luận văn thạc sĩ Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác giáo dục quyền con người, quyền công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam - Pdf 13

Gi¸o dôc quyÒn con ngêi, quyÒn c«ng d©n
ë níc ta hiÖn nay - Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p
Hµ Néi - 2010
Gi¸o dôc quyÒn con ngêi, quyÒn c«ng d©n
ë níc ta hiÖn nay - Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p
Hµ Néi – 2010
MụC LụC

Trang
Mở đầu
1
Chơng 1: cơ sở lý luận về giáo dục quyền con ngời, quyền
công dân
7
1.1. Khái niệm giáo dục quyền con ngời, quyền công dân 7
1.2. Chủ thể, khách thể, hình thức, nội dung, phơng pháp giáo dục
quyền con ngời, quyền công dân
31
1.3. Vai trò của giáo dục quyền con ngời, quyền công dân trong điều
kiện xây dựng nhà nớc pháp quyền ở nớc ta hiện nay
42
Chơng 2: Thực trạng giáo dục quyền con ngời, quyền công
dân ở Việt Nam hiện nay
44
2.1. Giáo dục quyền con ngời, quyền công dân của Liên Hợp Quốc và
của một số nớc trên thế giới
44
2.2. Hoạt động giáo dục quyền con ngời, quyền công dân ở Việt Nam
hiện nay
53
2.3. Những thành tựu, tồn tại và nguyên nhân rút ra từ thực tiễn giáo

tập hợp lực lợng trong xã hội; do đó từ thế kỷ XVIII vấn đề nhân quyền đã
đợc giai cấp t sản đề cập đến nh Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc
Hoa Kỳ năm 1789, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm
1789.
Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị
đập tan năm 1945, vấn đề nhân quyền đã trở thành mối quan tâm của cả
Nhà nớc xã hội chủ nghĩa và t bản chủ nghĩa, nên khi tổ chức Liên Hợp
Quốc ra đời thì vấn đề cơ bản, đầu tiên của tổ chức này là vấn đề nhân
quyền. Nhân quyền đã trở thành vấn đề quan trọng, thờng xuyên đợc đề cập
đến trong quan hệ quốc tế. Liên Hợp Quốc đã ban hành hàng loạt các văn
kiện khẳng định các quyền và tự do của tất cả mọi ngời, đặc biệt là Hiến ch-
ơng Liên Hợp Quốc 1945 và Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngời 1948
thì vấn đề nhân quyền đã chuyển sang một bớc ngoặt mới trong lịch sử
nhân loại, trở thành một quan hệ cơ bản đợc điều chỉnh bằng pháp luật quốc
tế.
Đến nay quyền con ngời đã đợc ghi nhận, khẳng định trong Hiến
pháp của nhiều quốc gia trên thế giới.
ở Việt Nam, kể từ khi giành đợc độc lập (năm 1945), Đảng và Nhà
nớc ta luôn tôn trọng quyền con ngời. Tuyên ngôn độc lập của nớc Việt
Nam dân chủ cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trờng Ba
Đình, Hà Nội ngày 2/9/1945 đợc coi là một văn kiện có tính lịch sử trên ph-
ơng diện quốc tế về quyền con ngời. Trên cơ sở đó, quyền con ngời đã đợc
ghi nhận trong Hiến pháp nớc ta: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm
1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Điều 50 Hiến pháp
năm 1992 của nớc ta khẳng định: "ở nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, các quyền con ngời về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội đợc
tôn trọng và bảo đảm thực hiện". Gần đây nhất, vấn đề nhân quyền đã đợc tiếp
tục khẳng định trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng
khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: "Chăm lo cho
con ngời, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi ngời; tôn trọng và thực

nớc ta mới chỉ tập trung nghiên cứu về giáo dục pháp luật mà cha quan tâm
nghiên cứu vấn đề giáo dục quyền con ngời, quyền công dân nh là một lĩnh
vực nghiên cứu độc lập, riêng biệt. Vì thế thời gian qua, ở nớc ta đã có rất
nhiều các công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật nh: "Giáo dục ý thức
pháp luật với việc tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa", luận án Phó tiến
sĩ của Trần Ngọc Đờng; "ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và giáo dục
pháp luật cho nhân dân lao động (ở Việt Nam)", luận án Phó tiến sĩ của
Nguyễn Đình Lộc; "Giáo dục pháp luật cho nhân dân" của Nguyễn Ngọc
Minh (Tạp chí Cộng sản, số 10, 1983); "Giáo dục ý thức pháp luật để tăng
cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa và xây dựng con ngời mới" của Phùng Văn
Tửu (Tạp chí Giáo dục lý luận, số 4, 1985); "Giáo dục ý thức pháp luật" của
Nguyễn Trọng Bình (Tạp chí Xây dựng Đảng, số 4, 1989); "Cơ sở khoa học
của việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật" đề tài khoa học cấp
nhà nớc, mã số 07-17 do Viện Nhà nớc - Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa
học xã hội và nhân văn chủ trì; "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo
dục pháp luật trong công cuộc đổi mới", đề tài khoa học cấp Bộ, mã số 92-
98-223ĐT của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ T pháp; "Tìm kiếm
mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả trong một số dân tộc ít
ngời" đề tài khoa học cấp bộ của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý; "Giáo
dục pháp luật trong các trờng đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy
nghề (không chuyên luật) ở nớc ta", luận án Phó tiến sĩ của Đinh Xuân
Thảo; "Giáo dục pháp luật qua hoạt động t pháp ở Việt Nam", luận án Phó
tiến sĩ của Dơng Thị Thanh Mai; "Giáo dục pháp luật cho dân tộc Khơme -
Nam Bộ (qua thực tiễn tỉnh An Giang)", luận án Thạc sĩ của Lê Văn Bền;
"Bàn về giáo dục pháp luật" sách của Trần Ngọc Đờng - Dơng Thị Thanh
Mai; "Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật" sách của Đào Trí úc chủ
biên; "Một số vấn đề về phổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện
nay" của Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật - Bộ T pháp; "Đổi mới giáo dục
pháp luật trong hệ thống các trờng chính trị ở nớc ta hiện nay", Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Khoa Nhà nớc - Pháp luật, Học viện Chính

giáo dục quyền con ngời, quyền công dân ở nớc ta hiện nay.
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, tính đặc thù của giáo dục quyền
con ngời, quyền công dân ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng và phân tích nguyên nhân, làm hạn chế hiệu
quả giáo dục quyền con ngời, quyền công dân ở nớc ta trong thời gian qua;
trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp góp phần thực hiện tốt vấn đề giáo dục
quyền con ngời, quyền công dân ở Việt Nam.
6. Phơng pháp nghiên cứu
- Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Nhà
nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quan hệ giữa Nhà nớc pháp
quyền với quyền con ngời, quyền công dân, về giáo dục quyền con ngời,
quyền công dân ở nớc ta.
Luận văn đặc biệt coi trọng quan điểm duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử để nghiên cứu nhà nớc pháp quyền với việc giáo dục quyền con ng-
ời - quyền công dân; sử dụng phơng pháp thống kê, hệ thống, so sánh, phân
tích, tổng hợp để đánh giá thực trạng giáo dục quyền con ngời, quyền công
dân ở nớc ta hiện nay nhằm phân tích, luận chứng một cách khoa học khi đề
ra sự cấp thiết, phơng hớng, giải pháp tăng cờng giáo dục quyền con ngời,
quyền công dân ở nớc ta.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn đợc chia làm 3 chơng, 8 tiết.
Chơng 1
Cơ sở lý luận về giáo dục quyền con ngời,
quyền công dân
1.1. Khái niệm giáo dục quyền con ngời, quyền công dân
1.1.1. Khái niệm quyền con ngời, quyền công dân
Quyền con ngời - Nhân quyền, quyền công dân là một phạm trù lịch
sử. Từ thời cổ đại những t tởng và yêu sách về các quyền, mà trớc hết yêu

một kỷ nguyên mới về quyền con ngời , thời kỳ mà quyền con ngời đợc đề
cao, đợc chính thức ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật.
Mặc dù vấn đề quyền con ngời, quyền công dân đã đợc hình thành
từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. ở Việt Nam cũng vậy, nhng do nó đợc
nhìn nhận dới những góc độ khác nhau (triết học, chính trị học, kinh tế học,
luật học ), xuất phát từ những mục đích, màu sắc t tởng, lãnh địa chính trị của
các quốc gia khác nhau; nên mặc dầu đã có nhiều hội thảo quốc tế, nhiều
công trình nghiên cứu, nhng khái niệm quyền con ngời, quyền công dân vẫn
tồn tại một cách trừu tợng, chung chung và ngày càng trở nên mơ hồ, rắc rối
hơn.
Do đó, nhận thức đúng đắn, đầy đủ về khái niệm quyền con ngời,
quyền công dân và nội dung của nó chính là cơ sở, nền tảng để xây dựng
phơng hớng, nội dung, phơng pháp, điều kiện cho việc thực hiện giáo dục
quyền con ngời, quyền công dân ở nớc ta hiện nay.
1.1.1.1. Khái niệm quyền con ngời (Nhân quyền)
"Nhân quyền" là một từ Hán Việt, theo "Đại Từ điển Tiếng Việt"
của Viện Ngôn ngữ học thì "Nhân quyền" là "quyền con ngời" [104, tr.
1239]. Từ điển này mới chỉ giải trình đơn thuần nghĩa Hán - Việt của từ
Nhân quyền, mà cha đề cập đến khái niệm của vấn đề này theo nghĩa đợc
khái quát hóa từ những đặc điểm, nội dung, tính chất đặc thù của nó.
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con ngời, mỗi
định nghĩa là một sự biểu hiện khác nhau về góc độ nhìn nhận về vấn đề
nhân quyền. Tuy nhiên, tổng hợp lại các quan niệm đó đợc phân chia thành
ba quan niệm chủ yếu, khác nhau về quyền con ngời nh sau :
- Quan niệm thứ nhất: Bắt nguồn từ chỗ coi con ngời là một thực thể
tự nhiên, nên quyền con ngời phải là quyền "bẩm sinh", là "đặc quyền",
nghĩa là quyền con ngời, quyền lợi của con ngời với t cách là ngời, gắn liền
với cá nhân con ngời, không thể tách rời.
Quan điểm này đợc các đại biểu t tởng của giai cấp t sản ở thế kỷ
XVII, XVIII nh Crotius, Hobbes, Kant, Locke, Spinoza, Rousseau hoàn

cấp nhất trong quá trình tiến hóa. Do đó, về mặt này, cũng nh quan niệm
thứ nhất, quyền con ngời trớc hết là một thuộc tính tự nhiên. Quyền con ng-
ời không phải là một "tặng vật", do giai cấp thống trị ban phát thông qua
nhà nớc mà quyền con ngời trong hình thức lịch sử tự nhiên của nó mang
bản chất tự nhiên, đợc thể hiện ở quyền đợc sống, quyền tự do, quyền đợc
sáng tạo, phát triển, quyền đợc đối xử nh con ngời, xứng đáng với con ngời.
Xét về mặt thứ hai của quan niệm này, con ngời mặc dù là động vật
cao cấp nhất của tự nhiên, nhng ngay khi tiến hóa trở thành động vật cao
cấp, con ngời đã sống thành bầy đàn và trở thành sản phẩm của lịch sử xã
hội. Trong luận cơng thứ VI về Phoi-ơ-bắc, C.Mác cho rằng: "Trong tính hiện
thực của nó, bản chất con ngời là tổng hòa những quan hệ xã hội" [64, tr.
21]. Nh vậy, con ngời mặc dù vẫn là thực thể tự nhiên sinh học, là bộ phận
của tự nhiên, nhng bên cạnh đó, để đợc gọi là ngời nó còn phải tồn tại trong
cộng đồng xã hội, và biến đổi cùng với cộng đồng xã hội của mình. Bằng
khả năng của mình, con ngời tác động vào tự nhiên, xã hội làm biến đổi tự
nhiên và xã hội để phục vụ nhu cầu tự tồn tại, phát triển của mình. Ngợc lại,
những biến đổi của tự nhiên, của xã hội do con ngời tạo ra cũng tác động
chi phối trở lại con ngời, làm biến đổi con ngời. Do đó xét về khía cạnh xã
hội, thì "quyền con ngời, ngay từ khi có xã hội loài ngời, bên cạnh bản tính
tự nhiên còn in đậm bản tính xã hội" [65, tr. 13].
Khi xã hội hình thành giai cấp, hình thành nhà nớc đã tạo ra những
chuyển biến có tính "bớc ngoặt" trong sự biến đổi mối quan hệ tơng quan
giữa bản tính tự nhiên và bản tính xã hội của quyền con ngời. Đi kèm xã hội
có giai cấp là mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp; do đó, trong điều
kiện xã hội có giai cấp thì bản tính xã hội trở thành bản tính giai cấp. Và
ngay cả bản tính tự nhiên, những giá trị phổ biến của quyền con ngời cũng
tất yếu chịu sự chi phối của giai cấp thống trị xã hội.
Mặt khác, quyền con ngời, kể cả quyền tự nhiên, bẩm sinh còn bị
ràng buộc, chi phối vào chính khả năng khám phá chinh phục tự nhiên của
chính con ngời, nghĩa là phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện, phát triển của

quyền con ngời ở khía cạnh tự nhiên của nó.
Một học giả Việt Nam cho rằng:
Quyền con ngời là các khả năng của con ngời đợc đảm bảo
bằng pháp luật (luật quốc gia và luật quốc tế) về sử dụng và chi phối
các phúc lợi xã hội, các giá trị vật chất, văn hóa và tinh thần, sử dụng
quyền tự do trong xã hội trong phạm vi luật định và quyền quyết
định các hoạt động của mình và của ngời khác trên cơ sở pháp luật
[31, tr. 34].
Định nghĩa này cũng mới chỉ đề cập đến quyền con ngời với t cách
là phạm trù luật học.
Chúng tôi nhận thức rằng, khái niệm quyền con ngời phải là một
phạm trù tổng hợp, bao hàm cả bản chất và những thuộc tính đa diện -
nhiều mặt của nó. Có một định nghĩa đang đợc sử dụng phổ biến trong
giảng dạy, nghiên cứu về nhân quyền ở nớc ta hiện nay: "Nhân quyền (hay
quyền con ngời) là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con ngời,
với t cách là thành viên cộng đồng nhân loại, đợc thể chế hóa bằng pháp luật
quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [90, tr. 10]. Chúng tôi cho rằng,
khái niệm này bắt nguồn từ khái niệm của Mác về quyền con ngời. Theo Mác:
"Quyền con ngời là những đặc quyền chỉ có ở con ngời mới có, với t cách là
con ngời, là thành viên xã hội loài ngời" [57, tr. 14]. Định nghĩa này cũng t-
ơng ứng với nội dung của khái niệm quyền con ngời do Trởng đoàn đại biểu
Việt Nam phát biểu tại hội nghị quốc tế về nhân quyền ở Viên (áo) tháng 6
năm 1993: Quyền con ngời là một phạm trù tổng hợp, vừa là "chuẩn mực
tuyệt đối" mang tính phổ biến, vừa là "sản phẩm tổng hợp của một quá trình
lịch sử lâu dài luôn luôn tiến hóa và phát triền", quyền con ngời "không thể
tách rời", đồng thời cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển
kinh tế - xã hội Quyền con ngời là một tổng thể những quyền gắn bó với
nhau trong mối tơng quan biện chứng. Đó là quyền cá nhân và quyền của
dân tộc cộng đồng, quyền chính trị - dân sự và kinh tế văn hóa xã hội,
quyền của cá nhân đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội Trong thời đại ngày

quyền tự nhiên đợc pháp luật của một nớc quy định, mà tất cả những ngời
có chung quốc tịch của nớc đó đợc hởng một cách bình đẳng" [36, tr. 21].
Theo chúng tôi, các khái niệm trên tuy có sự diễn đạt khác nhau,
nhng về bản chất, nội dung đều xuất phát từ khái niệm về quyền công dân
của C. Mác. Về vấn đề này C. Mác cho rằng: "Quyền công dân là những
quyền chính trị, những quyền cá nhân con ngời, với t cách là thành viên "xã
hội công dân" [57, tr. 14].
Nh vậy, khái niệm công dân, quyền công dân ra đời sau quyền con
ngời, nó gắn liền và đợc sử dụng rộng rãi trong xã hội t sản.
So với khái niệm quyền con ngời thì khái niệm quyền công dân
mang tính xác định hơn. Vì thế, nội dung, số lợng, chất lợng quyền công
dân của mỗi quốc gia là khác nhau, và tùy thuộc vào thể chế chính trị xã
hội, vào giai cấp cầm quyền trong xã hội. Trớc đây ở các nớc xã hội chủ
nghĩa vấn đề quyền con ngời ít đợc nói đến, nên mặc nhiên đợc hiểu rằng
quyền con ngời và quyền công dân là đồng nhất. Trong các văn kiện pháp lý
(Hiến pháp, luật) chỉ tồn tại thuật ngữ quyền công dân. Ngay ở Việt Nam
cũng vậy, trong các Hiến pháp năm 1946, năm 1959, 1980 đều chỉ đề cập
đến quyền và nghĩa vụ của công dân mà không đề cập đến vấn đề quyền
con ngời. Chỉ đến Hiến pháp năm 1992, vấn đề quyền con ngời mới chính
thức đợc đề cập đến (Điều 50 Hiến pháp 1992).
1.1.1.3. Quan hệ giữa quyền con ngời, quyền công dân
Khi nghiên cứu vấn đề "nhân quyền", ta phải xem xét đầy đủ cả hai
khái niệm quyền con ngời - quyền công dân. Đây là hai khái niệm cơ bản,
có mối quan hệ biện chứng, mật thiết với nhau, nhng cũng có sự độc lập
nhất định với nhau và cần đợc phân biệt rõ khi tiếp cận vấn đề này.
Khái niệm quyền con ngời, là khái niệm rộng hơn so với khái niệm
quyền công dân. Nó không chỉ biểu hiện mối quan hệ giữa cá nhân với nhà n-
ớc mà còn thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân con ngời với cộng đồng xã hội.
Do đó, trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, quyền con ngời bao gồm
toàn bộ những quyền tự nhiên đợc xác định từ khi họ sinh ra và tồn tại trong

[57, tr. 14].
Và "Vì vậy, Mác - Ăngghen đã sử dụng cả hai khái niệm Quyền con
ngời và Quyền công dân" [57, tr. 14].
1.1.2. Khái niệm giáo dục quyền con ngời, quyền công dân
1.1.2.1. Các quan niệm khác nhau về giáo dục quyền con ngời,
quyền công dân
Hiện đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về giáo dục quyền
con ngời, quyền công dân.
- Quan niệm của giai cấp t sản: Các nớc t bản hiện đang rất quan
tâm đến vấn đề giáo dục quyền con ngời. Vấn đề này đợc các nớc phơng
Tây thực hiện thờng xuyên, liên tục cho mọi đối tợng cả trong phạm vi quốc
gia và cả trên phạm vi toàn cầu dới nhiều hình thức, phơng pháp khác nhau,
nhằm đạt đợc những mục đích khác nhau. Xuất phát từ lợi ích chính trị của
mình, họ chỉ tập trung vào việc giáo dục một số quan điểm về quyền con
ngời dới đây:
Ưu tiên giáo dục các quyền tự nhiên:
Quan niệm này xuất phát từ việc tuyệt đối hóa quyền tự nhiên của
con ngời, dẫn đến việc tuyệt đối hóa cá nhân trong quan hệ cộng đồng xã
hội, coi quyền con ngời là bất khả xâm phạm, không phụ thuộc vào không
gian, thời gian, quốc gia, dân tộc. Mục đích của việc giáo dục quan điểm
này nhằm:
Thứ nhất, đối với dân chúng trong nớc, quan điểm này tạo ra đợc
một hình thức xã hội dân chủ. Mọi ngời đều có quyền nh nhau trong việc
thực hiện các mục tiêu, ý tởng sống, đợc quyền tự do, quyền sở hữu, quyền
đợc an toàn và chống áp bức
Thứ hai, khi quyền, tự do cá nhân đợc đề cao tuyệt đối sẽ dẫn đến
việc triệt tiêu quyền lợi của tập thể, nhóm, giới, xóa nhòa quyền giai cấp và
sẽ dẫn đến hệ quả mà giai cấp t sản - giai cấp đang thống trị xã hội mong
muốn là ý thức đấu tranh giai cấp trong xã hội bị thủ tiêu, ý thức đấu tranh
đòi quyền lợi của tập thể dân c, sắc tộc, bộ phận xã hội bị xóa bỏ.

càng lỏng lẻo; thành công cá nhân ít có ảnh hởng đến gia đình, do
đó, khái niệm giai cấp cũng có phần mờ nhạt hơn. Ngày nay, các
khái niệm chủng tộc, gốc rễ dân tộc, địa phơng thờng át khái
niệm giai cấp. Vị trí xã hội không phải là một yếu tố ổn định,
thừa hởng của giai cấp nh nhiều nơi khác" [78, tr. 152].
ở Pháp, quốc gia đợc coi là cái nôi của quyền tự do công dân khi từ
năm 1789 đã công bố bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nổi tiếng.
Nội dung Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp gần đây nhất tiếp
tục đợc thể hiện trong Hiến pháp của Cộng hòa Pháp năm 1958, đã toát lên
t tởng chủ đạo của nó là:
Hoạt động tự do của con ngời là một quyền tự nhiên, vì
vậy, không cần phải liệt kê lại những quyền gì là đợc phép: tất cả
những gì luật pháp không nghiêm cấm đều đợc phép làm; ngợc
lại, cần phải xác định rõ những điều cần nghiêm cấm dĩ nhiên là
có xét đến những quy định trong Hiến pháp [47, tr. 370].
Đặc trng cơ bản cho các quyền tự do của con ngời đợc Hiến pháp
của Pháp ghi nhận là quyền sở hữu. ở đây, quyền này đợc quan niệm nh là
quyền sở hữu, sử dụng hay phân chia từng phần tùy theo ý chí chủ nhân.
Theo một số nhà nghiên cứu thì quyền này đã đợc phản ánh một cách nhất
quán và chi tiết hóa qua các tiêu chuẩn của Bộ luật Dân luật của Napoleon
năm 1804. Mà Bộ luật này theo nhận xét của Ăngghen chính là: "Là khung
Bộ luật cơ bản mẫu mực của xã hội t bản". Với tinh thần coi tài sản sở hữu
là nền tảng của tự do nêu trên, Điều 554 Bộ Dân luật Pháp quy định: "Sở
hữu là quyền đợc sử dụng và phân chia tài sản hoàn toàn tuyệt đối miễn sao
việc sử dụng và phân chia tài sản không phạm vào những gì sắc luật và quy
chế không cấm". Nhà làm luật không có quyền xâm phạm hoặc hạn chế quá
mức việc chiếm giữ, sử dụng và phân chia tài sản, phải theo đúng nguyên tắc:
"Cho phép làm tất cả những gì không gây phơng hại đến những ngời khác,
hay làm hại đến lợi ích xã hội" [47, tr. 372], hoặc theo ý kiến của Giscard
d'Estaing thì nhà làm luật:

lực nhà nớc" [47, tr. 410]. Nguyên tắc quyền tự chủ của nhân dân và học
thuyết quyền tự nhiên đợc tiếp tục thể hiện ở Điều 4 Luật cơ bản khi nội
dung của điều luật này tuyên bố cấm vi phạm và xuyên tạc các quyền của
con ngời.
Chỉ tập trung giáo dục các quyền dân sự và chính trị:
Quyền chính trị, dân sự vừa là mục đích, vừa là động lực của cách
mạng t sản. Vấn đề này tiếp tục đợc đề cao trong quá trình phát triển của
chủ nghĩa t bản vì những lý do chính trị của giai cấp t sản. Hiện nay, một số
nhà khoa học, nhà chính trị t sản vẫn tiếp tục phủ nhận ý nghĩa của các
quyền về kinh tế - xã hội đối với toàn bộ các quyền về chính trị, dân sự và
các quyền, tự do khác của con ngời. Họ cho rằng các quyền dân sự, chính
trị có tầm quan trọng hàng đầu trong việc đảm bảo thực hiện các quyền con
ngời. Thậm chí, họ còn phủ nhận cả trách nhiệm pháp lý của các quốc gia
trong việc bảo đảm thực hiện các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa. Mặc
dù các quyền đó đã đợc ghi rõ trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngời
và các Công ớc quốc tế khác về quyền con ngời. Một minh chứng rất điển
hình cho luận điểm này của giai cấp t sản là việc Liên Hợp Quốc cùng lúc
thông qua hai "Công ớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị" và "Công ớc
quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa". Giải thích về vấn đề này,
La-lê-ri Sa-lit-de cho rằng:
Khi Liên Hợp Quốc quyết định thảo ra một hiệp ớc về
quyền con ngời, Liên Xô tham gia hoàn chỉnh hiệp ớc này. Lập
trờng của Liên Xô về những quyền xã hội - kinh tế rất cứng rắn,
khó mà các nớc t bản thỏa hiệp đợc với Liên Xô trên lĩnh vực
này. Tuy thế, ngời ta vẫn tìm ra đợc cách nhân nhợng nhau, đáng
lẽ thảo chỉ một hiệp ớc về quyền con ngời, ngời ta đã thảo ra hai
bản. Hiệp ớc quốc tế về các quyền xã hội, kinh tế và văn hóa, chủ
yếu phản ánh quan điểm của Liên Xô và hiệp ớc quốc tế về các
quyền công dân và quyền chính trị của con ngời phản ánh chủ
yếu quan điểm phơng Tây [107, tr. 3].

các quyền và tự do cơ bản (quyền dân sự và chính trị "tự do" truyền thống)
đợc ghi rõ thuộc loại đầu thì lại không có những quy phạm đảm bảo cho các
quyền xã hội và những trờng hợp làm hại quyền xã hội không thể là căn cứ
để khiếu nại lên tòa án Hiến pháp.
Giáo dục quan điểm về quyền con ngời là tuyệt đối, vĩnh hằng,
phổ biến:
Chủ nghĩa nhân bản trừu tợng của giai cấp t sản cho rằng, nhân
quyền là quyền lợi vốn có không thể tớc đi đợc của con ngời với t cách là
con ngời. Mà quyền con ngời do "luật lệ của tự nhiên và của đấng tạo hóa
đã cho họ đợc hởng" [93, tr. 15] hoặc do "Quốc hội thừa nhận và tuyên bố,
với sự chứng kiến và sự bảo hộ của đấng tối cao, các quyền sau đây của con
ngời và của công dân" [94, tr. 21].
Vì thế, quyền con ngời trở nên tuyệt đối, vĩnh hằng và phổ biến.
Thậm chí các nhà lý luận chính trị của giai cấp t sản còn cho rằng quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status