Lý đã V thức được vai
trò của pháp luật, đã đặt ra những nguyên tắc pháp lý đối với việc tổ chức và
hoạt động của triều đình và toàn bộ bộ m áy nhà nước. Pháp luật là m ột trong
ba môn thi bắt buộc trong việc tuyển chọn người làm việc nhà nước. P háp
luật nhà Lý nặng về hình sự với những ch ế tài pháp lý nghiêm khắc. Bên
cạnh chính sách hình sự cứng rắn, pháp luật nhà L ý cũng thấm nhuần tính
đạo đức, tính nhân đạo( ch ế định đại xá đối với tù nhân, m iễn lao dịch và
m iễn thuế, tô ruộng cho dân đinh ).
Nhà Trần tiếp tục truyền bá nho giáo, đồng thời vẫn coi trọng phật
giáo. N hưng cả phật giáo và nho giáo đều không phải là cơ sở tư tưỏng cho
việc hình thành bộ " Q uốc triều hình luật " nhà Trần. C hính vì vậy m à pháp
luât thời Trấn m ang tính chất khắc nehiêt. giã m an . Đ ến thời Lê sơ nho giáo
phát triển đạt tới đỉnh cao. Lê Thánh Tông đã đưa N ho giáo lên địa vị độc tôn
trong hệ tư tưởng. Chính nho giáo là cơ sở lý luận của pháp luật nhà Lê trong
việc tổ chức bộ m áy nhà nước và cai trị đất nước. Pháp luật nhà Lê m à đỉnh
cao là bộ luật Hồng Đ ức đã thể hiện rõ nét tư tưởng đức trị và pháp trị với
17 Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Xã hội và pháp luật, n.xb Chính trị quốc gia. H. 1994. tr. 242
trị- đạo đức này. Đường lối đức trị và pháp trị trên thực tế đã được các n hà
nước phong kiến sử dụng kết hợp với những m ức độ khác nhau. M ối quan hệ
giữa ph áp luật và đạo đức đã được thể hiện trong xây dựng, trong áp dụng
pháp luật, trong việc duy trì sự điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng cả các
"chế định phi quan phương", trong đó yếu tố đạo đức giữ vai trò đặc biệt,
quan trọng.
IV. TƯ TƯỞNG Hổ CHÍ MINH VỀ PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG QUẢN
LÝ XÃ HỘI
19 c. Mác, Ph. Ángghen. toàn tập. tl.tr L63, bản tiếng Nga
:o Vũ Minh Giang, bài đăng ưong: Xà hội và pháp luật, s đ d, tr. 246
21,35, 36. Xã hỏi và pháp luật, sđ d, tr. 246
13
v ề pháp luật và đạo đức, đã có rất nhiều nhà tư tường khoa học, nhà
chính trị đề cập trong rất nhiều công trình và văn kiện chính tiị - pháp lý.
Nhưng ở H ồ C hí M inh, chúng ta thấy có những nét đặc thù riêng, rấv riêng
làm nên m ột phong cách H ồ Chí M inh về pháp luật và đạo đức trone cà di
sản quý báu về C ách m ạng dân tộc, về Nhà nước và pháp luật.
N hững tác phẩm , bài viết, lời nói của Người về pháp luật và đạo đức
vì vậy luôn luôn đến được với quảng đại quần chúng và sống m ãi với ihời
gian, là kim chỉ nam cho mọi suy nghĩ và hành động của chúng ta trong sự
nghiệp đổi m ới đất nước hiện nay.
H ồ C hí M inh tuy không nêu trực tiếp đến những khái niệm, phạm trù
lý luận về nhà nước và pháp luật, song chính nội dung của những tư tưởng
của Người lại liên quan đến những vấn để lý luận này. Chảng hạn, những
bài viết của Người về ý thức pháp luật, về bản chất và vai trò của pháp luật
- Sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh về pháp luật và
đạo đức được thể hiện trong các tác phẩm và trong hoạt động cách
mạng của Người.
H ồ Chí M inh là nhà triết học, nhà luật học, nhà lý luận chính trị
trong hành động. N hững vấn đề Người viết, nói đều xuất phát từ quá trình
Cơ sở triêt lý của tư tưởng đạo đức Hồ C hí M inh đã được thể hiện
trong pháp luật và cả trong m ối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, đó là:
pháp luật kh ông chỉ thể hiện quyền lợi công dân đơn thuần m à còn nhằm
m ục đích xây dựng m ột nền đạo đức xã hội đảm bảo cho m ọi người có cuộc
sống lương thiện, hạnh phúc, kẻ ác phải bị trừng phạt. Đối với Người, "giữa
pháp luật và đạo đức có m ối quan hệ biện chứng như m ối quan hệ giữa hình
thức và nội dung, nội dung là đạo đức, pháp luật là hình thức".23 * Người
Việt nam vốn quan niệm về lẽ sống, sao cho hợp "lẽ ở đời", và phải với
"đạo làm người". Pháp luật của nhà nước cũng là những quy định hợp với lẽ
phải, những cái thuộc về những quan niệm về lẽ sống nói trên.
Hồ Chủ tịch nói:" Nghĩ cho cùng, vấn dề tư pháp cũng như mọi
vấn đê khác, trong lúc này là vấn đề ở đời và làm người , ở đời và lam
người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ, bị áp
b ứ c"24. Bác căn dặn cán bộ xử lý các vấn đề phải có " lý, có tình". Người
cũng nêu ng uy ên tắc: thuyết phục và cưỡng chế, lấy thuyết phục, giáo dục
làm chính.
Đ iểm thống nhất của tư tưởng đạo đức và pháp luật Hồ C hí M inh là
tất cả đều hướng về nhân dân, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân.
- H ệ thống những tư tưởng, quan điểm của chủ tịch Hồ Chí M inh về
pháp lu ật được thể hiện tập trung trên những phương diện cơ bản sau đây:
quan niệm về pháp luật, vai trò, tác dụng của pháp luật; quan niệm về cơ
ch ế làm luật; quan niệm về pháp chế và ý thức pháp luật.
- V ề vai trò của pháp luật, Hồ Chí M inh nhấn m ạnh, pháp luật không
chỉ là cô ng cụ bảo vệ thành quả cách m ạng mà còn là công cụ để duy trì và
bảo vệ bình đắng dân tộc, bình đẳng nam nữ, bình đẳng xã hội.
Người nhấn m ạnh đến tính nhân dân của pháp luật, pháp luật là ý chí
của nh ân dân, sức m ạnh của pháp luật bắt nguồn từ nhân dân:" Q uyển hành
22 Xem Đào Trí ú c, tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viẹn nghiẽn cứu nhà nước và pháp luật, số tháng 5 nám
2000.tr. 4
23 - Thành Duv, Tư tưởng đạo dức Hổ Chí Minh và mối quan hê giữa pháp luàt và đao dức, dao dức và IơL