Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Từ Đại hội Đảng VI (1986) Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ cần phải
đổi mới nền kinh tế đó là chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang
nền kinh tế thị trờng theo định hớng Xã hội chủ nghĩa. Đến năm 1992 đờng lối
đó đã đợc cụ thể hoá.
Khi nghiên cứu xã hội T bản Các Mác phát hiện ra mâu thuẫn cơ bản của
xã hội T bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất với chế độ
chiếm hữu t nhân T bản chủ nghĩa, mâu thuẫn đó là cơ sở sâu xa làm nảy sinh
các mâu thuẫn khác và quy định sự vận động và phát triển của xã hội T bản. Từ
đó, Các Mác đã đi đến dự báo về sự thay đổi chế độ chiếm hữu t nhân T bản chủ
nghĩa bằng chế độ công hữu. Sau này, khi nghiên cứu vấn đề này Lênin đã chỉ
ra sự thay thế đó không thể tiến hành một sớm một chiều mà đó là cả một quá
trình lâu dài phức tạp.
Ta biết rằng vấn đề kinh tế là vấn đề tiên quyết làm thay đổi các vấn đề
khác do vậy Đảng ta chỉ ra rằng sự phù hợp giữa lực lợng sản xuất với quan hệ
sản xuất là một vấn đề cực kì quan trọng trong giai đoạn hiện nay: giai đoạn đi
lên Chủ nghĩa xã hội. Đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn thì cần hiểu rõ và áp dụng
sáng tạo quy luật trên vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Do vậy việc nghiên
cứu quy luật này là một vấn đề hết sức cần thiết. Chính vì vậy mà em đã quyết
định chọn đề tài: Quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất với quan hệ
sản xuất và vận dụng vào xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nớc ta hiện nay.
Tuy nhiên trình độ nhận thức hiểu biết về mọi mặt còn hạn chế nên không tránh
khỏi sai sót. Em mong nhận đợc sự chỉ bảo của thầy cô và ý kiến đóng góp của
bạn đồng học. Em xin chân thành cảm ơn!
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
I. Đặt vấn đề.
Xã hội loài ngời muốn tồn tại và phát triển không thể không sản xuất ra của
cải vật chất mà trình độ phát triển của nó đợc biểu hiện chính bởi phơng thức
sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Từ khi con ngời mới xuất hiện
hữu tập thể tồn tại, trong khi các hình thức sở hữu khác đang còn có tác dụng
mạnh mẽ đối với lực lợng sản xuất thì lại bị ngăn cấm, không đợc phép phát
triển. Việc đó đã dẫn đến tình trạng sản xuất bị đình đốn, ngời lao động không
làm việc hết mình, xã hội không phát triển. Vậy phải giải quyết vấn đề này nh
thế nào ? Việc vận dụng đúng đắn qui luật trên vào công cuộc xây dựng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là vô cùng cấp thiết.
II. Giải quyết vấn đề.
1. Nội dung nguyên lí triết học
a) Lực lợng sản xuất.
Lực lợng sản xuất là mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên đợc hình
thành trong quá trình sản xuất. Lực lợng sản xuất gồm có t liệu sản xuất và ngời
lao động . Có thể nói lực lợng sản xuất là tất cả các nhân tố vật chất, kĩ thuật
cần thiết để tiến hành một quá trình sản xuất nào đó trong đó ngời lao động giữ
vai trò nhân tố cơ bản và quyết định .
T liệu sản xuất lại đợc cấu thành từ hai bộ phận: đối tợng lao động và
t liệu lao động; trong đó đối tợng lao động có thể là giới tự nhiên hoặc những
sản phẩm không có sẵn trong tự nhiên mà do con ngời bằng lao động của mình
đã tạo ra. Còn t liệu lao động là những vật hay phức hợp các vật thể nối con ng-
ời với đối tợng lao động và dẫn truyền sự tác động của con ngời vào đối tợng
lao động, nó lại bao gồm công cụ sản xuất và phơng tiện lao động, mà trong đó
công cụ sản xuất đợc con ngời không ngừng cải tiến và hoàn thiện, do đó công
cụ sản xuất luôn luôn là yếu tố động nhất, cách mạng nhất của lực lợng sản xuất
.
Bất kỳ một thời đại lịch sử nào, công cụ sản xuất bao giờ cũng là sản
phẩm tổng hợp, đa dạng của toàn bộ những phức hợp kỹ thuật đợc hình thành
gắn liền với quá trình sản xuất và phát triển của khoa học kỹ thuật. Nó là kết
quả của rất nhiều yếu tố, trong đó quan trọng và trực tiếp nhất là trí tuệ của con
ngời đợc nhân lên trên cơ sở kế thừa nền văn minh vật chất trớc đó.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thứ nhất, quan hệ sở hữu đối với t liệu sản xuất tức là quan hệ giữa con
ngời đối với t liệu sản xuất, nói cách khác t liệu sản xuất thuộc về ai. Đây là
quan hệ có ý nghĩa quyết định đối với các mặt quan hệ khác.
Thứ hai, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất , kinh doanh, tức là
quan hệ giữa ngời với ngời trong sản xuất và trao đổi của cải vật chất nh phân
công chuyên môn hoá và hợp tác hóa lao động, quan hệ giữa ngời quản lý với
công nhân. Trong thực tế, thích ứng với một kiểu sở hữu là một chế độ tổ chức
và quản lý nhất định. Mặc dù phụ thuộc vào quan hệ sở hữu nhng tổ chức và
quản lý sản xuất có tác dụng rất lớn đối với quá trình sản xuất và với các mặt
quan hệ khác của quan hệ sản xuất. Chính quan hệ về tổ chức và quản lý sản
xuất là nhân tố tham gia quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ và hiệu quả
của nền kinh tế.
Thứ ba, quan hệ phân phối sản phẩm lao động: tuy quan hệ này phụ
thuộc vào quan hệ sở hữu và vào trình độ tổ chức quản lý sản xuất nhng đến lợt
mình thông qua tổ chức và quản lý, nó trở thành chất xúc tác quan trọng đặc
biệt đối với sự tăng trởng kinh tế.
Ba mặt quan hệ nói trên là một thể thống nhất hữu cơ, quan hệ chặt chẽ
với nhau và cùng một mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu quả t liệu sản
xuất để làm cho chúng không ngừng đợc tăng trởng, thúc đẩy tái sản xuất mở
rộng, nâng cao phúc lợi ngời lao động. Vì vậy không nên tuyệt đối hoá bất kỳ
một mặt quan hệ nào mà phải chú ý đến tính đồng bộ của cả ba mặt quan hệ
trong quan hệ sản xuất.
Nh vậy tính vật chất của quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ nó tồn tại
khách quan độc lập hoàn toàn với ý thức của con ngời. Mác đã chỉ ra rằng trong
sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con ngời có những quan hệ nhất định,
tất yếu không phụ thuộc vào ý muốn của họ. Tức là những quan hệ sản xuất này
phù hợp với trình độ phát triển nhất định của các lực lợng sản xuất vật chất của
họ. Vì vậy con ngời không thể tuỳ tiện lựa chọn quan hệ sản xuất riêng cho
mình, bởi vì chúng luôn luôn là kết quả phát triển tất yếu khách quan của một
là xiềng xích kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất. Ngay cả trong trờng
hợp quan hệ sản xuất đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất
thì nó cũng kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất.
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lợng
sản xuất (thúc đầy hoặc kìm hãm ), vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy
định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phơng thức
phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà ngời lao động đợc hởng. Do đó nó
ảnh hởng đến thái độ quảng đại quần chúng lao động - lực lợng sản xuất chủ
yếu của xã hội, nó tạo ra những điều kiện kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến
công cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa khọc và kỹ thuật vào sản xuất,
hợp tác và phân phối lao động.
Tuy nhiên, không đợc hiểu một cách đơn giản tính tích cực của quan hệ
sản xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu, mỗi kiểu quan hệ sản xuất là
một hệ thống một chỉnh thể hữu cơ gồm ba mặt, quan hệ sở hữu, quan hệ quản
lý và quan hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể đó, quan hệ sản xuất mới trở thành
động lực thúc đẩy con ngời hành động nhằm phát triển sản xuất.
* Qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất:
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
làm hình thành quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất.
Vậy thế nào là phù hợp : Có thể khái quát ở một số nội dung chủ yếu
sau đây:
Thứ nhất, cả ba mặt của quan hệ sản xuất phải thích ứng với tính chất,
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Thứ hai, quan hệ sản xuất phải tạo đợc điều kiện sử dụng và kết hợp tối
u giữa t liệu sản xuất và sức lao động, bảo đảm thực hiện tái sản xuất mở rộng.
Thứ ba, mở ra những điều kiện thích hợp cho việc kích thích vật chất,
kiến.
Quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa ra đời góp phần giải phóng sức lao
động của ngời nông dân cá thể. Để tăng cờng bóc lột giá trị thặng d, giai cấp t
sản đua nhau mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng nhanh chóng các
thành tựu khoa học kỹ thuật vào tất cả các khâu của nền sản xuất xã hội. Trong
thời kỳ hoàng kim của mình, quan hệ sản xuất t bản đã tạo ra những khả năng
phát triển mạnh mẽ lực lợng sản xuất, nó đã tạo ra cho nhân loại một khối lợng
8