hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay - Pdf 10

Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Khiếu nại tố cáo là hiện tợng khách quan trong đời sống xã hội. Bởi
lẽ, trong xã hội nói chung, và trong quá trình quản lý nhà nớc nói riêng không
thể tránh khỏi tình trạng những vi phạm pháp luật xâm phạm đến lợi ích Nhà
nớc hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của công dân hay tổ chức, xã hội. Từ xa
tới nay, trong bất kì nhà nớc nào, dù phát triển theo xu hớng chính trị nào đi
chăng nữa, thì các giai cấp thống trị, các nhà cầm quyền đều muốn chế độ của
mình đợc trờng tồn. Do đó, các nhà cầm quyền ở mức độ này hay mức độ
khác, đều quan tâm và cho phép ngời dân đợc kêu oan đến cơ quan nhà nớc để
đợc xem xét và giải quyết, nhằm làm dịu lòng dân và ổn định xã hội. Mặt
khác, thông qua việc ngời dân khiếu nại, tố cáo và việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền, các hiện tợng tiêu cực và vi phạm
pháp luật trong xã hội đợc kịp thời phát hiện và xử lý, góp phần giữ vững trật
tự, kỉ cơng xã hội.
ở nớc ta, từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, nhà nớc Việt nam dân chủ
cộng hoà ra đời cho đến nay, Đảng và Nhà nớc luôn quan tâm đến công tác giải quyết
khiếu nại tố cáo của của công dân và coi đây là nhiệm vụ thờng xuyên của các cấp,
các ngành trong hoạt động quản lý Nhà nớc. Tuy nhiên, từ khi nớc ta bớc vào thực hiện
công cuộc đổi mới, nhiều cơ chế, chính sách, pháp luật và các điều kiện kinh tế - xã
hội đợc đổi mới, tình hình khiếu nại tố cáo cũng đang có chiều hớng gia tăng cả về số
lợng, qui mô và mức độ, đặt ra những vấn đề hết sức bức xúc, phức tạp. Thậm chí còn
xuất hiện nhiều "điểm nóng" gây ảnh hởng không nhỏ đến an ninh, chính trị, trật tự và
ổn định xã hội ở một số địa phơng trong cả nớc . Đây là những vấn đề nhạy cảm, đòi
hỏi phải giải quyết một cách thận trọng, chặt chẽ và toàn diện. Mặc dù đã có luật khiếu
nại, tố cáo và các văn bản hớng dẫn thi hành, song đến nay, luật khiếu nại, tố cáo mới
thực hiện đợc hơn hai năm, đã bộc lộ những bất cập giữa lý luận và thực tiễn. Luật cha
phản ánh đợc sự đa dạng của khiếu nại, tố cáo. Nh khiếu nại, tố cáo đông ngời; trình tự
giải quyết khiếu nại, tố cáo đông ngời; thời hạn giải quyết khiếu nại, tốcáo; chế tài
trách nhiệm cha rõ ràng, cha cụ thể và cha có tính khả thi; công tác quản lý và xử lý
khiếu nại tố cáo của công dân còn nhiều lúng túng, thủ tục phiền hà cho dân. Tình

lọc những hạt nhân hợp lý của các công trình khoa học pháp lý có liên quan, để phát
triển và hoàn chỉnh vấn đề nghiên cứu của mình.
3- Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn : làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn
thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân. Từ đó đa ra những phơng h-
ớng và giải pháp sát thực để hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công
dân, nhằm góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân trong điều kiện
xây dựng Nhà nớc pháp quyền ở nớc ta hiện nay.
- Nhiệm vụ của luận văn: để đạt đợc mục tiêu trên, luận văn có các nhiệm vụ
sau đây:
+ Làm rõ quan niệm về khiếu nại, tố cáo và quyền khiếu nại, tố cáo của công
dân ở nớc ta hiện nay.
+ Phân tích, làm rõ vai trò của pháp luật đối với quyền khiếu nại, tố cáo của
công dân .
+ Làm rõ đặc trng cơ bản của Nhà nớc pháp quyền với yêu cầu hoàn thiện
pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân .
+ Phân tích quá trình hình thành và phát triền quyền khiếu nại, tố cáo của công
dân qua Hiến pháp và pháp luật Việt Nam
+ Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của
công dân ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó tìm ra những phơng hớng và giải pháp cơ
bản hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong điều kiện xây
dựng Nhà nớc pháp quyền ở nớc ta hiện nay
4- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Pháp luật về khiếu nại, tố cáo có nội dung rất phong phú và đa dạng trên nhiều
lĩnh vực của đời sống xã hội (Hành chính, thuế, đất đai, nhà ở, xử lý vi phạm hành
chính ) và với nhiều loại chủ thể khiếu nại, tố cáo (có thể là công dân, tổ chức hay ng-
ời nớc ngoài sống trên lãnh thổ Việt Nam ). Do vậy, trong khuôn khổ của một luận
văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các qui định pháp luật về quyền khiếu nại
của công dân đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính và quyền tố cáo của
công dân trong pháp luật hiện hành mà chủ yếu là Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 và

1.1.1. Khái niệm khiếu nại, tố cáo:
Nhà nớc ra đời trở thành công cụ bạo lực của giai cấp thống trị, thông qua
việc sử dụng Nhà nớc, giai cấp thống trị đã điều hoà đợc những mâu thuẫn giai cấp
trong xã hội, bảo vệ đợc quyền lợi của giai cấp mình. Tuy nhiên bất kì Nhà nớc nào
muốn tồn tại và phát triển đều phải an dân và ổn định xã hội. Bởi, nếu không có dân thì
cũng không có Nhà nớc. Do vậy, trong hoạt động của mình, mọi Nhà nớc đều có
những qui định trong luật việc bảo vệ công dân của mình. Về phía ngời dân, dù ngời có
hiểu biết cao đến hiểu biết thấp đều nhận thức rằng: dới sự bảo hộ của Nhà nớc thì mọi
quyền lợi của mình mới đợc bảo đảm, đợc bảo vệ. Song, do bản chất của mỗi kiểu Nhà
nớc khác nhau nên mức độ bảo hộ cũng có khác nhau. Mặt khác, bản thân Nhà nớc
cũng luôn mong muốn bộ máy do mình lập ra, trong đó có đội ngũ quan chức Nhà nớc
phải tuân thủ sự điều khiển, quản lý của Nhà nớc, không muốn bất kì ai, tổ chức nào
trong bộ máy nhà nớc lại phá vỡ những qui định (pháp luật) mà Nhà nớc đã đặt ra. Thế
nhng, trong thực tiễn, từ nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn, từ sự chi phối của lợi ích,
của tình cảm hay từ sự yếu kém trong quản lý mà một bộ phận nào đó đã vô tình hoặc
cố ý làm sai, thậm chí vi phạm nghiêm trọng những quy định của Nhà nớc, của pháp
luật làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nớc , quyền lợi hợp pháp của công dân, tổ chức,
xã hội. Những sai lầm, vi phạm đó cũng khó giữ kín, và nh vậy tố cáo xuất hiện. ở góc
độ khác, mỗi công dân trong hoạt động thực tiễn của mình, dù ít, dù nhiều đều có quan
hệ với bộ máy chính quyền nhà nớc , với tổ chức xã hội và các công dân khác. Trong
các quan hệ đó, có lúc, có nơi với nhiều lý do khác nhau, những ngời trong bộ máy
công quyền cũng đã vi phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân, và nh vậy xuất hiện
khiếu nại.
Trong đời sống xã hội, khi quyền, lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm
từ phía các cơ quan nhà nớc, ngời dân có quyền khiếu nại các cơ quan nhà nớc đề đòi
lại sự công bằng cho bản thân, đó là lẽ đơng nhiên mà bất kỳ ngời nào, thời đại nào
cũng hiểu. Trong xã hội cũ, những hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội có
một số ngời cho qua, bởi họ không tin vào sự phân xử công minh, công bằng của Nhà
nớc. Nhng cũng có không ít ngời với trách nhiệm công dân đã dũng cảm ra khiếu nại,
tố cáo hành vi sai trái đó để bảo vệ lợi ích Nhà nớc, quyền và lợi ích hợp pháp của bản

động quản lý hành chính.
11- Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nớc hoặc của
ngời có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nớc khi thực hiện nhiệm vụ theo qui
định của pháp luật "
Từ khái niệm trên chúng ta có thể thấy rằng, giữa khiếu nại và tố cáo có điểm
chung là đều phát sinh khi có vi phạm pháp luật (hoặc bị ngời khiếu nại, tố cáo cho là
vi phạm pháp luật) của cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân và họ đề nghị cơ quan nhà nớc
có thẩm quyền xem xét, giải quyết, xử lý việc làm đó để khôi phục hoặc bảo vệ lợi ích
của Nhà nớc, của tập thể; quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, giữa khiếu
nại và tố cáo có những điểm khác nhau cơ bản sau đây :
- Về chủ thể:
Chủ thể của khiếu nại bao gồm công dân, cơ quan, tổ chức,trong khi chủ
thể của tố cáo chỉ là công dân. Xuất phát từ tính chất của tố cáo là yêu cầu xử lý ngời
bị tố cáo, nên Nhà nớc khuyến khích ngời tố cáo đúng, đồng thời qui định nếu ngời nào
lợi dụng quyền tố cáo, tố cáo sai sự thật, gây thiệt hại cho ngời khác thì phải bị xử lý
để tránh tình trạng có ngời nhân danh cơ quan, tổ chức nào đó, thực hiện việc tố cáo
với mục đích cá nhân. Để cá thể hoá trách nhiệm của ngời tố cáo, tạo điều kiện cho cơ
quan nhà nớc có thể xử lý ngời cố tình tố cáo sai sự thật, Luật quy định chủ thể tố cáo
phải là công dân (cá nhân) chứ không bao gồm cơ quan, tổ chức nh chủ thể khiếu nại.
Điểm khác nữa, chủ thể bị khiếu nại có thể đồng thời là chủ thể giải quyết
khiếu nại còn chủ thể bị tố cáo không đơc phép làm nh vậy.
- Về đối tợng:
Đối tợng khiếu nại bao gồm: quyết định hành chính, hành vi hành chính
của các cơ quan hành chính nhà nớc hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức trong
khi đối tợng của tố cáo rộng hơn nhiều, bao gồm: hành vi vi phạp pháp luật của bất cứ
cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của
Nhà nớc, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức .
- Về nguyên nhân phát sinh:
Đối với khiếu nại là khi quyền, lợi ích của bản thân ngời khiếu nại bị xâm
phạm, còn đối với tố cáo là khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại

về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân ở nớc ta hiện nay.
1.1.2. Khái niệm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân :
Hành vi khiếu nại, tố cáo là hiện tợng khách quan trong xã hội , và nó chỉ
trở thành quyền một khi đợc Nhà nớc thể chế hoá thành pháp luật . Vì thế, quyền khiếu
nại, tố cáo của công dân bao giờ cũng mang bản chất giai cấp. ở mỗi chế độ xã hội
khác nhau, mỗi nhà nớc khác nhau thì quy định nội dung pháp luật về quyền khiếu nại,
tố cáo cũng khác nhau.
Trong lịch sử các Nhà nớc bóc lột, pháp luật khiếu nại, tố cáo đợc đặt ra,
suy cho cùng để phục vụ và bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột. Vì vậy, ngời dân dới
chế độ Nhà nớc kiểu phong kiến, t sản họ không hiểu mình có những quyền gì để mà
khiếu nại, tố cáo. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan có thẩm quyền
hoặc thiên vị bên này, hoặc bên kia không theo sự công bằng, lẽ phải, mà thực tế cho
thấy, lẽ phải thuộc về kẻ mạnh, kẻ giàu có trong xã hội. Chính vì vậy, khiếu nại, tố cáo
trong các chế độ xã hội của nhà nớc đó chỉ là hình thức, quyền pháp lý thì có nhng
không đợc thực thi. Thậm chí ngời dân nô lệ trong chế độ xã hội nô lệ, xã hội phong
kiến còn không có một chút quyền nào. ở chế độ T bản chủ nghĩa, về pháp lý, Hiến
pháp và pháp luật của Nhà nớc T sản công nhận các quyền tự do, bình đẳng, tố
cáo.v.v cho mọi công dân. Song, trên thực tế chỉ những kẻ giàu có thuộc giai cấp bóc
lột mới có điều kiện để hởng quyền này, còn ngời lao động nghèo khổ bị áp bức bóc lột
thì không thực hiện đợc quyền đó.
Dới chế độ xã hội chủ nghĩa vị trí của nhân dân lao động và mối quan hệ
của từng công dân đối với Nhà nớc có những thay đổi căn bản về chất. Nhà nớc xã hội
chủ nghĩa là Nhà nớc của nhân dân , do nhân dân và vì nhân dân, sức mạnh của Nhà n-
ớc bắt nguồn từ nhân dân, nhân dân lao động là ngời chủ Nhà nớc; lợi ích của Nhà nớc
gắn liền với lợi ích của nhân dân , Nhà nớc là công cụ phục vụ lợi ích của nhân dân. Do
đó, Nhà nớc luôn quan tâm đến việc bảo vệ và thực hiện các quyền, lợi ích chính đáng
của nhân dân. Trong Nhà nớc xã hội chủ nghĩa, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
đợc ghi nhận ở Hiến pháp và pháp luật, và đợc đảm bảo thực hiện trong thực tế. Điều
này thực chất là nhằm tôn trọng, bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, là sự
thừa nhận tính tối cao của quyền con ngời, quyền công dân trong xã hội . Lê nin từng

ợc viết th dán kín, ghi rõ họ tên, địa chỉ và nỗi oan khuất của mình gửi thẳng lên phủ
Chúa. Đời chúa Nguyễn ánh cũng áp dụng biện pháp này vào năm 1788. Năm 1803,
vua Gia Long cho đặt một số trạm ở các trấn lị để các quan đại thần đi kinh lý đến
nhận đơn kêu oan của dân. Từ thời vua Minh Mệnh (1820 -1840) trở đi, Nhà Nguyễn
đặt ra Ty Tam Pháp gồm Bộ hình, Đại lý tự và viện Đô Sát để xét những vụ án quan
trọng, thụ lý hồ sơ các vụ kiện về oan ức của dân. Tại cửa Ty Tam Pháp có đặt một
chiếc trống đăng văn để vào các ngày 6, 16, 26 (âm lịch) ai có điều gì oan ức cần đệ
đơn, đợc đến đánh trống để nhân viên ra nhận đơn và chuyển cho quan nghị xét. Ngoài
ra, những khi địa phơng nào có nhiều đơn kêu oan của dân, triều đình liền cử các phái
đoàn thanh tra đặc biệt (gọi là kinh lợc đại sử ) gồm các đại thần có uy tín đến giải
quyết [24, tr.12-13].
ở triều đại nhà Lê Sơ (1428 -1527) việc giải quyết khiếu tố của dân có quy
định chặt chẽ hơn. Vua ban hành "Quốc triều khám tụng điều lệ", quy định về trình tự
khiếu kiện; trong đó đã có quy định cấm việc khiếu nại vợt cấp: "Các việc kiện tụng
cha kinh qua lần khám nào đã dẫn dắt khiếu nại vợt cấp thì các nha môn đều không đ-
ợc nhận khám", tuy nhiên "mọi trờng hợp bị ngời quyền quý ức hiếp thiệt hại nặng,
cùng các trờng hợp oan ức, không biết khám lệ ở nha môn nào, không còn đờng nào có
thể kêu cầu, cùng các trờng hợp đã qua công luận, phúc đình nhng cha giải tỏ đợc lý,
mới cho khua chông gióng mõ mà kêu lên" [26, tr.113]. Sở dĩ có quy định nh vậy, là vì
trong Quốc triều hình luật có quy định từng loại việc kiện đợc giải quyết ở từng cấp
hành chính, ai làm trái thì xử bằng đánh trợng và biếm chức. Điều 672 Quốc triều Hình
luật, chơng Đoán ngục nêu: "Dân trong lộ, trong huyện có việc tranh kiện nhau, việc
rất nhỏ kiện đến xã quan; việc nhỏ đến kiện ở lộ quan; việc trung bình đến kiện ở quan
phủ; các quan kể trên phải xét xử cho công bằng, đúng pháp luật; còn việc lớn thì phải
đến kinh. Nếu trái luật này thì xử tội trợng hoặc tội biếm. Tố cáo những việc mu phản
nghịch thì không theo luật này".
Thời Lê - Trịnh, năm 1683 chúa Trịnh Căn cũng ban lệnh việc khiếu tố phải
theo đúng cấp quy định.
Về thời hiệu khiếu tố, từ thời Lý đã có quy định từng loại việc có thời hiệu
khác nhau. Chẳng hạn, đối với việc tranh chấp ruộng đất bỏ hoang bị ngời khác cày

của Đảng ta.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công ngày 2/9/1945, chủ tịch Hồ Chí
Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà tại quảng tr-
ờng Ba Đình, Hà Nội, một nhà nớc dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Châu á;
theo đó, một hệ thống chính quyền nhân dân đợc thành lập từ Trung ơng đến địa phơng
cơ sở, bản, làng Việt Nam. Trong quá trình xây dựng và quản lý đất nớc, với sự nhạy
bén về chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ sự cần thiết của công tác kiểm
tra, giám sát các hoạt động của bộ máy chính quyền, kế thừa truyền thống quý báu của
ông cha ta về lĩnh vực này, kết hợp với lý luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của
mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng ngay tới biện pháp tăng cờng hiệu lực quản
lý nhà nớc bằng việc thành lập "ban thanh tra đặc biệt " có chức năng giúp chính phủ
và nhận những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, trong đó các nhiệm vụ, quyền hạn đầu tiên
là; "nhận các đơn khiếu nại của nhân dân, điều tra hội chứng, xem xét các giấy tờ, tài
liệu của Uỷ ban nhân dân hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho việc giám
sát"[22, tr.13 - 16].
Qua nghiên cứu các tác phẩm của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rõ rằng: ở Ng-
ời, vấn đề khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc nội hàm của quyền con ngời, quyền
công dân và điều đó đợc thể hiện qua những vấn đề nổi bật sau đây:
Một là: quan niệm của Hồ Chí Minh về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
luôn nhấn mạnh một khía cạnh trách nhiệm và nghĩa vụ của Nhà nớc trong mối quan
hệ với nhân dân . Ngời viết: "Chúng ta phải hiểu rằng cơ quan của Chính phủ từ Trung
ơng đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân
chứ không phải đè đầu nh trong thời kỳ thống trị của Pháp, Nhật "[11, tr.56]. Không
những nh vậy, Ngời còn nêu ra các nguyên nhân của những khuyết điểm của các cấp
chính quyền, của cán bộ, dẫn đến các khiếu nại, tố cáo của nhân dân: một phần do kinh
nghiệm của chúng ta còn ít, tài năng của chúng ta còn kém mà công việc thì nhiều;
song một nguyên nhân rất quan trọng là do thiếu kiểm tra giám sát kịp thời. "Có thể
nói rằng, chín phần mời khuyết điểm trong công việc của chúng ta vì thiếu sự kiểm tra"
[11, tr. 56]. Từ đó, Ngời nhắc nhở các cấp chính quyền, nhất là với cơ quan làm công
tác thanh tra: "Về công tác xét các việc khiếu nại, tố giác, nhiệm vụ các ban thanh tra

chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền yêu cầu giải quyết và báo cáo kết quả cho ng-
ời biết. Thể hiên sự sát xao, tránh nhiệm với công việc đến cùng; dù là công việc nhỏ
nhng liên quan đến lợi ích của dân, Bác cũng đều rất thận trọng và chu đáo. Bác rất chú
ý đến giữ gìn kỷ cơng phép nớc, tăng cờng hiệu lực trong quản lý nhà nớc , Bác thờng
nhắc nhở chúng ta: "không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ
lòng dân không yên". Quan điểm của Bác xuất phát từ quan điểm lấy dân làm gốc, dân
là chủ, cán bộ là đầy tớ của dân. Với Bác, dân bao giờ cũng là trung tâm, là xuất phát
điểm của mọi suy nghĩ và hoạt động. Quyền khiếu nại, tố cáo trong t tởng Hồ Chí
Minh là biểu hiện cụ thể của quyền con ngời, quyền công dân trong điều kiện Việt
Nam. Đó là truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam đợc kết tinh trong t tởng của
Ngời, cùng với Chủ nghĩa Mác - Lê nin - nguồn sáng trí tuệ của nhân loại đã thấm sâu
trong tâm trí Hồ Chủ Tịch để trở thành kim chỉ nam cho hành động cách mạng của
Đảng ta.
Ngày nay, t tởng đó lại càng quan trọng trong hoạt động thực tiễn và xây dựng
các chủ trơng chính sách của Đảng và Nhà nớc, nhằm phát huy năng lực sáng tạo của
đông đảo nhân dân vào công cuộc xây dựng Nhà nớc pháp quyền của dân, do dân và
vì dân. Đảng và Nhà nớc ta trong qua trình hoạt động của mình đã không ngừng mở
rộng dân chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào
công việc quản lý Nhà nớc, quản lý xã hội. Nghị quyết hội nghị Trung ơng lần thứ 8
(Khoá VIII) nhấn mạnh: "Đẩy mạnh việc giải quyết các khiếu kiện của công dân. Soát
xét bổ sung và thể chế hoá các chính sách, trớc hết đối với chính sách lĩnh vực mà dân
khiếu kiện nhiều nh những tranh chấp về nhà đất " [ 9, tr.30]. Đặc biệt Nghị quyết Đại
hội lần thứ VIII của Đảng một lần nữa khẳng định: "Cùng với việc đảm bảo thực hiện
các quyền khiếu nại, tố cáo của công dân cần nghiên cứu hớng dẫn để mọi công dân có
điều kiện phát hiện, đề xuất, kiến nghị giúp cho hoạt động giám sát có hiệu quả " [ 8,
tr.130 - 131]. Cụ thể hoá quan điểm này, Nghị quyết Hội nghị Trung ơng 3 ( Khoá VIII
) chỉ rõ: cần "xác định rõ trách nhiệm của thủ trởng cơ quan trong việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo của nhân dân , xử lý nghiêm minh các hành vi trì hoãn làm chậm trễ, sai
lệch, can thiệp trái pháp luật hoặc lẩn tránh trách nhiệm đối với việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo. Cần có qui chế tạo thuận lợi để ngời dân trình bày ý nguyện, thực hiện

Nhà nớc, của tập thể hoặc của công dân bị xâm phạm hay đe doạ xâm phạm, trong khi
chính quyền này đã đợc Hiến pháp, pháp luật ghi nhận, Nh vậy, từ những việc làm trái
pháp luật, vi phạm quyền và lợi ích của công dân, cơ quan, tổ chức, đã đợc pháp luật
thừa nhận và bảo vệ sẽ làm nảy sinh quyền khiếu nại, tố cáo nói chung, quyền khiếu
nại, tố cáo của công dân nói riêng.
Xét về mặt ý nghĩa, quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản
của công dân đợc Hiến pháp ghi nhận, phản ánh bản chất của Nhà nớc và của chế độ
Xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân đối với Nhà nớc và xã hội.
Những quyền đó là cơ sở pháp lý cần thiết để công dân thực hiện việc giám sát hoạt
động của các cơ quan nhà nớc , góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nớc; loại trừ
những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu nhân dân của cán bộ,
công chức nhà nớc; thực hiện tốt quyền khiếu nại, tố cáo không những bảo vệ đợc
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, của Nhà nớc mà còn góp phần sửa chữa các sai
phạm, khuyết điểm trong hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nớc, kiện toàn
chủ trơng, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nớc; phát hiện và xử lý kip thời các vi
phạm pháp luật từ phía cơ quan, nhân viên nhà nớc, làm cho bộ máy nhà nớc hoạt động
ngày càng có hiệu lực và hiệu quả, thực sự là Nhà nớc của dân, do dân, vì dân.
1.1.3. Nội dung pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân:
Quyền khiếu nại, tố cáo thuộc nội hàm quyền công dân, quyền con ngời,
không tách rời bản chất của chế độ chính trị của sự phát triển nền kinh tế và truyền
thống văn hoá và đợc ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật của mỗi nớc. Vì vậy, nó
có vị trí, vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, phát triển quyền công dân, quyền con
ngời ở mỗi nớc cũng nh trong thế giới hiện đại. Nội dung và những diễn biến của pháp
luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân gắn liền với sự phát triển nền chính trị,
kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Những thay đổi về chế độ kinh tế, chế độ chính trị, về
tổ chức bộ máy nhà nớc đều tác động sâu sắc đến pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo
của công dân; đem lại cho nó những nội dung mới. Những nội dung đó đợc thể hiện
tập trung nhất trong mối quan hệ biện chứng giữa Nhà nớc và công dân, nó phản ánh
quyền dân chủ trực tiếp của công dân đối với hoạt động của Nhà nớc, nó đợc qui định
trong Hiến pháp và pháp luật hiện hành.

nh quyền tự do đi lại, quyền bầu cử họ vẫn là những công dân Việt Nam và vẫn có
quyền khiếu nại). Khi thực hiện quyền khiếu nại, Luật qui định công dân phải có các
điều kiện đảm bảo, có năng lực hành vi. Trờng hợp công dân có nhu cầu khiếu nại mà
không có năng lực hành vi thì Luật qui định đợc khiếu nại thông qua ngời đại diện hợp
pháp.
Pháp luật qui định chỉ có ba cơ quan gồm : Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội
đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (gồm Uỷ ban mặt trận và các tổ chức
thành viên ), cơ quan báo chí khi nhận đợc khiếu nại có trách nhiệm nghiên cứu và kịp
thời chuyển khiếu nại đến cơ quan nhà nớc có thẩm quyền giải quyết, và đôn đốc, theo
dõi việc giải quyết, đồng thời báo cho ngời khiếu nại biết việc chuyển đơn đó. Trong
trờng hợp ngời khiếu nại gửi khiếu nại của mình đến nhiều cơ quan thì cơ quan có
thẩm quyền giải quyết tiến hành thụ lý giải quyết. Nhà nớc không giao các cơ quan
khác phải chuyển đơn th khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình mà
chỉ cần "thông báo và chỉ dẫn cho ngời khiếu nại bằng văn bản". Thông báo "chỉ thực
hiện một lần đối với một vụ việc khiếu nại" (Điều 5 Nghị định 67/1999/NĐ-CP ngày
7/8/1999 của Chính phủ). Việc không khuyến khích chuyển đơn th khiếu nại trong nội
bộ trong cơ quan nhà nớc (trừ 3 cơ quan vừa nói trên) nhằm làm cho việc quản lý đánh
giá đúng đắn tình hình hơn tránh tình trạng nhận xét căng thẳng giả, dẫn đến tình trạng
luân chuyển đơn th lòng vòng, tiết kiệm chi phí cho cơ quan nhà nớc. Trờng hợp dân
trực tiếp đến cơ quan nhà nớc khiếu nại thì cơ quan nhà nớc có trách nhiệm hớng dẫn
ngời khiếu nại đến đúng cơ quan nhà nớc có thẩm quyền để trình bầy khiếu nại của
mình (Điều 54, Nghị định 67/1999/NĐ-CP).
Đối với ngời khiếu nại, Điều 17 Luật khiếu nại, tố cáo qui định ngời khiếu nại
có quyền nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giải quyết khiếu nại; đợc nhận quyết
định giải quyết khiếu nại; đợc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, đợc
bồi thờng thiệt hại theo qui định của pháp luật; đợc quyền rút lại khiếu nại trong bất kì
giai đoạn nào của quá trình giải quyết. Ngoài ra, luật còn qui định ngời khiếu nại có
quyền khởi kiện ra toà án hành chính hay kiện lên cơ quan hành chính nhà nớc cấp trên
trực tiếp của cấp đó sau khi khiếu nại lần đầu của mình đợc giải quyết không thoả đáng
hoặc sau khi khiếu nại 30 ngày nhng không đợc cơ quan nhà nớc có thẩm quyền giải

có nội dung bị tố cáo trực tiếp giải quyết nếu việc tố cáo không liên quan đến thủ tr-
ởng cơ quan đó. Trờng hợp thủ trởng cơ quan có liên quan đến nội dung tố cáo thì thủ
trởng cơ quan cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết .
Tổ chức thanh tra nhà nớc là cơ quan giúp thủ trởng cùng cấp quản lý nhà nớc
về khiếu nại, tố cáo. Các tổ chức thanh tra nhà nớc có thẩm quyền giải quyết khiếu nại,
tố cáo khi đợc thủ trởng cùng cấp uỷ quyền, và đơng nhiên có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại, tố cáo phát sinh trong nội bộ ngành cũng nh các cơ quan khác theo trình tự
nêu trên. Riêng tổng thanh tra nhà nớc có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà thủ tr-
ởng cơ quan thuộc Chính phủ (trừ Bộ trởng) đã giải quyết nhng còn khiếu nại. Thanh
tra nhà nớc các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thanh tra
việc thực hiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Về cơ bản, việc xác định cấp giải quyết cuối cùng đợc dựa trên nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của nền hành chính nhà nớc ta , đó là nguyên tắc kết hợp quản lý
theo ngành và theo lãnh thổ. Vì thế, luật qui định cơ quan có thẩm quyền giải quyết ra
quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng đó là :Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ơng; Bộ trởng;thủ trởng cơ quan ngang bộ; Tổng thanh tra nhà n-
ớc; Thủ tớng chính phủ.
- Về thủ tục thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân :
Thủ tục thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân là một loại thủ tục
hành chính, vì nó phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nớc , có đầy đủ các
đặc điểm của thủ tục hành chính.
Thủ tục thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo bao gồm thủ tục khiếu nại, tố
cáo và thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo. Các thủ tục này đợc quy định cụ thể trong
Luật khiếu nại, tố cáo , và chúng có thể đợc chia thành các giai đoạn sau:
Giai đoạn thứ nhất: Tiếp nhận và thụ lý khiếu nại, tố cáo .
Luật khiếu nại, tố cáo quy định thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ khi nhận
đợc quyết định hành chính hoặc biết đợc hành vi hành chính, công dân có quyền khiếu
nại với cơ quan nhà nớc có thẩm quyền . Trong trờng hợp ốm đau, thiên tại địch hoạ
hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian trở ngại không tính vào thời hiệu
khiếu nại ( Điều 31 ).

kéo dài hơn nhng không quá 60 ngày. Kể từ ngày thụ lý để giải quyết (Điều 36 Luật
khiếu nại, tố cáo ).

Trích đoạn Pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân từ Hiến pháp năm 1980 đến Hiến pháp 1992 và luật khiếu nại, tố cáo năm 1998. Quyền và nghĩavụ của ngời khiếu nại và ngời bị khiếu nại: Về thẩm quyền giải quyết và trách nhiệm giải quyết khiếu nại: Về trình tự, thủ tục, thời hiệu, thời hạn giải quyết khiếu nại: a) Về trình tự, thủ tục thụ lý đơn: Về thời hiệu khiếu nại:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status