đại học quốc gia hà nội
khoa luật
hà thị tuyến phổ biến pháp luật cho ng-ời nông dân nông thôn
và đồng bào dân tộc thiểu số trong điều kiện
xây dựng nhà n-ớc pháp quyền luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2011
HÀ NỘI - 2011 MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI NÔNG DÂN NÔNG THÔN
VÀ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA
nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta
25
1.2.2.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng
bào dân tộc thiểu số
35
1.3.
Vị trí, vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
trong thời kỳ xây dựng nhà nước pháp quyền
38
Chương 2: THỰC TRẠNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO NGƯỜI NÔNG DÂN NÔNG THÔN VÀ ĐỒNG
BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
45
2.1.
Đặc điểm điều kiện Chính trị- kinh tế- xã hội đối với công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người nông dân nông
thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta
45
2.2.
Thực trạng công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho người
nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta
trong thời gian qua
53
2.2.1.
Thực trạng về công tác giáo dục pháp luật cho người nông
dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số
53
3.2.1.
Xây dựng, hoàn thiện thể chế về công tác tuyên truyền, phổ
biến pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng bào
dân tộc thiểu số
85
3.2.2.
Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ
biến pháp luật
86
3.2.3.
Phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ, thực hiện nghiêm
túc giáo dục công dân trong nhà trường
89
3.2.4.
Đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cho công tác tuyên truyền,
phổ biến pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng
bào dân tộc thiểu số
90
3.2.5.
Phát huy sức mạnh, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác tuyên truyền,
phổ biến pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng
bào dân tộc thiểu số
90
3.2.6.
Kiểm tra, giám sát; định kỳ sơ kết, tổng kết việc tổ chức
thực hiện kế hoạch
91
3.3.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo
3.3.8.
Phổ biến giáo dục pháp luật thông qua trợ giúp pháp lý
112
3.3.9.
Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua việc xây dựng tủ
sách pháp luật ở cơ sở
113
KẾT LUẬN
117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
120
PHỤ LỤC
123 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GDPL
: Giáo dục pháp luật
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) là một trong những công tác
quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt là thời kỳ xây dựng nhà nƣớc pháp
quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN). PBGDPL là chiếc cầu nối và là phƣơng tiện
không thể thiếu trong việc nâng cao tri thức pháp luật, ý thức tôn trọng, chấp
hành pháp luật của mọi tầng lớp nhân dân.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng pháp luật trong quản lý
nhà nƣớc và xã hội, mặt khác Ngƣời quan tâm đặc biệt đến giáo dục ý thức
tiến bộ cho nhân dân trong đó bao gồm ý thức về pháp luật, Ngƣời kêu gọi:
"Mọi ngƣời dân Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của
mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công việc xây dựng nhà
nƣớc". Ngƣời cũng cho rằng chấp hành pháp luật là nghĩa vụ cao cả của công
dân và đòi hỏi công dân phải cùng nhau ra sức giữ gìn trật tự, tuyệt đối tuân
theo mệnh lệnh của Chính phủ.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V chỉ rõ: "Các cấp ủy đảng, các cơ
quan nhà nƣớc, các đoàn thể phải thƣờng xuyên giải thích pháp luật trong các
tầng lớp nhân dân, đƣa việc giáo dục pháp luật vào các trƣờng học, các cấp
học, xây dựng ý thức sống có pháp luật và tôn trọng pháp luật" [10]. Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI - Đại hội của đƣờng lối đổi mới toàn diện đất nƣớc
khẳng định rõ vai trò của công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật (GDPL):
Coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp
luật, đƣa việc dạy pháp luật vào hệ thống các trƣờng của Đảng, của
Nhà nƣớc để kể cả các trƣờng phổ thông, đại học, của các đoàn thể
nhân dân. Cán bộ quán lý các cấp từ trung ƣơng đến đơn vị cơ sở
phải có kiến thức pháp luật, cần sử dụng nhiều hình thức và biện
2
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân".
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực và thành tựu đã đạt đƣợc,
công tác PBGDPL cũng còn nhiều tồn tại, hạn chế nhƣ: Đội ngũ cán bộ làm
công tác này còn hạn chế, nội dung tuyên truyền chƣa đầy đủ, hình thức,
phƣơng pháp tuyên truyền chƣa mang lại hiệu quả cao. Vì vậy, việc nghiên
cứu đề tài, "Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân nông
thôn và đồng bào dân tộc thiểu số", mang tính cấp thiết, không những về lý
luận, mà còn là đòi hỏi của thực tiễn hiện nay. Đặc biệt là trong giai đoạn
nƣớc ta đang có chủ trƣơng xây dựng nhà nƣớc pháp quyền XHCN, xây dựng
nông thôn mới cho vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số.
Là ngƣời trực tiếp tham gia công tác tuyên truyền PBGDPL cho ngƣời
dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ngay từ khi đƣợc tuyển dụng vào
Phòng Tƣ pháp UBND huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở các kiến
thức tiếp thu đƣợc trong quá trình theo học khóa đào tạo cao học luật, tôi chọn
đề tài "Phổ biến pháp luật cho người nông dân nông thôn và đồng bào dân
tộc thiểu số trong xây điều kiện dựng nhà nước pháp quyền" làm luận văn
tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong nhiều năm qua, nghiªn cøu vò công tác tuyên truyền,
PBGDPL cũng ®· cã nhiÒu tµi liÖu, c«ng tr×nh nghiªn
cøu. Ch¼ng h¹n nh-:
- "Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật", Nxb
Văn hóa dân tộc, do Bộ Tƣ pháp - Chƣơng trình phát triển Liên hợp quốc,
- "Tăng cường năng lực pháp luật tại Việt Nam- giai đoạn 2", Dự án
VIE/98/001 năm 2005;
4
- "H-íng dén nghiÖp vô phæ biÕn, gi¸o dôc ph¸p
luËt", do Nhµ xuÊt b¶n T- ph¸p, Hµ Néi Ên hµnh n¨m
2006;
- "Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ
niệm và lý thuyết về công tác này, hoặc nếu có thì chỉ nghiên cứu trong một
phạm vi địa phƣơng nhất định mà chƣa bao quát đƣợc thực trạng về
PBGDPL cho ngƣời dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số trong phạm
vi cả nƣớc. Do đó việc nghiên cứu về vấn đề về tuyên truyền, PBGDPL cho
ngƣời dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nƣớc ta là rất cần thiết.
Điều này sẽ đƣợc đề cập một cách thấu đáo trong luận văn ở những chƣơng
tiếp theo.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn công tác tuyên
truyền, PBGDPL cho ngƣời dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số để đề
xuất những giải pháp mang tính hệ thống, đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả
của công tác này.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt đƣợc mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các
nhiệm vụ sau:
6
- Làm rõ các khái niệm, các đặc điểm, mục đích và yêu cầu của công
tác tuyên truyền, PBGDPL nói chung và đặc trƣng của công tác tuyên truyền
PBGDPL cho ngƣời dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số.
- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng, nguyên nhân công tác tuyên
truyền, PBGDPL cho ngƣời dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này.
3.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu vấn đề: "Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật cho người nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số trong xây
dựng nhà nước pháp quyền".
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho
ngƣời nông dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nƣớc ta hiện nay.
Chương 2: Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngƣời nông
dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số ở nƣớc ta hiện nay,
8
Chương 3: Phƣơng hƣớng và các giải pháp cơ bản của việc tăng
cƣờng phổ biến giáo dục pháp luật cho ngƣời nông dân nông thôn và đồng
bào dân tộc thiểu số ở nƣớc ta.
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO NGƢỜI NÔNG DÂN NÔNG THÔN VÀ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
1.1. Những khái niệm cơ bản về phổ biến, giáo dục pháp luật
1.1.1. Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật
PBGDPL là một từ ghép hai từ phổ biến pháp luật và GDPL.
Phổ biến pháp luật có hai nghĩa:
- Nghĩa hẹp: Là giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho đối tƣợng
của nó.
- Nghĩa rộng: Là truyền bá pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân trên cả
nƣớc. Trong các văn bản của ta, nghĩa này đƣợc sử dụng nhiều hơn nghĩa hẹp.
Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng
cao tri thức pháp luật cho đối tƣợng và bằng mọi cách (Thuyết phục, nêu
gƣơng, ám thị…) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tƣợng, từ đó
nâng cao ý thức pháp tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật
và nắm bắt xuất phát từ nhu cầu học tập, nghiên cứu hay từ nhu cầu sản xuất
kinh doanh của họ. Những ngƣời này luôn theo sát những quy định pháp luật
mới ban hành để phục vụ trực tiếp cho công việc của mình, nhƣng số lƣợng
đối này không phải là nhiều. Trong điều kiện trình độ dân trí còn chƣa cao,
chƣa đồng đều, đời sống kinh tế của đa số nhân dân còn gặp nhiều khó khăn
11
cho nên các đối tƣợng nằm trong sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật,
nghĩa là số đông nhân dân lao động trong xã hội chƣa có điều kiện tiếp cận
với pháp luật.
PBGDPL chính là phƣơng tiện truyền tải những thông tin, những yêu
cầu, nội dung và các quy định pháp luật đến với ngƣời dân, giúp cho ngƣời
dân hiểu biết, nắm bắt pháp luật kịp thời mà không mất quá nhiều thời gian,
công sức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập. Đó chính là phƣơng tiện hỗ trợ tích
cực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho nhân dân.
- Hình thành lòng tin vào pháp luật cho đối tượng
Pháp luật chỉ có thể đƣợc mọi ngƣời thực hiện nghiêm chỉnh khi họ tin
tƣởng vào những quy định của pháp luật. Pháp luật đƣợc xây dựng là để bảo
vệ cho quyền và lợi ích của nhân dân, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng,
đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội. Khi nào ngƣời dân nhận thức đầy đủ
đƣợc nhƣ vậy thì pháp luật không cần một biện pháp cƣỡng chế nào mà mọi
ngƣời vẫn tự giác thực hiện.
Tạo lập niềm tin vào pháp luật và cho mỗi ngƣời và cả cộng đồng đòi
hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố. Một trong những yếu tố đóng vai trò quan
trọng là PBGDPL để mọi ngƣời hiểu biết về pháp luật, hiểu biết về quá trình
thực hiện và áp dụng pháp luật, tuyên truyền về những mặt thuận lợi và khó
khăn phức tạp của việc thực hiện và áp dụng pháp luật, những mặt ƣu điểm và
hạn chế của quá trình điều chỉnh pháp luật.
Pháp luật cũng nhƣ mọi hiện tƣợng khác trong xã hội bao giờ cũng có
hai mặt, không phải lúc nào nó cũng thỏa mãn hết, phản ánh hết, phản ánh
đƣợc đầy đủ nguyện vọng, mong muốn của tất cả mọi ngƣời trong xã hội.
nƣớc và pháp luật nhƣ: vai trò, vị trí, chức năng pháp luật, cách thức xây
dựng, kỹ thuật xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật; quan điểm về các
loại nguồn pháp luật; các quyền và nghĩa vụ pháp lý…
13
Giữa tâm lý pháp luật và tƣ tƣởng pháp luật có mối quan hệ biện chứng,
phụ thuộc, tác động lẫn nhau. So với tƣ tƣởng pháp luật, tâm lý pháp luật là bộ
phận bền vững hơn, bảo thủ hơn. Đồng thời tâm lý pháp luật dƣới sự tác động
của đời sống xã hội cũng dao động, trong nhiều trƣờng hợp lại thay đổi dễ dàng,
nhanh chóng, chỉ có điều thay đổi theo hƣớng nào, tích cực hay tiêu cực.
PBGDPL không đơn thuần là tuyên truyền các văn bản pháp luật đang
có hiệu lực mà còn phải lên án các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời ủng
hộ, khuyến khích các hành vi thực hiện đúng pháp luật, hình thành dƣ luận và
tâm lý ủng hộ với hành vi hợp pháp, lên án các hành vi bất hợp pháp.
PBGDPL nhằm hình thành, củng cố tình cảm tốt đẹp của con ngƣời đối với
pháp luật, đồng thời ngày càng nâng cao sự hiểu biết của con ngƣời đối với
các văn bản pháp luật và các hiện tƣợng pháp luật trong đời sống, từ đó nâng
cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhân dân.
1.1.2.2. Yêu cầu đối với việc phổ biến, giáo dục pháp luật
- Yêu cầu chung đối với việc phổ biến, giáo dục pháp luật
+ Đề cao tính Đảng trong PBGDPL:
Pháp luật và đƣờng lối chính sách của Đảng có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Pháp luật bao giờ cũng là sự thể chế hóa đƣờng lối, chính sách của
Đảng, đƣờng lối, chính sách của Đảng là "linh hồn" của pháp luật. Do đó,
PBGDPL cũng chính là phổ biến, giáo dục đƣờng lối, chính sách của Đảng.
Thực hiện không đúng pháp luật hay vi phạm pháp luật đều làm tổn
hại tới Nhà nƣớc và xã hội, tổn hại tới vai trò lãnh đạo của Đảng. Pháp luật
đƣợc thực hiện nghiêm minh, chính xác và đầy đủ thì uy tín lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nƣớc và xã hội đƣợc khẳng định. Do đó, công tác PBGDPL
bao giờ cũng phải đề cập tính Đảng.
PBGDPL có thể là phổ biến các văn bản QPPL, có thể tuyên truyền về
15
Bảo đảm tính liên tục, tính hệ thống trong việc PBGDPL. Bảo đảm
tính hệ thống tức là đặt văn bản vào vị trí của nó trong hệ thống pháp luật,
trong ngành luật hoặc lĩnh vực pháp luật có liên quan đến văn bản. Điều đó
giúp đối tƣợng hiểu vấn đề sâu sắc hơn. Bảo đảm tính liên tục nghĩa là theo
phƣơng châm: mƣa dầm thấm lâu; việc PBGDPL phải đƣợc tiến hành liên
tục, có hệ thống, tránh hình thức, làm theo phong trào.
Gắn việc PBGDPL với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phƣơng.
Điều đó, một mặt phát huy tác dụng của PBGDPL, mặt khác làm tăng hiệu
quả PBGDPL.
Tóm lại, trong rất nhiều hình thức nhƣ vậy, khi tiến hành PBGDPL
cần chọn một hình thức phù hợp cho đối tƣợng đƣợc phổ biến hoặc kết hợp
đan xen các loại hình thức.
- Yêu cầu đối với người làm công tác PBGDPL
+ Có kiến thức pháp lý nhất định:
+ Có nhiệt tình, tâm huyết, tận tụy với công tác PBGDPL.
PBGDPL là một hoạt động mang tính chất xã hội, đối tƣợng phục vụ
là quảng đại quần chúng nhân dân, do đó một trong các yêu cầu đầu tiên và
hết sức quan trọng của ngƣời làm công tác PBGDPL là có tinh thần nhiệt tình,
tận tụy với công tác.
Tinh thần nhiệt tình trong công tác PBGDPL đƣợc thể hiện là không
quản ngại khó khăn, gian khổ; luôn phấn khởi, hăng say trong công tác, lấy
công tác PBGDPL làm niềm vui, niềm say mê; nó không đơn thuần là trách
nhiệm đƣợc giao phó mà việc PBGDPL cho nhiều ngƣời, nhiều đối tƣợng với
chất lƣợng và hiệu quả là niềm vui của ngƣời làm công tác PBGDPL.
Ngƣời làm công tác PBGDPL còn cần phải tận tụy với công việc, luôn
phấn khởi phục vụ cho mọi đối tƣợng, không quản ngại đối với những vấn đề
mới, văn bản pháp luật mới; bản thân luôn phải cố gắng học tập, phấn đấu
16
vƣơn lên; tích lũy kiến thức pháp luật, kiến thức xã hội, kiến thức chuyên
công tác PBGDPL cần phải tích lũy tƣ liệu, kiến thức; bao gồm kiến thức
pháp lý, pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua để so sánh; đƣờng lối, chính
sách của Đảng, kiến thức chuyên ngành, kiến thức xã hội, kinh nghiệm thực
tiễn ở Việt Nam và thế giới.
+ Có kiến thức nhất định về tâm lý học tuyên truyền:
Hiểu đƣợc tâm lý học tuyên truyền chính là hiểu đƣợc các quy luật
tâm lý phát sinh, vận động trong quá trình tiếp nhận thông tin pháp luật của
các đối tƣợng đƣợc thể hiện trong tất cả các giai đoạn tiến hành PBGDPL đối
với các đối tƣợng. Trong quá trình PBGDPL còn phải nắm bắt đƣợc sự phản
ứng, sự tiếp nhận của họ nhƣ thế nào về nội dung đƣợc tuyên truyền.
Sau khi tuyên truyền, PBGDPL cho một loại đối tƣợng, chủ thể tuyên
truyền còn phải biết nghe dƣ luận xã hội và sự phản ứng tích cực, tiêu cực của
các đối tƣợng đƣợc tuyên truyền về nội dung đƣợc phổ biến.
Tất cả những động thái nhƣ vậy, ngƣời làm công tác PBGDPL đều
phải nắm bắt để dự liệu, để chuẩn bị hành trang cho mình. Sự chuẩn bị về
kiến thức cho công tác phổ biến, giáo dục là cần thiết, đồng thời ngƣời làm
công tác PBGDPL còn phải hiểu biết trạng thái tâm lý khác nhau của các đối
tƣợng đƣợc tuyên truyền, đó chính là tâm lý học tuyên truyền mà ngƣời làm
công tác PBGDPL cần phải có.
+ Tùy từng vị trí công tác, địa bàn hoạt động, cần phải có những hiểu
biết về xã hội, phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền nhất định.
Pháp luật luôn gắn với đời sống xã hội, nó quan hệ mật thiết tới các
hiện tƣợng khác của xã hội nhƣ đạo đức, phong tục tập quán của mỗi dân tộc,
mỗi vùng miền.