LUẬN VĂN: Giáo dục quyền con người, quyền
công dân trong điều kiện xây dựng
nhà nước pháp quyền ở nước ta
hiện nay
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người, quyền công dân là những yếu tố cơ bản, nền tảng của một xã
hội dân chủ, văn minh. Tư tưởng về quyền con người (nhân quyền) đã hình thành từ rất
sớm trong lịch sử nhân loại; nhưng không phải trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào,
trong bất cứ kiểu Nhà nước nào nó cũng tồn tại và được thừa nhận một cách đầy đủ. Vì
thế, quyền con người là một phạm trù lịch sử và là kết quả của cuộc đấu tranh không
ngừng của toàn nhân loại vươn tới những lý tưởng, giải phóng hoàn toàn con người nhằm
xây dựng một xã hội thật sự công bằng, dân chủ, nhân đạo.
Giai cấp tư sản khi thực hiện cách mạng tư sản, đã coi nhân quyền như một vũ
coi trọng việc giáo dục nhân quyền nhằm làm cho mỗi con người ý thức biết tôn trọng
quyền của người khác và tự mình biết bảo vệ quyền của mình. Năm 1978 UNESCO cũng
đã triệu tập Hội nghị quốc tế về giáo dục nhân quyền tại Viên (Thủ đô nước áo) để phát
triển hơn nữa những lý do cho việc giáo dục nhân quyền. Tuyên bố cuối cùng của Hội
nghị công nhận rằng: "Giáo dục nên làm cho mỗi cá nhân thấy quyền của mình, đồng
thời họ cũng phải biết tôn trọng những quyền của người khác", và đến 23/12/1994, Đại
hội đồng Liên Hợp Quốc bằng Nghị quyết số 49/184 đã chính thức tuyên bố: "Thập kỷ
giáo dục nhân quyền bắt đầu từ 1/1/1995 đến 1/1/2004".
Nước ta đang trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì việc giáo dục nhân quyền lại càng có ý nghĩa to lớn
hơn bao giờ hết, nhằm làm cho Việt Nam sớm hội nhập với thế giới và khu vực, góp
phần xây dựng nền văn hóa nhân quyền toàn cầu. Thực hiện được điều đó, Đảng và Nhà
nước ta đã hưởng ứng, tham gia có hiệu quả "Thập kỷ giáo dục nhân quyền" của Liên
Hợp Quốc.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên đây, việc nghiên cứu làm rõ
cơ sở lý luận, đánh giá những thành tựu, ưu điểm đã đạt được và làm rõ những khuyết
điểm tồn tại của vấn đề giáo dục nhân quyền; đồng thời xác định phương hướng, nội
dung, phương pháp tiếp tục thực hiện giáo dục nhân quyền trong điều kiện xây dựng Nhà
nước pháp quyền ở nước ta hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu
- Vấn đề giáo dục quyền con người, quyền công dân đã được Liên Hợp Quốc,
các nhà khoa học pháp lý nước ta và thế giới quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, có thể
xuất phát từ quan điểm cho rằng giáo dục pháp luật đã bao hàm cả giáo dục quyền con
người, quyền công dân nên các nhà luật học nước ta mới chỉ tập trung nghiên cứu về giáo
dục pháp luật mà chưa quan tâm nghiên cứu vấn đề giáo dục quyền con người, quyền
công dân như là một lĩnh vực nghiên cứu độc lập, riêng biệt. Vì thế thời gian qua, ở nước
ta đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật như: "Giáo dục ý thức
pháp luật với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa", luận án Phó tiến sĩ của Trần
Ngọc Đường; "ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và giáo dục pháp luật cho nhân dân lao
thống về vấn đề giáo dục quyền con người, quyền công dân trong điều kiện xây dựng nhà
nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn của vấn đề giáo dục quyền con người, quyền
công dân để đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác giáo dục quyền con người -
quyền công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ cơ sở lý luận về giáo dục quyền con người, quyền công dân.
- Đánh giá thực trạng giáo dục quyền con người, quyền công dân ở nước ta hiện
nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác giáo dục quyền con người,
quyền công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở
Việt Nam.
4. Giới hạn nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung vào vấn đề giáo dục quyền con người, quyền công dân ở nước
ta hiện nay, qua khảo sát thực tiễn vấn đề này ở nước ta thời gian qua.
5. Cái mới của luận văn
- Là công trình chuyên khảo nghiên cứu tương đối có hệ thống về giáo dục quyền
con người, quyền công dân ở nước ta hiện nay.
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, tính đặc thù của giáo dục quyền con người,
quyền công dân ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng và phân tích nguyên nhân, làm hạn chế hiệu quả giáo
dục quyền con người, quyền công dân ở nước ta trong thời gian qua; trên cơ sở đó đề
xuất các giải pháp góp phần thực hiện tốt vấn đề giáo dục quyền con người, quyền
công dân ở Việt Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội
Như vậy, trong lịch sử phát triển của quyền con người, Tuyên ngôn độc lập của
Mỹ năm 1776 có thể được coi là sự xác nhận chính thức, đầu tiên về mặt nhà nước về
quyền con người. Khi đánh giá về văn kiện này, C.Mác đã cho rằng: Nước Mỹ - đó là
nơi "lần đầu tiên xuất hiện ý tưởng về một nước cộng hòa dân chủ vĩ đại thống nhất, bản
tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên đã được công bố và đã có sự thúc đẩy đầu tiên đối với
cuộc cách mạng châu Âu thế kỷ XVIII" [57, tr. 65]. Tuyên ngôn này là cơ sở để xây dựng
nên bản Hiến pháp của Mỹ năm 1787.
Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, vấn đề nhân quyền càng trở nên bức xúc và
trở thành mối quan tâm sâu sắc của cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở đó, ngày 24-10-1945
tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời và đã thông qua bản "Hiến chương Liên Hợp Quốc" với
mục đích chính là vì vấn đề quyền con người trên phạm vi toàn cầu. Tiếp đến, tháng 12-
1948 Liên Hợp Quốc đã công bố bản "Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền". Trên cơ sở
này, hàng loạt văn kiện quốc tế về nhân quyền được tuyên bố, ký kết và trở thành luật
pháp quốc tế về quyền con người.
ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thì Việt Nam đã có
một lịch sử truyền thống lâu đời, trải qua suốt quá trình dựng nước và giữ nước về sự
hình thành và đảm bảo quyền con người. Tuy nhiên, phải đến khi Cách mạng tháng Tám
năm 1945 thành công mới thực sự mở ra một kỷ nguyên mới về quyền con người , thời
kỳ mà quyền con người được đề cao, được chính thức ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật.
Mặc dù vấn đề quyền con người, quyền công dân đã được hình thành từ rất sớm
trong lịch sử nhân loại. ở Việt Nam cũng vậy, nhưng do nó được nhìn nhận dưới những
góc độ khác nhau (triết học, chính trị học, kinh tế học, luật học ), xuất phát từ những mục
đích, màu sắc tư tưởng, lãnh địa chính trị của các quốc gia khác nhau; nên mặc dầu đã có
nhiều hội thảo quốc tế, nhiều công trình nghiên cứu, nhưng khái niệm quyền con người,
quyền công dân vẫn tồn tại một cách trừu tượng, chung chung và ngày càng trở nên mơ hồ,
rắc rối hơn.
Do đó, nhận thức đúng đắn, đầy đủ về khái niệm quyền con người, quyền công
dân và nội dung của nó chính là cơ sở, nền tảng để xây dựng phương hướng, nội dung,
phương pháp, điều kiện cho việc thực hiện giáo dục quyền con người, quyền công dân ở
nền kinh tế, văn hóa, xã hội và do chế độ kinh tế, chế độ xã hội quyết định.
- Quan niệm thứ ba: Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề quyền con
người. Quan niệm này đã khắc phục được tính phiến diện, phản khoa học về con người,
quyền con người ở các quan niệm trên.
Xuất phát từ quan niệm coi con người vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm
của xã hội, con người mặc dù vẫn là một thực thể tự nhiên như các loài động vật khác,
nhưng lại khác với loài động vật khác ở chỗ con người chỉ thực sự tồn tại với tư cách là
một con người khi nó được tồn tại trong cộng đồng xã hội. Hai mặt này tồn tại biện
chứng trong một con người. Trong cái tự nhiên của con người có mặt xã hội và trong cái
xã hội của con người có mặt tự nhiên. Mặt này trở thành tiền đề cho mặt kia trong mối
quan hệ chặt chẽ không thể tách rời. Xuất phát từ quan niệm này về quyền con người nên
chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con người: "Về bản chất bao hàm cả hai
mặt tự nhiên và xã hội" [65, tr. 12].
Xét về mặt tự nhiên, C.Mác cho rằng, con người là "động vật xã
hội" [63, tr. 855] có khả năng "tái sinh ra con người", con người là động vật cao cấp nhất
trong quá trình tiến hóa. Do đó, về mặt này, cũng như quan niệm thứ nhất, quyền con
người trước hết là một thuộc tính tự nhiên. Quyền con người không phải là một "tặng
vật", do giai cấp thống trị ban phát thông qua nhà nước mà quyền con người trong hình
thức lịch sử tự nhiên của nó mang bản chất tự nhiên, được thể hiện ở quyền được sống,
quyền tự do, quyền được sáng tạo, phát triển, quyền được đối xử như con người, xứng
đáng với con người.
Xét về mặt thứ hai của quan niệm này, con người mặc dù là động vật cao cấp
nhất của tự nhiên, nhưng ngay khi tiến hóa trở thành động vật cao cấp, con người đã sống
thành bầy đàn và trở thành sản phẩm của lịch sử xã hội. Trong luận cương thứ VI về Phoi-
ơ-bắc, C.Mác cho rằng: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa
những quan hệ xã hội" [64, tr. 21]. Như vậy, con người mặc dù vẫn là thực thể tự nhiên
sinh học, là bộ phận của tự nhiên, nhưng bên cạnh đó, để được gọi là người nó còn phải
tồn tại trong cộng đồng xã hội, và biến đổi cùng với cộng đồng xã hội của mình. Bằng
khả năng của mình, con người tác động vào tự nhiên, xã hội làm biến đổi tự nhiên và xã
thấy quyền con người là một phạm trù phức tạp. Vì vậy, cần thiết phải đưa ra định nghĩa
về quyền con người. Tuy nhiên, nếu chỉ đưa ra định nghĩa quyền con người với tư cách là
một phạm trù riêng biệt của chính trị học, kinh tế học, triết học, luật học sẽ là điều phiến
diện, không đầy đủ, vì như thế nó mới chỉ thể hiện được quyền con người dưới góc độ
khoa học, mà không thể hiện được bản chất cũng như tính đa diện của vấn đề này. Hay
nói cách khác, nó mới chỉ thể hiện trạng thái tĩnh của quyền con người.
Jacques Mourgon (giáo sư đại học khoa học xã hội Toulouse) đưa ra định nghĩa:
"Quyền con người là những đặc quyền được các quy tắc điều khiển mà con người giữ
riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân và với chính quyền" [68, tr. 12].
Định nghĩa này chủ yếu đề cập đến quyền con người ở khía cạnh tự nhiên của nó.
Một học giả Việt Nam cho rằng:
Quyền con người là các khả năng của con người được đảm bảo bằng
pháp luật (luật quốc gia và luật quốc tế) về sử dụng và chi phối các phúc lợi xã hội,
các giá trị vật chất, văn hóa và tinh thần, sử dụng quyền tự do trong xã hội trong
phạm vi luật định và quyền quyết định các hoạt động của mình và của người khác
trên cơ sở pháp luật [31, tr. 34].
Định nghĩa này cũng mới chỉ đề cập đến quyền con người với tư cách là phạm trù
luật học.
Chúng tôi nhận thức rằng, khái niệm quyền con người phải là một phạm trù tổng
hợp, bao hàm cả bản chất và những thuộc tính đa diện - nhiều mặt của nó. Có một định
nghĩa đang được sử dụng phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về nhân quyền ở nước ta
hiện nay: "Nhân quyền (hay quyền con người) là những năng lực và nhu cầu vốn có và
chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng
pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [90, tr. 10]. Chúng tôi cho rằng,
khái niệm này bắt nguồn từ khái niệm của Mác về quyền con người. Theo Mác: "Quyền con
người là những đặc quyền chỉ có ở con người mới có, với tư cách là con người, là thành
viên xã hội loài người" [57, tr. 14]. Định nghĩa này cũng tương ứng với nội dung của khái
niệm quyền con người do Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam phát biểu tại hội nghị quốc tế về
nhân quyền ở Viên (áo) tháng 6 năm 1993: Quyền con người là một phạm trù tổng hợp,
- Theo tiến sĩ Nguyễn Đình Lộc, "quyền công dân - đó là sự thể chế hóa về mặt
nhà nước bằng pháp luật địa vị con người trong khuôn khổ nhà nước, là sự thừa nhận,
trong chừng mực mà nhà nước chấp nhận, địa vị con người của cá nhân trong nhà nước
[91, tr. 75].
Thạc sĩ Vũ Công Giao cho rằng: "Quyền công dân là tập hợp những quyền tự
nhiên được pháp luật của một nước quy định, mà tất cả những người có chung quốc tịch
của nước đó được hưởng một cách bình đẳng" [36, tr. 21].
Theo chúng tôi, các khái niệm trên tuy có sự diễn đạt khác nhau, nhưng về bản
chất, nội dung đều xuất phát từ khái niệm về quyền công dân của C. Mác. Về vấn đề này
C. Mác cho rằng: "Quyền công dân là những quyền chính trị, những quyền cá nhân con
người, với tư cách là thành viên "xã hội công dân" [57, tr. 14].
Như vậy, khái niệm công dân, quyền công dân ra đời sau quyền con người, nó
gắn liền và được sử dụng rộng rãi trong xã hội tư sản.
So với khái niệm quyền con người thì khái niệm quyền công dân mang tính xác
định hơn. Vì thế, nội dung, số lượng, chất lượng quyền công dân của mỗi quốc gia là
khác nhau, và tùy thuộc vào thể chế chính trị xã hội, vào giai cấp cầm quyền trong xã hội.
Trước đây ở các nước xã hội chủ nghĩa vấn đề quyền con người ít được nói đến, nên mặc
nhiên được hiểu rằng quyền con người và quyền công dân là đồng nhất. Trong các văn kiện
pháp lý (Hiến pháp, luật) chỉ tồn tại thuật ngữ quyền công dân. Ngay ở Việt Nam cũng
vậy, trong các Hiến pháp năm 1946, năm 1959, 1980 đều chỉ đề cập đến quyền và nghĩa
vụ của công dân mà không đề cập đến vấn đề quyền con người. Chỉ đến Hiến pháp năm
1992, vấn đề quyền con người mới chính thức được đề cập đến (Điều 50 Hiến pháp
1992).
1.1.1.3. Quan hệ giữa quyền con người, quyền công dân
Khi nghiên cứu vấn đề "nhân quyền", ta phải xem xét đầy đủ cả hai khái niệm
quyền con người - quyền công dân. Đây là hai khái niệm cơ bản, có mối quan hệ biện
chứng, mật thiết với nhau, nhưng cũng có sự độc lập nhất định với nhau và cần được
phân biệt rõ khi tiếp cận vấn đề này.
ánh tổng thể nhu cầu của con người hiện thực trong điều kiện còn tồn tại Nhà
nước [57, tr. 14].
Và "Vì vậy, Mác - Ăngghen đã sử dụng cả hai khái niệm Quyền con người và
Quyền công dân" [57, tr. 14].
1.1.2. Khái niệm giáo dục quyền con người, quyền công dân
1.1.2.1. Các quan niệm khác nhau về giáo dục quyền con người, quyền công
dân
Hiện đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về giáo dục quyền con người,
quyền công dân.
- Quan niệm của giai cấp tư sản: Các nước tư bản hiện đang rất quan tâm đến
vấn đề giáo dục quyền con người. Vấn đề này được các nước phương Tây thực hiện
thường xuyên, liên tục cho mọi đối tượng cả trong phạm vi quốc gia và cả trên phạm vi
toàn cầu dưới nhiều hình thức, phương pháp khác nhau, nhằm đạt được những mục đích
khác nhau. Xuất phát từ lợi ích chính trị của mình, họ chỉ tập trung vào việc giáo dục một
số quan điểm về quyền con người dưới đây:
Ưu tiên giáo dục các quyền tự nhiên:
Quan niệm này xuất phát từ việc tuyệt đối hóa quyền tự nhiên của con người,
dẫn đến việc tuyệt đối hóa cá nhân trong quan hệ cộng đồng xã hội, coi quyền con người
là bất khả xâm phạm, không phụ thuộc vào không gian, thời gian, quốc gia, dân tộc. Mục
đích của việc giáo dục quan điểm này nhằm:
Thứ nhất, đối với dân chúng trong nước, quan điểm này tạo ra được một hình
thức xã hội dân chủ. Mọi người đều có quyền như nhau trong việc thực hiện các mục
tiêu, ý tưởng sống, được quyền tự do, quyền sở hữu, quyền được an toàn và chống áp
bức
Thứ hai, khi quyền, tự do cá nhân được đề cao tuyệt đối sẽ dẫn đến việc triệt tiêu
quyền lợi của tập thể, nhóm, giới, xóa nhòa quyền giai cấp và sẽ dẫn đến hệ quả mà giai
cấp tư sản - giai cấp đang thống trị xã hội mong muốn là ý thức đấu tranh giai cấp trong
xã hội bị thủ tiêu, ý thức đấu tranh đòi quyền lợi của tập thể dân cư, sắc tộc, bộ phận xã
hội bị xóa bỏ.
ở Pháp, quốc gia được coi là cái nôi của quyền tự do công dân khi từ năm 1789
đã công bố bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nổi tiếng. Nội dung Tuyên ngôn
nhân quyền và dân quyền của Pháp gần đây nhất tiếp tục được thể hiện trong Hiến pháp
của Cộng hòa Pháp năm 1958, đã toát lên tư tưởng chủ đạo của nó là:
Hoạt động tự do của con người là một quyền tự nhiên, vì vậy, không
cần phải liệt kê lại những quyền gì là được phép: tất cả những gì luật pháp
không nghiêm cấm đều được phép làm; ngược lại, cần phải xác định rõ những
điều cần nghiêm cấm dĩ nhiên là có xét đến những quy định trong Hiến pháp
[47, tr. 370].
Đặc trưng cơ bản cho các quyền tự do của con người được Hiến pháp của Pháp
ghi nhận là quyền sở hữu. ở đây, quyền này được quan niệm như là quyền sở hữu, sử
dụng hay phân chia từng phần tùy theo ý chí chủ nhân. Theo một số nhà nghiên cứu thì
quyền này đã được phản ánh một cách nhất quán và chi tiết hóa qua các tiêu chuẩn của
Bộ luật Dân luật của Napoleon năm 1804. Mà Bộ luật này theo nhận xét của Ăngghen
chính là: "Là khung Bộ luật cơ bản mẫu mực của xã hội tư bản". Với tinh thần coi tài sản
sở hữu là nền tảng của tự do nêu trên, Điều 554 Bộ Dân luật Pháp quy định: "Sở hữu là
quyền được sử dụng và phân chia tài sản hoàn toàn tuyệt đối miễn sao việc sử dụng và
phân chia tài sản không phạm vào những gì sắc luật và quy chế không cấm". Nhà làm
luật không có quyền xâm phạm hoặc hạn chế quá mức việc chiếm giữ, sử dụng và phân
chia tài sản, phải theo đúng nguyên tắc: "Cho phép làm tất cả những gì không gây phương
hại đến những người khác, hay làm hại đến lợi ích xã hội" [47, tr. 372], hoặc theo ý kiến
của Giscard d'Estaing thì nhà làm luật:
Chỉ có được quyền can thiệp vào các quan hệ kinh tế tự do dựa trên cơ
sở cạnh tranh và thị trường trong những trường hợp bất đắc dĩ hoặc trong những
trường hợp phải kìm lại sự tiến triển buộc cá nhân phải mất qua nhiều công sức
vất vả không đáng có, hoặc nhằm mục đích thay đổi quá trình chuyên môn hóa
nền kinh tế đang khiến nó phụ thuộc quá vào người cấp vốn và thị trường quốc
tế [47, tr 372].
Theo quy định của Hiến pháp Pháp, một cơ sở quan trọng để bảo đảm các quyền
bảo đảm thực hiện các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa. Mặc dù các quyền đó đã được
ghi rõ trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và các Công ước quốc tế khác về
quyền con người. Một minh chứng rất điển hình cho luận điểm này của giai cấp tư sản là
việc Liên Hợp Quốc cùng lúc thông qua hai "Công ước quốc tế về các quyền dân sự,
chính trị" và "Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa". Giải thích về
vấn đề này, La-lê-ri Sa-lit-de cho rằng:
Khi Liên Hợp Quốc quyết định thảo ra một hiệp ước về quyền con
người, Liên Xô tham gia hoàn chỉnh hiệp ước này. Lập trường của Liên Xô về
những quyền xã hội - kinh tế rất cứng rắn, khó mà các nước tư bản thỏa hiệp
được với Liên Xô trên lĩnh vực này. Tuy thế, người ta vẫn tìm ra được cách
nhân nhượng nhau, đáng lẽ thảo chỉ một hiệp ước về quyền con người, người
ta đã thảo ra hai bản. Hiệp ước quốc tế về các quyền xã hội, kinh tế và văn
hóa, chủ yếu phản ánh quan điểm của Liên Xô và hiệp ước quốc tế về các
quyền công dân và quyền chính trị của con người phản ánh chủ yếu quan điểm
phương Tây [107, tr. 3].
Ông cũng cho rằng, hiện có nhiều người nghi ngờ thuật ngữ "các quyền xã hội -
kinh tế", họ thậm chí còn không cả thừa nhận các quyền này như là một bộ phận trong
toàn bộ các quyền cơ bản của con người và không chịu coi đó là những quyền phải được
nhà nước bảo đảm. Cơ sở của quan điểm này là việc trong các xã hội kinh doanh tư nhân
(chủ yếu là Tây Âu và Bắc Mỹ), con người phải tự lo liệu lấy cho mình và "trong những
điều kiện ấy, nói đến bảo đảm những quyền xã hội - kinh tế sẽ là vô nghĩa và mâu thuẫn
với mâu thuẫn xã hội. Trong lòng xã hội tự do kinh doanh, Nhà nước không sản xuất
hàng hóa và dịch vụ, nó cũng không sở hữu nhà ở và bất động sản, do đó, nó không thể
bảo đảm cho con người những của cải loại ấy" [107, tr. 5]. Khi Nhà nước cần đảm bảo
mức sống cho một bộ phận nhân dân nghèo khổ nhất trong xã hội thì Nhà nước phải bắt
những người có thu nhập cao phải tự hạn chế mình để nuôi sống bộ phận nghèo khổ
trong xã hội. Điều này tuy đang được khuyến khích ở các nước tư bản nhưng nó lại được
coi là hoạt động từ thiện chứ không phải là sự tôn trọng và bảo vệ các quyền xã hội và
kinh tế của công dân. Hay nói rõ hơn, nó không phải là một quyền của công dân.
quốc gia. Khi quyền con người ở một quốc gia nào đó bị xâm phạm thì các nước khác có
nghĩa vụ phải can thiệp để bảo vệ quyền con người ở đó. Thí dụ: điển hình cho quan điểm
này là sự can thiệp của Mỹ, Anh và các nước NATO vào Irắc và Nam Tư trong thời gian
qua. Và gần đây nhất là việc Hạ nghị viện Mỹ thông qua "Đạo luật nhân quyền Việt
Nam", đã xâm phạm nghiêm trọng đến chủ quyền của Việt Nam. Hàng năm Mỹ đều có
báo cáo về việc bảo đảm nhân quyền của các nước trên thế giới theo tiêu chí nhân quyền
của Mỹ; và coi đây là căn cứ để thực hiện chính sách can thiệp vào công việc nội bộ của
nước khác.
- Quan điểm của Liên Hợp Quốc về giáo dục quyền con người: Ngay từ khi ra đời,
Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền đã lập tức có giá trị như một văn kiện vĩ đại trong
lịch sử nhân loại. Nó tạo ra sức mạnh về các khía cạnh pháp lý trong quan hệ quốc tế,
quốc gia, chính trị, đạo đức và những giá trị đó ngày càng không ngừng được nâng cao
với nền văn minh nhân loại. Kỷ niệm 50 năm Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, Tổng
thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan đã phát biểu:
Hôm nay, chúng ta ghi nhớ sự bắt đầu của năm thứ 50 sự ra đời của
Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền. ở khắp mọi nơi trên thế giới, đàn ông, phụ
nữ và trẻ em thuộc đủ các màu da và tín ngưỡng sẽ tụ họp để đón nhận những
quyền con người chung của chúng ta Nhân quyền là cơ sở của sự tồn tại và
cùng tồn tại của con người. Quyền con người là phổ biến, không thể chia tách
và phụ thuộc lẫn nhau. Nhân quyền là cái làm nên nhân loại chúng ta. Đó là
những nguyên tắc mang tính cơ sở để chúng ta thiết lập cái ngôi nhà thiêng
liêng cho phẩm giá loài người Khi chúng ta nói về quyền sống, hoặc về
quyền phát triển, hoặc về quyền được bất đồng quan điểm và có sự khác biệt,
có nghĩa là chúng ta đang nói về khoan dung. Khoan dung nếu được tăng
cường, bảo vệ và ghi nhận, sẽ bảo đảm cho tự do của tất cả chúng ta. Thiếu sự
khoan dung chắc chắn chúng ta sẽ không làm được gì tính phổ biến của nhân
quyền sẽ cho nhân quyền sức mạnh. Nó là động lực để nhân quyền liên kết các
biên giới quốc gia, vượt qua mọi trở ngại, thách thức và bạo lực Cuộc đấu
tranh cho các quyền con người trên toàn cầu luôn diễn ra ở khắp mọi nơi và đã
Những nội dung trên thể hiện quan điểm giáo dục quyền con người của Liên Hợp
Quốc, bao gồm những vấn đề sau:
- Mục đích của giáo dục nhân quyền nhằm: xây dựng một nền văn hóa nhân
quyền toàn cầu và cho phép mọi người được hưởng các quyền.
- Nội dung của giáo dục nhân quyền: là toàn bộ các quyền con người được ghi
nhận trong các Tuyên ngôn, các Công ước quốc tế về quyền con người.
- Đối tượng của giáo dục nhân quyền là toàn thể cộng đồng người, không phân
biệt nam nữ, già trẻ, dân tộc, tôn giáo mọi người đều được quyền được giáo dục như
nhau về quyền con người.
1.1.2.2. Khái niệm giáo dục quyền con người - quyền công dân