1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI NGUYỄN VĂN NĂM QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC
TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC
PHÁP QUYỀN VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI 2012
2
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là kết quả
nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu trong luận án là
trung thực, những kết luận khoa học của luận án là kết quả
của quá trình nghiên cứu độc lập và chƣa đƣợc ngƣời khác
công bố. Tháng 8 năm 2012
TÁC GIẢ LUẬN ÁN Nguyễn Văn Năm
4
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Điều chỉnh hành vi con người, xã hội có nhiều công cụ khác nhau, trong đó,
pháp luật và đạo đức là những công cụ quan trọng bậc nhất. Bên cạnh những ưu thế
trọng đạo lý, ứng xử theo đạo lý đã trở thành truyền thống của dân tộc. Truyền
5
thống đó ăn sâu, bám chắc trong tâm lý xã hội, nó cố kết chặt chẽ trong tư duy con
người. Có thể nói, trong điều kiện hiện nay ở nước ta, thói quen xử sự theo đạo lý
vẫn còn “ngự trị” trong lối sống của không ít người, ngược lại, thói quen xử sự theo
pháp luật vẫn chưa được hình thành. Trong điều kiện đó, việc xây dựng nhà nước
pháp quyền ở nước ta hiện nay gặp không ít khó khăn.
Qua mấy chục năm tiến hành công cuộc cải cách, xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đời sống xã hội đã có sự phát triển vượt bậc.
Tuy nhiên, cùng với nó, mặt trái của nền kinh tế thị trường và việc hợp tác, hội nhập
quốc tế cũng gây ra không ít phức tạp, đó là sự coi thường các giá trị truyền thống,
lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ, chạy theo đồng tiền, đặt vật chất, tiền bạc lên trên
hết, tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi cách… Sự xuống cấp của đạo đức xã hội đã gây
ra những hệ lụy to lớn, làm đảo lộn các giá trị của cuộc sống, cản trở sự phát triển
của xã hội, làm xã hội vận động, phát triển một cách không lành mạnh, thiếu vững
chắc.
Do vậy, phát triển kinh tế phải đi đôi với đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội,
giải quyết hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Phát triển kinh tế phải đi
đôi với xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giữ gìn và phát
huy các giá trị đạo đức truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Hiện nay, nước ta đang trong quá trình hợp tác, hội nhập sâu rộng vào đời
sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội quốc tế. Bản lĩnh, sự tự tin cũng như sự
thành công trong các quan hệ quốc tế phụ thuộc khá lớn vào nền tảng văn hóa
phong phú và đặc sắc của dân tộc. Mở cửa, hợp tác, hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng thì ảnh hưởng của điều kiện quốc tế đến đời sống kinh tế - xã hội trong nước
ngày càng lớn, trong đó, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, cũng có không ít
những ảnh hưởng tiêu cực. “Mở cửa ra, gió mát lùa vào thì ruồi muỗi cũng bay
vào”. Chính vì vậy, cần phải có những rào cản hữu hiệu để sàng lọc, tiếp thu, học
hỏi những tinh hoa văn hóa của các dân tộc, ngăn chặn sự ảnh hưởng của những
nói, tất cả các giáo trình đạo đức học của các cơ sở đào tạo chuyên ngành triết học
đều đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, vì giới hạn ở một giáo trình nên nhìn chung,
vấn đề này được đề cập một cách hết sức khái quát. Cũng có khá nhiều công trình
chuyên khảo chuyên sâu nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể ra một số công trình
tiêu biểu sau đây:
Cuốn Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện
nay là một công trình được biên soạn bởi một tập thể tác giả do GS.TS Nguyễn
Trọng Chuẩn và PGS.TS Nguyễn Văn Phúc đồng chủ biên. Công trình là tập hợp
các bài viết của các tác giả, đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó chủ yếu đề cập vai trò
của đạo đức trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường của nước ta, vấn đề giữ
gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, vấn đề xây dựng đạo đức trong bối
cảnh phát triển nền kinh tế thị trường. Cuốn Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của TS Trịnh Duy Huy đề cập một cách
cụ thể hơn về những giải pháp xây dựng đạo đức mới trong điều kiện kinh tế thị
7
trường ở nước ta hiện nay. Cuốn Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị
xã hội do GS.TSKH Huỳnh Khái Vinh chủ biên, đề cập các vấn đề về vai trò của lối
sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội đối với việc xây dựng con người, vấn đề kế thừa
và phát triển nếp sống, đạo đức và các giá trị truyền thống của dân tộc. Đặc biệt,
cuốn sách dành một phần quan trọng phân tích kinh nghiệm và bài học của một số
nước cho Việt Nam trong việc xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội.
Có thể nói, đây là những bài học quí báu cho Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
Cuốn Văn hóa đạo đức và tiến bộ xã hội do PGS Trường Lưu chủ biên, tiếp cận vấn
đề dưới góc độ văn hóa, cuốn sách đã dành những phần nhất định đề cập vấn đề đạo
đức, lối sống và vai trò của đạo đức trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Cùng
chung cách tiếp cận này có cuốn Văn hóa đạo đức, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
ở Việt Nam của PGS.TS Thành Duy. Cuốn Ảnh hưởng của đạo đức phong kiến
trong cán bộ lãnh đạo quản lý của Việt Nam hiện nay do TS Nguyễn Thế Kiệt chủ
biên, cuốn sách tập trung nhận diện những tàn dư của đạo đức phong kiến và ảnh
những vấn đề ảnh hưởng đến lối sống theo pháp luật ở nước ta hiện nay. Sách cũng
đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm xây dựng lối sống theo pháp luật ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay. Cuốn Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành
nhân cách con người của TS. Nguyễn Đình Đặng Lục, sách tập trung phân tích vai
trò của pháp luật trong việc hình thành nhân cách người chưa thành niên, qua đó
sách đề cập đến nội dung, hình thức, phương tiện giáo dục pháp luật cho người chưa
thành niên.
Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa pháp luật với
đạo đức, trong đó:
Một là: Các giáo trình luật học, đạo đức học
Có thể nói, các giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật của các cơ sở đào tạo
luật, giáo trình đạo đức học của các cơ sở đào tạo chuyên ngành triết học đều đề cập
tới vấn đề này. Tuy nhiên, hầu hết các giáo trình này đều chỉ đề cập vấn đề này một
cách rất khái quát, sơ lược.
Hai là: Các bài báo, tạp chí
Trên các tạp chí chuyên ngành như Nhà nước và pháp luật, Nghiên cứu lập
pháp, Luật học, Triết học có khá nhiều công trình của các tác giả đề cập tới vấn đề
này. Tác giả HoàngThị Kim Quế có hàng loạt bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa
pháp luật và đạo đức: Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức với việc điều chỉnh
hành vi con người trong quản lý xã hội (Tạp chí Đại học Quốc gia, chuyên đề khoa
học xã hội, số 4/1997); Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
trong hệ thống điều chỉnh xã hội (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/1999); Một
số suy nghĩ về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức (Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 3/2000); Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp pháp luật và đạo
đức (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8/2002); Vấn đề kết hợp quản lý xã hội bằng
pháp luật với giáo dục nâng cao đạo đức ở nước ta hiện nay (Tạp chí Triết học, số
12/2002); Những vấn đề hôm nay của pháp luật và đạo đức (Tạp chí Luật học số
7/2006) Tác giả Trần Hậu Thành có bài viết Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp
9
truyền thống ở nước ta hiện nay Tác giả cũng đề xuất nhiều giải pháp nhằm bảo
lưu các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, do giới hạn ở phạm vi một công trình nghiên cứu
khoa học cấp cơ sở nên công trình này còn nhiều hạn chế: một là, công trình chỉ tiếp
cận một khía cạnh rất hẹp của mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức như tên của
10
công trình đã chỉ rõ; hai là, sự luận giải về sự cần thiết phải bảo lưu các giá trị đạo
đức truyền thống chưa sâu sắc, bởi vậy, sẽ là khó thuyết phục khi tác giả muốn luật
hóa tất cả các giá trị đạo đức truyền thống; ba là, phương pháp, cách thức bảo lưu
các giá trị đạo đức truyền thống; các giải pháp nhằm bảo lưu các giá trị đạo đức
truyền thống trong công trình nhìn chung là còn khá đơn giản.
Tại Trường đại học Luật Hà Nội cũng có hai công trình nghiên cứu khoa học
cấp trường, đó là công trình của TS Nguyễn Minh Đoan với đề tài Những nguyên
tắc của hệ thống pháp luật Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập, trong đó có đề
cập nhóm nguyên tắc đạo đức; công trình của TS Nguyễn Quốc Hoàn với đề tài
Hành vi pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, trong đó có đề cập sự tương
quan giữa hành vi pháp luật và hành vi đạo đức
Cũng cần phải kể đến đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp Tập quán và
thực tiễn xét xử trong mối quan hệ với hệ thống pháp luật và thực tiễn pháp luật. Đề
tài được thực hiện bởi các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành khoa học pháp
lý. Để thực hiện đề tài này, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp có
chuyên đề thông tin khoa học Mối quan hệ giữa tập tục và pháp luật. Chuyên đề tập
hợp bài viết của các tác giả là những người làm công tác thực tiễn tại các địa
phương. Chuyên đề cung cấp những thông tin về thực tiễn áp dụng tập quán trong
quá trình giải quyết các vụ việc cụ thể xảy ra trong thực tế. Các công trình này tuy
không trực tiếp đề cập đến mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức, nhưng ít nhiều
nó đều có liên quan đến đề tài, bởi tập quán và đạo đức luôn có sự chồng lấn rất
đáng kể, rất nhiều tập quán trong đời sống hàng ngày là các tập quán đạo đức.
Bốn là: Các đề tài luận văn, luận án
văn thạc sĩ Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức ở Việt Nam hiện nay của
Nguyễn Văn Năm đã bảo vệ tại trường Đại học Luật Hà Nội năm 2003.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí
Minh có luận văn thạc sĩ của Lương Hồng Quang với đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh
về kết hợp pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội (Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, 2002), luận văn thạc sĩ của Tạ Thị Thu Đông với đề tài Tư tưởng Hồ
Chí Minh về đạo đức và pháp luật (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010). Những đề tài
nàyđề cập một cách khá sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức và
pháp luật; mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Các
luận văn đều phân tích khá sâu sắc các quan điểm, tư tưởng của Hồ Chủ tịch và
khẳng định, đạo đức là gốc, là cơ sở để xây dựng pháp luật tiến bộ, là nhân tố đảm
bảo việc thực hiện pháp luật, là công cụ hỗ trợ cho pháp luật trong việc giữ gìn trật
xã hội, thuần phong mỹ tục của dân tộc; ngược lại, pháp luật cũng có tác động mạnh
mẽ đến đạo đức. Pháp luật ghi nhận và đảm bảo về mặt pháp lý các chuẩn mực đạo
đức, là công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho cái thiện đấu tranh thắng cái ác, tạo điều kiện để
các giá trị đạo đức phát triển bền vững. Chính vì vậy, luận văn khẳng định, cần phải
có sự kết hợp chặt chẽ giữa pháp luật với đạo đức trong quản lý xã hội. Có thể nói,
các luận văn đều đã đề cập trực diện nhiều khía cạnh trong mối quan hệ giữa pháp
luật với đạo đức. Tuy nhiên, vì giới hạn nghiên cứu trong phạm vi tư tưởng Hồ Chí
12
Minh nên không có điều kiện giải quyết một cách toàn diện mọi khía cạnh của mối
quan hệ này, nhiều vấn đề tác giả có đề cập, nhưng phân tích chưa thực sự sâu sắc.
Cũng cần kể đến luận văn thạc sĩ của Bùi Sĩ Hoàn với đề tài Mối quan hệ
giữa pháp luật với phong tục tập quán; luận án tiến sĩ của Trương Tiến Hưng với
đề tài Vận dụng luật tục dân tộc Chăm trong quản lý người Chăm của chính quyền
cơ sở ở tỉnh Ninh Thuận. Những công trình này tuy không trực tiếp giải quyết vấn
đề quan hệ giữa pháp luật với đạo đức, tuy nhiên, như vừa đề cập, giữa pháp luật,
đạo đức và tập quán luôn có sự chồng lấn với nhau, bởi vậy, thông qua sự tác động
qua lại giữa pháp luật với tập quán, luật tục, chúng ta cũng có thể hình dung phần
học, cuốn sách hầu như không đề cập một cách cụ thể vai trò của đạo đức và pháp
luật trong quản lý xã hội. Cuốn sách hầu như không cung cấp cho bạn đọc những
thông tin về sự giống, khác nhau cũng như sự tương tác giữa pháp luật với đạo đức.
Tác giả Phan Văn Tỉnh cũng có công trình nghiên cứu Đạo đức truyền thống của
dân tộc là môi trường thuận lợi của việc thực hiện pháp luật trong sách Xã hội và
pháp luật. Công trình tiếp cận vấn đề trên khía cạnh vai trò của đạo đức truyền
thống trong việc đảm bảo cho pháp luật được thực hiện trong cuộc sống.
Nghiên cứu đề tài này, tác giả không thể không tìm đến công trình của
PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế: “Pháp luật và đạo đức” do Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia ấn hành năm 2007. Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu khá đồ sộ về
pháp luật, đạo đức cũng như mối quan hệ giữa chúng. Với dung lượng hơn 500
trang sách, công trình đã đề cập một cách khá toàn diện các vấn đề như vị trí, vai trò
của pháp luật và đạo đức trong hệ thống công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội; sự
thống nhất, sự khác biệt và sự tác động qua lại giữa pháp luật và đạo đức. Công
trình nghiên cứu cũng giới thiệu cho người đọc những nội dung cơ bản trong tư
tưởng pháp luật và đạo đức ở phương Đông, phương Tây. Cuốn sách cũng giới
thiệu với bạn đọc thực trạng đạo đức, pháp luật trong điều kiện nền kinh tế thị
trường ở nước ta hiện nay. Qua đó, cuốn sách đề xuất nhiều giải pháp nhằm tăng
cường quản lý xã hội bằng pháp luật kết hợp giáo dục thực hành đạo đức trong điều
kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đọc sách, chúng ta
thấy tác giả đề cập khá toàn diện các vấn đề xung quanh mối quan hệ giữa pháp luật
với đạo đức. Tuy nhiên, nhiều vấn đề tác giả đề cập ở mức độ chung, mang tính
khái quát. Chẳng hạn, vai trò của pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội được tác
giả đề cập một cách tương đối khái quát mà chưa đi sâu phân tích từng vai trò cụ
thể của chúng. Một số khía cạnh trong sự tương đồng, khác biệt, hay sự tác động
qua lại giữa pháp luật với đạo đức cũng chưa được tác giả phân tích chi tiết. Đặc
biệt, tác giả không luận giải các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, nhận thức
của con người ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức, chính vì
vậy, không có cơ sở để phân tích mối quan hệ này trong điều kiện cụ thể xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay. Công trình cũng chưa có sự khảo sát,
- Phân tích vai trò của pháp luật và đạo đức; phân tích một cách toàn diện
những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật và đạo đức;
- Phân tích sự tác động qua lại giữa pháp luật và đạo đức; những yếu tố ảnh
hưởng đến mối quan hệ giữa chúng, đặc biệt sự ảnh hưởng của việc xây dựng nhà
nước pháp quyền ở Việt Nam đến mối quan hệ giữa chúng.
- Nghiên cứu thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong điều
kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, chỉ rõ những điểm tích
cực cần phát huy, đồng thời chỉ rõ những hạn chế, khiếm khuyết của mối quan hệ
này cũng như những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó.
15
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp kết hợp pháp luật và đạo đức nhằm nâng
cao hiệu quả điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước
pháp quyền Việt Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của một luận án tiến sĩ, đề tài giới hạn nghiên cứu trong
phạm vi sau đây:
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức trong phạm vi không
gian ở Việt Nam, có lưu ý đến việc tiếp thu kinh nghiệm xử lý mối quan hệ này ở
một số nước trên thế giới.
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức trong điều kiện xây
dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
- Nghiên cứu thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức trong thời
gian từ sau khi tiến hành đổi mới, đặc biệt từ sau khi có sự sửa đổi, bổ sung một số
điều của Hiến pháp năm 1992 về việc xây dựng nhà nước pháp quyền, có lưu ý đến
việc tiếp thu kinh nghiệm xử lý mối quan hệ này trong lịch sử dân tộc.
1.4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa
Mác- Lênin, vận dụng triệt để các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử như quan điểm về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với
pháp luật và đạo đức trong đời sống xã hội.
- Hai là, xây dựng được khái niệm quan hệ giữa pháp luật và đạo đức; phân tích sâu
sắc bản chất, hình thức, phương pháp thể hiện và xu hướng vận động của mối quan
hệ giữa chúng.
- Ba là, luận giải những ảnh hưởng của việc xây dựng nhà nước pháp quyền đến
mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức ở Việt Nam cũng như chỉ rõ những đặc điểm
cơ bản của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong điều kiện xây dựng nhà
nước pháp quyền Việt Nam hiện nay.
- Bốn là, phân tích một cách sâu sắc và toàn diện những thành tựu cũng như hạn
chế của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức ở nước ta hiện nay. Luận án là công
trình quán xuyến toàn bộ thực trạng quan hệ giữa pháp luật và đạo đức ở nước ta
hiện nay.
- Năm là, đề xuất được những quan điểm cơ bản chỉ đạo việc kết hợp pháp luật và
đạo đức, cũng như những giải pháp rất thiết thực và khả thi nhằm kết hợp chặt chẽ
pháp luật và đạo đức để quản lý xã hội trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp
quyền Việt Nam. Các giải pháp được đề xuất không chỉ có ý nghĩa trong giai đoạn
hiện nay mà còn có ý nghĩa sâu sắc về lâu dài như: đổi mới nhận thức vai trò của
pháp luật và đạo đức; tiếp thu kinh nghiệm của dân tộc và các nước; đổi mới tư duy
xây dựng pháp luật; thay đổi tư duy về một số biện pháp chế tài; coi trọng việc xây
dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; lồng ghép giáo dục pháp luật, đạo đức trong
gia đình, nhà trường; tăng cường công tác hòa giải ở cơ sở; coi trọng khía cạnh giáo
dục cải tạo khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước…
1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện và làm sâu sắc
những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức, qua đó góp phần
17
phát triển, hoàn thiện những tri thức lý luận về nhà nước pháp luật nói riêng, Luật
học, Đạo đức học nói chung
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu và giảng dạy
xã hội cơ bản, quan trọng, chủ yếu của đời sống xã hội mà còn có tác động mạnh
mẽ đến cả các công cụ điều chỉnh khác. Để tìm hiểu mối quan hệ giữa pháp luật với
đạo đức, trước hết cần làm sáng tỏ vai trò của từng yếu tố trong đời sống xã hội.
2.1. Pháp luật và vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội
Pháp luật đã xuất hiện và tồn tại trong đời sống xã hội từ hàng nghìn năm,
tuy nhiên, qua các thời kỳ lịch sử, do điều kiện, hoàn cảnh, năng lực nhận thức, nhu
cầu, mục đích, lợi ích… khác nhau, nên nhận thức về pháp luật không hoàn toàn
thống nhất.
Trong lịch sử, trên thế giới đã từng tồn tại nhiều trường phái quan điểm khác
nhau về pháp luật như trường phái pháp luật tự nhiên, trường phái pháp luật thực
định, trường phái xã hội học pháp luật… Bên cạnh những luận điểm hợp lý, có giá
trị, các trường phái này đều chưa thoát khỏi những vướng mắc, hạn chế nhất định.
Cũng như ở các nước trên thế giới, ở Việt Nam hiện nay, pháp luật được hiểu theo
nhiều nghĩa khác nhau. Theo nghĩa hẹp, pháp luật thường được hiểu là hệ thống qui
tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan
hệ xã hội [113, tr.66; 51, tr.288]. Đây là cách hiểu đã trở thành truyền thống và hết
sức phổ biến trong các cơ sở đào tạo, nghiên cứu luật học ở Việt Nam cho đến thời
điểm hiện nay. Mở rộng hơn, pháp luật được hiểu là “tổng thể các qui tắc xử sự và
các nguyên tắc, định hướng, mục đích pháp luật, do các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và phản ánh
những nhu cầu xã hội khách quan, điển hình, phổ biến để điều chỉnh các quan hệ xã
hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội” [102, tr.11]. Như vậy, theo những
cách hiểu này, pháp luật được hiểu đồng nhất với pháp luật thực định, pháp luật đó
là những gì do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội, quản lý xã hội.
Tuy nhiên, “pháp luật hiện hành (thực định) chỉ là một phần và thường là xơ cứng;
hoạt động của các nhà lập pháp và của thẩm phán cũng là những sự kiện xã hội và
án lệ là một bộ phận quan trọng của pháp luật” [102, tr.6].
19
Thiết nghĩ, trong điều kiện ngày nay, nghiên cứu về pháp luật cần phải tiếp
thể tránh khỏi. Xã hội trở thành bấn loạn, đạo đức, phong tục tập quán, tín điều tôn
giáo… không còn phát huy vai trò giữ gìn ổn định, trật tự xã hội như trước kia.
Trong bối cảnh đó, pháp luật với những ưu thế riêng có của nó đã từng bước xuất
hiện, đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội. Pháp luật xuất hiện một cách hoàn
20
toàn khách quan, sự ra đời của pháp luật hoàn toàn là một quá trình lịch sử tự nhiên.
Nó ra đời và tồn tại là do yêu cầu, đòi hỏi tự thân của đời sống xã hội, khi xã hội đã
vượt qua thời đại mông muội, dã man, bước vào thời đại văn minh. Sự ra đời và tồn
tại của pháp luật trong điều kiện đạo đức, phong tục tập quán, các qui phạm xã hội
khác vẫn song song tồn tại, điều đó chứng tỏ sự cần thiết của nó đối với đời sống xã
hội, chứng tỏ pháp luật là công cụ không thể thiếu [26, tr.7], công cụ quan trọng
nhất trong quản lý xã hội. Đặc biệt, trong điều kiện đời sống xã hội ngày càng trở
nên phức tạp, các mối quan hệ xã hội ngày càng trở nên đa dạng thì sự tồn tại của
pháp luật càng trở nên cần thiết, tất yếu. “Một nhà nước không thể để một ngày
không có pháp luật” [72, tr.159], bởi vì, nếu tình trạng không có pháp luật xảy ra,
chắc chắn xã hội sẽ trở thành hỗn loạn.
Với tính cách là công cụ điều chỉnh hành vi con người, điều chỉnh các mối
quan hệ xã hội, quản lý xã hội, pháp luật thể hiện những vai trò nổi bật sau đây:
Một là, pháp luật là công cụ để thiết lập và tăng cường quyền lực nhà nước,
công cụ tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước.
Trước hết, pháp luật tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc cho sự tồn tại của nhà
nước. Sự hợp pháp tạo ra cho chính quyền một sự “chính danh”, tạo ra thế và lực
cho nhà nước, tạo cho nhà nước tư cách và khả năng cai quản xã hội. Sự hợp pháp
không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân chính quyền mà còn có ý nghĩa chi phối
mạnh mẽ đối với cả những lực lượng chống đối chính quyền, nhiều khi nó còn có
khả năng ngăn cản các âm mưu chính biến. Bởi vì, chính quyền giành được bằng
các biện pháp trái pháp luật là không “chính danh”, một khi “danh bất chính” sẽ dẫn
đến “ngôn bất thuận”, chính quyền đó khó có thể đủ tư cách cai quản xã hội. Chính
vì vậy, ngay từ hàng nghìn năm trước, các chính quyền nhà nước cho dù được tạo
nhất.
Pháp luật là cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Để bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ, có hiệu lực, hiệu quả thì nó
cần phải được tổ chức và hoạt động trên cơ sở của pháp luật và trong khuôn khổ của
pháp luật. Có thể nói, pháp luật là công cụ quan trọng nhất để tổ chức bộ máy nhà
nước, qui định con đường hình thành, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ quyền
hạn của các cơ quan, nhân viên nhà nước, xác lập mối quan hệ công tác giữa các cơ
quan, nhân viên nhà nước với nhau, giữa cơ quan, nhân viên nhà nước với các cá
nhân, tổ chức trong xã hội… Nhờ có pháp luật, việc tổ chức bộ máy nhà nước trở
nên khoa học, bộ máy nhà nước trở nên nhịp nhàng, đồng bộ, tránh được sự chồng
chéo, trùng lặp hoặc bỏ trống trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Đồng thời, pháp luật là công cụ để nhà nước tổ chức và quản lý các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội. Quản lý xã hội là công việc khó khăn, phức tạp, đòi
hỏi phải được thực hiện trên cơ sở một hệ thống thể chế rõ ràng, minh bạch. Dưới
góc độ này, pháp luật thiết lập khuôn khổ, giới hạn cho hoạt động của bộ máy nhà
nước, thiết lập hình thức, phương pháp, nguyên tắc, cách thức hoạt động, giúp cho
các cơ quan, nhân viên nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội một cách dễ
dàng, có hiệu quả.
22
Pháp luật là cơ sở để xây dựng bộ máy công chức, viên chức, nhân viên nhà
nước “vừa hồng, vừa chuyên”. Bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh là ở đội
ngũ nhân viên nhà nước trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất tốt, có năng lực, có
kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ. Bằng các qui định cụ thể, pháp luật xác định rõ
quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cán bộ, nhân viên nhà nước, xác định rõ nghĩa
vụ, bổn phận của họ. Qua đó, pháp luật thể hiện vai trò quan trọng trong việc giáo
dục ý thức trách nhiệm, tinh thần, thái độ của đội ngũ cán bộ, nhân viên nhà nước
trong quá trình thực thi công vụ. Pháp luật là cơ sở để mỗi cán bộ, nhân viên nhà
nước rèn luyện ý thức pháp luật, xây dựng lối sống theo pháp luật, ý thức thượng
tôn pháp luật, tinh thần “phụng công thủ pháp”. Mặt khác, pháp luật là động lực
ta tư tưởng các cơ quan, nhân viên công quyền chỉ được làm những gì mà pháp luật
cho phép cần phải được thể chế hóa thành một nguyên tắc pháp luật. Thông qua
pháp luật, có thể dễ dàng kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan, nhân viên
nhà nước, xác định được tính chất hợp pháp, bất hợp pháp trong hành vi của họ.
Pháp luật qui định chế độ kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan trong bộ
máy nhà nước. Pháp luật qui định vai trò của công dân và các thiết chế xã hội trong
việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhân viên nhà nước… Pháp luật qui
định quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân, quyền tự do ngôn luận, tự do
báo chí, miting, biểu tình, lập hội…, quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi lạm
quyền, xâm hại quyền lợi của nhân dân. Pháp luật qui định chế độ trách nhiệm giữa
các cơ quan nhà nước với nhau cũng như giữa chúng với nhân dân. Pháp luật qui
định các biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với hành vi lạm quyền, tha hóa… của
các cơ quan, nhân viên công quyền. Dựa vào pháp luật có thể đánh giá khả năng
hoàn thành nhiệm vụ, qui kết tình trạng trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ
hay lạm quyền, vượt quyền trong hành vi của nhà chức trách, nhờ đó có điều kiện
để ngăn chặn, giảm thiểu, xóa bỏ những hiện tượng này. Pháp luật qui định thời
gian nắm giữ quyền hạn, chức vụ; pháp luật qui định điều kiện tuyển dụng, phẩm
chất tư cách của nhân viên nhà nước, chế độ thi cử, thăng, giáng, khảo hạch, thuyên
chuyển, điều động… đối với họ. Như vậy, một mặt, pháp luật tạo nên khung pháp
lý, hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, mặt khác,
pháp luật là công cụ quan trọng để giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước.
Hai là, pháp luật là khuôn mẫu ứng xử của mọi cá nhân, tổ chức trong xã
hội.
Con người, trong đời sống xã hội luôn có những nhu cầu, lợi ích, mục đích
nhất định. Để thoả mãn nhu cầu, lợi ích của mình, mỗi chủ thể có những phương
pháp, cách thức riêng. Trong cùng một điều kiện hoàn cảnh, các chủ thể xử sự
không giống nhau, trong đó có những xử sự phù hợp với yêu cầu của xã hội, nhưng
cũng có những xử sự làm tổn hại tới lợi ích của chủ thể khác, đi ngược lại mong
muốn chung của cộng đồng, gây mất ổn định, trật tự xã hội. Chính vì vậy, để xã hội
tồn tại trong ổn định, trật tự, các quyền, lợi ích của các thành viên trong cộng đồng
Với tính chất công khai của mình, một khi pháp luật đã được công bố, bắt
buộc các thành viên trong xã hội phải nắm bắt được chúng. Mặt khác, chính yêu cầu
của đời sống buộc con người phải có những tri thức nhất định về pháp luật, đồng
thời nhờ tham gia vào đời sống mà con người dần dần tích lũy được các tri thức
pháp luật. Vì vậy, có thể nói rằng, pháp luật vừa là cơ sở, vừa là động lực, vừa là
mục đích của nhận thức pháp luật. Với tính cách là hệ thống qui tắc xử sự, pháp luật
cung cấp cho chủ thể tri thức về cách thức ứng xử khi họ ở trong hoàn cảnh, tình
huống nào đó. Thông qua các qui định trong pháp luật hiện hành, các cá nhân, tổ
25
chức trong xã hội biết mình được làm gì, không được làm gì, phải làm gì, phải làm
như thế nào, hậu quả phải gánh chịu như thế nào khi làm trái điều đó. Thông qua
pháp luật, thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua giao tiếp hàng ngày, người ta
biết được như thế nào là hợp pháp, như thế nào là trái pháp luật. Nói cách khác, hệ
thống pháp luật thực định là chất liệu cũng như nội dung quan trọng của tri thức
pháp luật.
Pháp luật là cơ sở hình thành ý thức tuân thủ pháp luật, thái độ tôn trọng
pháp luật, sống và làm việc theo pháp luật. Bằng việc qui định các biện pháp cưỡng
chế nhà nước, pháp luật tạo ra một “chướng ngại vật” có sức cản trở mạnh mẽ đối
với những chủ thể thực hiện pháp luật không nghiêm chỉnh. Qua đó, pháp luật tạo ra
động lực thúc đẩy việc hình thành thói quen suy nghĩ và hành động hợp pháp, hình
thành lối sống theo pháp luật ở mỗi người. Tất nhiên, “ý nghĩa giáo dục còn thể
hiện ở việc pháp luật qui định những hình thức và mức độ khen thưởng, khuyến
khích vật chất và tinh thần đối với những thành viên có nhiều cống hiến cho nhà
nước và xã hội” [113, tr.345].
Như vậy, bản thân pháp luật tự nó có vai trò giáo dục, hoạt động giáo dục
pháp luật chẳng qua chỉ là nhằm phát huy và làm sâu sắc thêm ý nghĩa giáo dục vốn
có của pháp luật mà thôi. Chính nhờ vai trò này mà bản thân pháp luật, trong nhiều
trường hợp có được sự tuân thủ khá nghiêm chỉnh, bởi vậy, vai trò giáo dục của
pháp luật có ý nghĩa to lớn.