Mối quan hệ biện chứng giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội ở nước ta hiện nay - Pdf 10



1 Luận văn
Mối quan hệ biện chứng giữa chính sách
kinh tế và chính sách xã hội trong thời
kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội ở nước
ta hiện nay 2
Đề cương chi tiết A. Đặt vấn đề

B. Nội dung I.Những vấn đề lí luận cơ bản

1. Mối quan hệ biện chứng giữa chính sách kinh tế và chính
sách xã hội.

1.1. Khái niệm chính sách kinh tế, chính sách xã hội, thời kỳ quá
độ tiến lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

4.Quan điểm của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa chính
sách kinh tế với việc thực hiện các chính sách xã hội

II.Thực trạng việc thực hiện chính sách kinh tế và thực hiện chính
sách xã hội Việt Nam.

1. Đánh giá th
ực trạng
.
3
1.1. Thực trạng chính sách kinh tế.

1.2. Thực trạng thực hiện các chính sách xã hội.

2. Đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế trong
việc giải quyết mối quan hệ giữa chính sách kinh tế với chính
sách xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất và phúc lợi xã hội
ở nước ta.

2.1. Những thành tựu đạt được .

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân.

III.Phương hướng và giải pháp giải quyết mối quan hệ biện chứng
giứa chính sách kinh tế và chính sách xã hội nhằm không ngừng
nâng cao đời sống vật chất , PLXH ở nước ta trong thời kỳ quá độ.


A. Đặt vấn đề

Kể từ sau đại chiến thế giới thứ hai, nền kinh tế thế giới có những
bước tiến vượt bậc. Xu thế toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, nó thôi thúc
mọi quốc gia, mọi khu vực tham gia vào cuộc tranh đua quyết liệt vì
sự phát triển. Trong cuộc đua ấy, sự tụt hậu về kinh tế sẽ đẩy đất nước
ra khỏi quỹ đạo phát triển. Tuy nhiên không phải quỗc gia nào cũng
được chuẩn bị kỹ lưỡng để tham gia vào cuộc đua này, một số ít quốc
gia sẽ nhanh chóng vươn lên trở thành giàu có và kéo theo một bộ
phận dân cư cũng trở thành giàu có bỏ lại một số quốc gia tụt hậu
đằng sau với đại bộ phận dân cư phải sống trong nghèo khổ. Thực tế
chứng minh , theo thống kê Việt Nam năm 1996, hơn 30 năm qua, nền
kinh tế thế giới có tốc độ tăng trưởng rất cao, GNP/người tăng 3 lần,
GNP toàn thế giới tăng 6 lần từ 4000 tỷ(năm 1960) lên 23000 tỷ (năm
1994). Tuy nhiên hố ngăn cách giàu nghèo cũng có xu hướng gia tăng.
Khoảng ba phần tư dân số của các nước kém phát triển có mức thu
nhập âm. Chênh lệch giữa các nước phát triển và các nước thế giới thứ
ba về thu nhập tăng hơn 3 lần. Thu nhập của 20% dân số nghèo nhất
thế giới chiếm 1,4% tổng thu nhập toàn thế giới còn 20% người giàu
nhất lại chiếm tới 85% thu nhập thế giới quả là một sự chênh lệch quá
lớn. Tuy nhiên vấn đề xã hội không chỉ nổi lên ở các nước kém phát
triển, đang phát triển mà các nước có nền kinh tế phát triển, vấn đề xã
hội cũng rất nan giải, đó là nạn thất nghiệp, thất học,tệ nạn xã hội, sự
bần cùng hoá, khoảng cách giầu nghèo, các mâu thuẫn xã hội nổi lên
khó kiểm soát. Đó chính là sự không hài hoà hay sự mâu thuẫn giữa
chính sách kinh tế và chính sách xã hội.
Trong vài thập kỷ gần đây, các quốc gia nhận thấy vấn đề thực hiện
chính sách kinh tế để tăng trưởng kinh tế phải gắn với sự tiến bộ và
công bằng xã hội (thực hiện chính sách xã hội). Vấn đề đặt ra mang
tính chất toàn cầu bởi vấn đề này không chỉ cần thiết đối với các nước

kỳ nhất định.
1.1.2 Khái niệm chính sách xã hội .
Chính sách xã hội là những chủ trương, những chính sách cụ thể,
những quy định của nhà nước duy trì hoặc làm thay đổi những điều
kiện sống của các tầng lớp dân cư, hướng đến sự thịnh vượng của các
tầng lớp dân cư trong xã hội; biểu hiện cụ thể dưới dạng vốn con
người và vốn xã hội.
Chính sách kinh tế tốt là tiền đề cho sự tăng trưởng bền vững về
các tiêu chuẩn sống bao gồm tiêu dùng vật chất, giáo dục , sức khỏe và
bảo vệ môi trường vv
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của
hiện tại mà không làm thương tổn khả năng đáp ứng các nhu cầu tương
lai.
Có nhiều quan điểm trong chính sách phát triển kinh tế
Theo P.Todako: Chính sách phát triển kinh tế cần được hiểu như
một quá trình nhiều mặt có liên quan đến những thay đổi trong cơ cấu 7
, trong thái độ và thể chế cũng như việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế
, giảm bớt mức độ bất bình đẳng và xoá bỏ chế độ nghèo đói.
Chúng ta hiểu chính sách phát triển kinh tế là một quá trình tăng
tiến về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm sự gia tăng về sản lượng hay
thu nhập và những biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế và xã hội.
1.2. Các chỉ tiêu phản ánh.
1.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng kinh tế thể hiện chính
sách kinh tế đúng dắn .
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP):
Tổng sản phẩm quốc nội là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ mới tạo ra
trong năm bằng các yếu tố sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.

mua(PPP).
-Chỉ số nghèo khổ (HPI).
Là thước đo để đánh giá nghèo đói đa chiều , chỉ số tổng hợp về
sự thiệt thòi của con người được đánh giá trên các khía cạnh : cuộc
sống lâu dài, khoẻ mạnh, tri thức , sự bảo đảm về kinh tế và sự hội
nhập xã hội.
Các bộ phận cấu thành bao gồm:
+ Đối với những nước đang phát triển (HPI 1):
*Tỉ lệ người dự kiến không sống đến 40 tuổi.
*Tỉ lệ mù chữ .
*Tỉ lệ người không được tiếp cận với các dịch vụ y tế , nước
sạch.
*Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng.
+ Đối với những nước phát triển (HPI 2):
*Tỉ lệ người dự kiến không sống đến 60 tuổi.
*Tỉ lệ những người chưa đạt được yêu cầu chuẩn về đọc và viết.
*Chỉ số nghèo về thu nhập.
*Sự thiệt thòi trong hòa nhập xã hội.
1.3. Mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội nhằm
nâng cao đời sống vật chất và phúc lợi xã hội .
1.3.1 Đặt vấn đề về sự hạn chế của chính sách kinh tế chú trọng tăng
trưởng .
Sau chiến tranh thế giới II vào 1960s các quốc gia đều nhấn
mạnh đến tầm quan trọng của chính sách kinh tế hướng đến tăng 9
trưởng kinh tế . Họ cho rằng tăng trưởng kinh tế là mục tiêu cơ bản
của mọi xã hội. Kết quả là nhiều nước đã đạt được tốc độ tăng trưởng
cao, nhưng sự tăng trưởng cao đó mang lại rất ít lợi ích cho người

Mục tiêu chính của hoạt động kinh tế là xóa bỏ nạn nghèo đói
phổ biến và sự bất bình đẳng ngày càng tăng trong phân phối
thu nhập. Đây là những vấn đề cốt lõi của phát triển kinh tế . 11
1.3.3. Quan hệ khách quan, biện chứng giữa chính sách kinh tế và
chính sách xã hội .
Chính sách kinh tế và chính sách xã hội ngoài những mục tiêu
riêng còn có mục tiêu chung là nhằm phát triển con người , đảm bảo
công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, thúc đẩy sự phát triển
của xã hội.
Chính sách kinh tế trước hết nhằm giúp tăng trưởng kinh tế là
điều kiện trước tiên để cải thiện chính sách xã hội, nâng cao phúc lợi
xã hội , khắc phục tình trạng đói nghèo của một quốc gia. Nguyên
nhân đầu tiên của đói nghèo là kinh tế không tăng trưởng . Trong các
xã hội tiền Tư bản chủ nghĩa, kinh tế tăng trưởng rất chậm, vì vậy tình
trạng đói nghèo rất phổ biến .
Chính sách xã hội tất yếu phải dựa trên sự phát triển kinh tế .
Phát triển kinh tế tạo ra cơ sở vật chất để giải quyết vấn đề phúc lợi và
thực hiện tốt các chính sách xã hội. Kinh tế phát triển sẽ nâng cao đời
sống của từng cá nhân và toàn xã hội , tạo điều kiện cho cá nhân tham
gia tích cực vào các hoạt động của cộng đồng, trong đó có hoạt động
phúc lợi xã hội . Kinh tế phát triển, Nhà nước sẽ có nguồn thu để thực
hiện các chương trình phúc lợi xã hội, thự hiện chính sách xã hội. Do
đó , phát triển kinh tế là điều kiện và tiền đề để phát triển và đa dạng
hóa các hoạt động của chính sách xã hội . Chính phủ các nước thường
dành một tỉ lệ nhất định của GNP để chi cho việc giải quyết các chính
sách xã hội nên thu nhập quốc dân càng lớn thì khả năng ngân sách chi
cho chính sách xã hội càng lớn. Nói cách khác , sự quan tâm và mức

những nhân tố quyết định nhất để đảm bảo phát triển và hoàn thiện các
chính sách xã hội và phúc lợi xã hội. Tăng trưởng kinh tế tạo ra ngày
càng nhiều của cải vật chất cho xã hội, cơ sở để nâng cao mức sống
người dân, ổn định chính sách hiện tại, đảm bảo cuộc sống tương lai.
Nhờ tăng trưởng kinh tế, Nhà nước mới có điều kiện xây dựng những
cơ sở phúc lợi như nhà dưỡng lão, trại trẻ mồ côi, cơ sở phúc lợi danh
cho người tàn tật, các khu vui chơi giải trí, các bệnh viện mới và hiện
đại, mở mang hệ thống giáo dục, y tế
Nhưng phải chăng cứ có có chính sách kinh tế tốt, nền kinh tế
phát triển thì chính sách xã hội và phúc lợi xã hội sẽ được cải thiện? 13
Tăng trưởng kinh tế không tự nó giải quyết được các vấn đề chính
sách xã hội và phúc lợi xã hội mặc dù Nhà nước vẫn chú ý đến việc
giải quyết việc giải quyết các vấn đề chính sách xã hội và phúc lợi xã
hội như xây dựng mạng lưới y tế đến tận cơ sở , phòng bệnh , chữa
bệnh cho nhân dân, chăm lo đời sống cho các gia đình bộ đội, thương
binh , liệt sĩ, mở mang giáo dục nhằm ổn định xã hội.
Thực tế những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành một số chính
sách chính sách xã hội và phúc lợi xã hội trên tinh thần đổi mới và cố
gắng thực hiện đồng thời cả chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế
và chính sách xã hội . Các chính sách xã hội không tồn tại độc lập mà
nằm trong tổng thể hệ thống chính sách của Nhà nước nên Nhà nước
có vai trò to lớn trong việc quản lý, thực hiện các chính sách xã hội,
tạo ra sự liên kết , thống nhất giữa các chính sách kinh tế và chính
sách xã hội để định hướng và thúc đẩy phát triển kinh tế phục vụ các
mục tiêu chính sách xã hội và nâng cao phúc lợi xã hội , từ việc đảm
bảo lợi ích của các tầng lớp nhân dân đến việc phát triển con người và
hoàn thiện cơ cấu xã hội .

những người dân Braxin ở phía Đông-Bắc hầu như không được hưởng
thụ lợi ích từ tăng trưởng . Ngay cả những thành phố lớn , hiện đại ở
phía Nam cũng có những khu ổ chuột đáng kinh sợ , đôi khi liền kề
ngay với những khu kiến trúc mới, xa hoa. Nguyên nhân là ở Braxin
quyền sở hữu tài sản được tập trung cao, không có cải cách ruộng đất,
giáo dục chịu tác động nhiều của các yếu tố kinh tế thị trường, trong
công nghiệp và nông nghiệp đều nhấn mạnh đến các cơ sở sản xuất có
quy mô lớn, khuyến khích công nghiệp sử dụng nhiều vốn. Kết quả là
mức độ bất bình đẳng của Braxin là rất cao và có ít tiến bộ trong việc
giảm bớt nghèo khổ mặc dù mức tăng trưởng kinh tế nhanh.
2.2.Quan điểm ưu tiên công bằng hơn tăng trưởng .
2.2.1 Phân phối trước , tăng trưởng sau.
Đây là quan điểm chủ đạo của các nước đi theo Chủ nghĩa xã hội
sau thế chiến thứ hai. Họ cho rằng , việc tập trung tài sản vào một
nhóm người là trở ngại cho sự phát triển lực lượng sản xuất. Bất bình
đẳng không chỉ là sự tha hoá phát triển mà còn là trở ngại cho sự phát
triển . Vì vậy phân phối lại là điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng , cụ
thể là đoạt từ người giàu chia cho người nghèo . Cơ chế phân phối 15
được xác lập sao cho đảm bảo thu nhập phụ thuộc vào đóng góp lao
động . Tuy nhiên, nền tảng của sự phân phối là chủ nghĩa bình quân .
Do vậy mặc dù nó là nguồn cổ vũ lớn lao với nhân dân nhưng nó đã
không có cơ sở vững chắc để tồn tại.
2.2.2 Lấy con người làm trung tâm (D.Korten) .
Theo ông , hầu hết các mô hình phát triển đều lấy chính sách
kinh tế tăng trưởng làm trọng tâm và ông phê phán các mô hình đó.
Ông cho rằng, phát triển lấy con người làm trung tâm là một tiến trình
qua đó các thành viên của xã hội tăng được khả năng của cá nhân và

đẳng ở Hàn Quốc , Malaixia cho ta một số kinh nghiệm như sau:
3.1.Chính sách kinh tế hướng tới sự tăng trưởng kinh tế nhanh với
phân phối công bằng, nâng cao mức sống cho mọi tầng lớp dân cư đặc
biệt là người nghèo nói chung và khu vực nông thôn nói riêng.
Chính đường lối phát triển đúng đắn đã đưa các nước này trở
thành các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (8% / năm) được
xếp vào các quốc gia có tỉ lệ tiết kiệm/ GDP lớn . Các ngành công
nghiệp cần sử dụng nhiều lao động thu hút được lượng lao động nhàn
rỗi ở khu vực nông thôn, giải quyết được tình trạng thất nghiệp tràn
lan khi tiến hành công nghiệp hoá. Hơn nữa, tiền lương trung bình
tăng rất cao (Malaixia 10%/năm , Hàn Quốc 6%/năm). Điều này đưa
họ trở thành các nước có thu nhập bình quân đầu người và tiền lương
cao nhất khu vực, tỉ lệ thất nghiệp thấp chứng tỏ họ thoát khỏi sự đói
khổ , tiến tới tạo đủ việc làm có thu nhập cao cho người lao động và
dần xoá bỏ khoảng cách trong phân phối thu nhập .

3.2. Chú trọng phát triển nông nghiệp và đảm bảo chính sách xã
hội cho người dân.
Về cơ bản giải quyết bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn ,
giữa vùng kém phát triển và vùng phát triển , không chỉ cần sự nỗ lực
của chính phủ mà phải có thời gian dài để đưa các vùng này vượt qua
sự khác biệt về kinh tế –xã hội , tập trung vốn đầu tư để ưu tiên phát
triển kịp thời các vùng kém phát triển . Sự đầu tư này có thể làm giảm
tốc độ tăng trưởng giai đoạn đầu nhưng nó tạo điều kiện tốt hơn cho
các giai đoạn tiếp theo, tránh hậu quả chênh lệch càng lớn và khó giải
quyết cho quá trình phát triển sau này . 17
Nhận thức vấn đề đó , do điều kiện thuận lợi Malaixia chú trọng
18
nhất thế giới và chính những người có trình độ học vấn cao đã là nhân tố cơ bản
giúp Hàn Quốc vượt bậc trong những năm gần đây. Như vậy , Hàn Quốc và
Malaixia coi giáo dục là yếu tố cơ bản cấu thành tăng trưởng.
4. Quan điểm của Đảng ta giải quyết mối quan hệ giữa chính sách
kinh tế với việc thực hiện các chính sách xã hội nhằm nâng cao đời
sống, đảm bảo phúc lợi xã hội cho người dân.
Đại hội X của Đảng ta đề ra mục tiêu : đưa nước ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển , nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
theo hướng hiện đại .
Nhiệm vụ chủ yếu của chúng ta là tập trung lực lượng , tranh thủ
thời cơ, vượt qua thử thách, đổi mới toàn diện, phát triển kinh tế đa
thành phần. Quan điểm của Đảng ta là phát triển nhanh và bền vững ,
tăng trưởng kinh tế đi đôi với việc thực hiện tiến bộ , công bằng xã
hội và bảo vệ môi trường. Cụ thể:
4.1. Phát huy cao độ mọi nguồn lực để phát triển nhanh và có hiệu
quả những sản phẩm , ngành , lĩnh vực mà ta có lợi thế , đáp ứng cơ
bản nhu cầu thiết yếu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu. Các vùng
kinh tế trọng điểm có tốc độ tăng trưởng nhanh, cao hơn mức bình
quân chung, đóng góp lớn vào tốc độ tăng trưởng của cả nước và lôi
kéo , hỗ trợ các vùng khác cùng phát triển . Tăng trưởng nhanh năng
suất lao động xã hội và nâng cao chất lượng tăng trưởng .
4.2. Thực hiện chính sách phát triển kinh tế, tăng trưởng nhanh năng
lực nội sinh về khoa học và công nghệ , đẩy mạnh giáo dục và đào tạo
, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ tốt yêu cầu công
nghiệp hoá , hiện đại hoá và từng bước tiếp cận với nền kinh tế tri
thức. Đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những ngành và lĩnh vực then

chuyển đổi cơ cấu kinh tế , cơ chế quản lý kinh tế xoá bỏ nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp . Sau 20 năm đổi mới nền
kinh tế đã có những chuyển biến rõ rệt .
Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 91-95 là 8,2% , 96-2000 là
6,7%, hiện nay là hơn 8% .Cơ cấu kinh tế có sự chuyển đổi : nếu như
năm 1990 tỉ trọng công nghiệp /GDP là 22,7% , nông nghiệp là 38,7%
, dịch vụ là 38,6% thì đến năm 2000 lần lượt là 36,9%, 24,2% , 38,9%,
tuy nhiên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. 20
Trong nông nghiệp sản lượng lúa tăng nhanh và vững chắc. Năm
1998 đạt 29,1 triệu tấn , tăng 4 triệu tấn so với năm 1995. Mức lương
thực đầu người từ 280 kg năm 1987 tăng lên 408 kg năm 1998. Năm
1998 , sản lượng lương thực cả nước đạt gần 34,25 triệu tấn , bảo đảm
an ninh lương thực tăng dự trữ và xuất khẩu. Năm 1999 , sản lượng
lương thực bình quân đầu người đạt 440 kg. Cùng với sản xuất lương
thực , các mặt hàng khác trong ngành trồng trọt , chăn nuôi đều có
mức tăng trưởng khá.
Trong công nghiệp , tăng trưởng bình quân 5,9% giai đoạn 86-
90 tăng lên 13,7% những năm 91-97 và 10,4% năm 1999. Các ngành
thương mại , dịch vụ , vận tải , y tế , giáo dục cũng có tốc độ tăng
trưởng cao. Đến nay chúng ta có thể khẳng định nền kinh tế nước ta đã
có sự phát triển mạnh mẽ, từng bước hội nhập thị trường quốc tế, đặc
biệt sau một năm gia nhập WTO, chúng đa đã đạt được hầu hết các chỉ
tiêu mà nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã đề ra ( Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ X).
1.2.Thực trạng thực hiện các chính sách xã hội .
1.2.1. Thực trạng về đói nghèo
Tổng số hộ đói nghèo năm 1998 là 2387050 hộ chiếm 15,7% tổng


22,44

27,84

5,50

570445

272160

500225

291815

171915

91400

22,39

8,38

24,62

17,80

25,65

4,75

Bảng 2 : Chỉ số phát triển theo vùng
Vùng Chỉ số
1.Miền núi phía Bắc
2.Đồng bằng sông Hồng
3.Bắc Trung Bộ
4.Duyên hải miền Trung
5.Tây Nguyên
6.Miền Đông Nam Bộ
7.Đồng bằng sông Cửu
Long
89
114
88
96
99
128
93

Chỉ số này cho thấy rõ sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các
vùng miền núi xa xôi hẻo lánh và kém phát triển ở phía Bắc và Bắc
Trung Bộ so với vùng miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng trù
phú.
Sự phân cực giàu nghèo ngày càng tăng. Theo kết quả điều tra mức
sống nhóm hộ có thu nhập cao so với nhóm hộ có thu nhập thấp chênh
nhau 7,3 lần năm 1996 và tăng lên 11,26 lần (năm 1998) . Hệ số chênh
lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn hiện nay khoảng 5-7 lần.


yếu là các đô thị ) bắt đầu giầu lên, có mức sống cao nhưng do thiếu
kiến thức dinh dưỡng cần thiết nên ăn theo những khẩu phần không
hợp lí . Tình hình vệ sinh thực phẩm ở nước ta đang ở mức báo động.
Việc sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật không theo đúng qui định
không những ảnh hưởng đến nền nông nghiệp phát triển bền vững mà
còn làm ô nhiễm nguồn nước và để lại dư lượng hoá chất độc hại trong
lương thực , thực phẩm. Nhiều loại thịt bán trên thị trường không qua
kiểm tra thú y . Việc sản xuất các loại thức ăn chế biến sẵn, sản xuất
các loại bánh kẹo , nước giải khát bung ra không kiểm soát nổi về
chất lượng.Các quầy hàng ăn uống mọc lên khắp nơi nhưng không bảo
đảm những tiêu chuẩn vệ sinh tối thiểu.
1.2.3.Thực trạng về văn hoá-giáo dục
Có thể nói giáo dục - đào tạo là một mắt khâu quan trọng trong
chiến lược phát triển KT-XH của đất nước, nó quyết định tốc độ và
chiều hướng phát triển trong việc thực hiện chiến lược ấy. Đánh giá về
vai trò của giáo dục -đào tạo, Nghị quyết TW2 (khoá VIII) khẳng định:
“Giáo dục đào tạo đã góp phần quan trọng nâng cao dân trí , đào tạo 24
đội ngũ lao động có trình độ học vấn tiểu học , trung học và đội ngũ
cán bộ đông đảo phục vụ các nhu cầu KT-XH và an ninh, quốc phòng.”
Qua 3 lần mở chiến dịch chống nạn mù chữ : lần 1 (1945-1954) có 10
triệu người được xoá mù chữ, lần 2(1955-1959) ở miền Bắc đã xoá
xong mù chữ,93% dân số từ 12- 50 tuổi biết đọc , biết viết, lần 3
(1975-1979), chủ yếu thực hiện ở miền Nam đã có 85% dân số trong
độ tuổi biết chữ. Năm 1989, giáo dục phổ thông đã thống nhất trong cả
nước bao gồm 12 năm. Một chương trình quốc gia về xoá mù chữ và
phổ cập giáo dục tiểu học được triển khai từ năm 1990.
Ngân sách dành cho giáo dục tăng từ 6,21%(năm 1985) lên 9,4%

không giảm mà lại có chiều hướng tăng lên. Khi các chi phí cho việc
học tập của con cái tăng, sự bao cấp của Nhà nước giảm , nhiều gia
đình không có tiền để đóng góp lại đông con, nên phải cho con bỏ học
, đặc biệt là các em gái. Hiện tượng bỏ học thường ở những năm
chuyển cấp. Theo niên giám thống kê 1992, số học sinh trong nước đã
giảm từ 13,3triệu(năm học 1986-1987) xuống còn 12,2 triệu(năm học
1989-1990), sau đó tăng lên 12,8 triệu(năm học 1991-1992) trong khi
dân số hàng năm tăng và số trẻ em đến tuổi đi học các cấp đều tăng.
Năm 1991 tỉ lệ bỏ học cấp I là 13,4%, cấp II là 32%. Các bậc cha mẹ
cũng mong muốn con cái được học tập, có trình độ văn hoá để có cuộc
sống đỡ khổ nhưng “lực bất tòng tâm”, họ không tạo được điều kiện,
thời gian cho con cái học tập được vì trình độ văn hóa bị hạn chế và
bận làm ăn, do đó các con cái của họ học kém , dốt, sẵn sàng bỏ học
làm việc nhà .Như vậy, trình độ học vấn của người dân nhìn chung
kém đi so với sự gia tăng dân số. Mặc dù đến năm 2007 số hộ nghèo
đã giảm nhờ chính sách xã hội của chúng ta thực hiện tương đối tốt.
Chúng ta đã phát động phòng trào ngày vì người nghèo, phong trào
xoá nhà dột nát …
1.2.4. Thực trạng vấn đề bất bình đẳng .
Thứ nhất, về bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn trên toàn
quốc. Với hơn 75% dân số sống ở nông thôn , tỉ trọng nông nghiệp
trong GDP cao và tỉ trọng sản phẩm nông nghiệp và khai khoáng
trong xuất khẩu cao, Việt Nam là một nước nông nghiệp với mức bất
bình đẳng ở nông thôn thấp và thấp hơn ở thành thị. Sự chênh lệch

Trích đoạn 1 Phát triển giáo dục-đào tạo 5 Chống tham nhũng, buôn lậu.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status