Trách nhiệm pháp lý của công chức trong điều
kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
hiện nay Trần Thi
̣
Tố Thu Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và lch s nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: GS.TS. Hoàng Th Kim Qu
Năm bảo vệ: 2010 Abstract. Làm rõ khái niệm, đặc điểm, các hình thức trách nhiệm pháp lý của công
chức và mối quan hệ giữa trách nhiệm pháp lý của công chức với các dạng trách
nhiệm xã hội khác. Luận giải các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đối với trách nhiệm pháp lý của công chức. Phân tích thực trạng quy
đnh pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của công chức ở nước
ta hiện nay, bước đầu xác đnh những nguyên nhân mặt tích cực và hạn ch của thực
trạng đó. Luận giải các mục tiêu, phương hướng hoàn thiện trách nhiệm pháp lý của
công chức trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam hiện nay và kin ngh các giải pháp hoàn thiện trách nhiệm pháp lý của công
chức cả về quy đnh pháp luật lẫn tổ chức thực hiện.
Keywords. Pháp luật Việt Nam; Công chức; Nhà nước pháp quyền; Trách nhiệm
pháp lý
nước và pháp luật Việt Nam trước thềm thế kỷ XXI (Hà Nội, 2002) Nhìn chung, việc nghiên
cứu của các tác giả được quan tâm ở những góc độ khác nhau của phạm trù pháp lý được xem
xét, nhưng chưa nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề trách nhiệm pháp lý của công chức, nhất
là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Do đó,
việc nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống và sâu sắc vấn đề trên là việc làm có ý nghĩa quan
trọng về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề lý luận về trách nhiệm
pháp lý của công chức, thực trạng quy đnh pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp
lý của công chức, từ đó rút ra những kin ngh nhằm hoàn thiện quy đnh pháp luật về trách
nhiệm pháp lý của công chức, bảo đảm việc thực hiện tốt hơn ch đnh pháp lý này trong thực
tiễn, nhất là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Do tính chất của vấn đề nghiên cứu, tác giả không có tham vọng đi sâu vào tất cả các
khía cạnh của trách nhiệm pháp lý của công chức, mà chỉ tập trung nghiên cứu trách nhiệm
pháp lý của công chức - trách nhiệm tiêu cực đối với chủ thể chu trách nhiệm là công chức
nhà nước, và khảo sát thực trạng vi phạm pháp luật của công chức trong ngành Tòa án nhân
dân.
Phù hợp với mục đích và phạm vi nghiên cứu, luận văn có những nhiệm vụ chủ yu sau
đây:
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, các hình thức trách nhiệm pháp lý của công chức và mối
quan hệ giữa trách nhiệm pháp lý của công chức với các dạng trách nhiệm xã hội khác.
- Luận giải các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với
trách nhiệm pháp lý của công chức.
- Phân tích thực trạng quy đnh pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý
của công chức ở nước ta hiện nay, bước đầu xác đnh những nguyên nhân mặt tích cực và hạn
ch của thực trạng đó.
- Luận giải các mục tiêu, phương hướng hoàn thiện trách nhiệm pháp lý của công chức trong
điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay và kin ngh các
giải pháp hoàn thiện trách nhiệm pháp lý của công chức cả về quy đnh pháp luật lẫn tổ chức
thực hiện.
công chức, cũng như thực trạng vi phạm pháp luật của công chức và thực tiễn áp dụng trách
nhiệm pháp lý đối với công chức vi phạm.
- Đề xuất được những giải pháp hoàn thiện quy đnh của pháp luật về trách nhiệm pháp lý
của công chức và những giải pháp bảo đảm việc thực hiện trách nhiệm pháp lý của công chức
trong thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Những kt luận và kin ngh của luận văn có ý nghĩa thực tiễn trong việc nghiên cứu
hoàn thiện các quy đnh của pháp luật hiện hành về trách nhiệm pháp lý của công chức, đồng
thời làm tư liệu nghiên cứu phục vụ quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam.
Ngoài ra, luận văn có thể được s dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu,
giảng dạy chuyên sâu về trách nhiệm pháp lý của công chức.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kt luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 3
chương, 9 mục. Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
CỦA CÔNG CHỨC TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG
NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1.1. Khái niệm công chức và trách nhiệm pháp lý của công chức
1.1.1. Khái niệm công vụ
Ở mỗi giai đoạn lch s khác nhau, ch độ nhà nước khác nhau nền công vụ được quy
đnh khác nhau. Vì th mà có những cách hiểu khác nhau về công vụ.
Xuất phát từ đặc thù của hệ thống chính tr nước ta, công vụ được hiểu là một loại lao
động mang tính phục vụ, tính quyền lực và pháp lý, được thực thi bởi đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trong quá trình quản lý toàn
diện các mặt hoạt động của đời sống xã hội.
1.1.2. Khái niệm công chức
Khái niệm công chức được quy đnh tại khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm
- Cơ sở trách nhiệm pháp lý của công chức là vi phạm pháp luật trong hoạt động công vụ.
Trong những trường hợp nhất đnh, việc vi phạm đạo đức, vi phạm điều lệ của tổ chức chính
tr cũng là cơ sở trách nhiệm pháp lý của công chức.
- Bình đẳng trong quan hệ trách nhiệm với công dân. Công chức vi phạm, không có đặc
quyền, đặc lợi, thậm chí trong những trường hợp nhất đnh họ phải chu trách nhiệm pháp lý
tăng nặng so với công dân.
- Công chức lãnh đạo phải chu trách nhiệm liên đới về hành vi vi phạm pháp luật của
công chức thuộc quyền quản lý.
- Lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn.
1.1.3.3. Mối quan hệ giữa trách nhiệm pháp lý của công chức với các dạng trách nhiệm
xã hội khác
Với tư cách là một loại hình của trách nhiệm pháp lý, đồng thời xuất phát từ đặc thù của
hệ thống chính tr ở nước ta, trách nhiệm pháp lý của công chức có mối quan hệ và tác động
qua lại, chặt chẽ với các loại hình khác của trách nhiệm xã hội. Trong đó đáng quan tâm nhất
là trách nhiệm chính tr và trách nhiệm đạo đức của công chức.
Cơ sở của mối quan hệ này được khẳng đnh thông qua các quy đnh của pháp luật và
điều lệ của các tổ chức chính tr, chính tr - xã hội.
1.2. Các hình thức trách nhiệm pháp lý của công chức và quan hệ giữa chúng
1.2.1. Trách nhiệm kỷ luật của công chức
Trách nhiệm kỷ luật của công chức là một trong các hình thức trách nhiệm pháp lý của
công chức.
Cơ sở trách nhiệm kỷ luật của công chức là vi phạm kỷ luật. Chủ thể áp dụng trách nhiệm
kỷ luật là thủ trưởng cơ quan, đơn v nơi có công chức vi phạm. Giữa chủ thể áp dụng và người
vi phạm có quan hệ trực thuộc về tổ chức.
Khác với trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự, trách nhiệm kỷ luật là hình thức
trách nhiệm cơ bản nhất của công chức trong hoạt động công vụ. Trong những trường hợp nhất
đnh nó được áp dụng đồng thời với các dạng trách nhiệm pháp lý khác của công chức (hình sự,
hành chính, vật chất).
1.2.2. Trách nhiệm hình sự của công chức
Trách nhiệm hình sự của công chức là hình thức trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất.
Trách nhiệm vật chất là hình thức trách nhiệm pháp lý của công chức. Cơ sở trách
nhiệm vật chất của công chức là sự thực hiện vi phạm pháp luật trong hoạt động công vụ,
gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước và của công dân. Cũng như trách nhiệm kỷ luật, chủ
thể áp dụng trách nhiệm vật chất là thủ trưởng cơ quan nhà nước quản lý công chức vi
phạm. Việc áp dụng hình thức trách trách nhiệm này cũng được tin hành theo thủ tục hành
chính.
Giữa trách nhiệm vật chất và các hình thức trách nhiệm pháp lý khác của công chức có
mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Chúng thường được áp dụng đồng thời trong các trường hợp vi
phạm pháp luật gây ra thiệt hại về tài sản cho Nhà nước.
1.3. Yêu cầu của quá trình xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đối với trách nhiệm pháp lý của công chức
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm Nhà nước pháp quyền
Xây dựng nhà nước pháp quyền tức là xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng; là xây
dựng một xã hội tự do, thấm nhuần đạo đức, nhân cách con người, nhưng là một xã hội có kỷ
cương, kỷ luật. Trong nhà nước pháp quyền, tất cả các chủ thể, kể cả Nhà nước mà trước ht
là Nhà nước, đều phục tùng luật pháp, tự hạn ch bởi pháp luật - một pháp luật mang tính
pháp quyền, thấm nhuần những giá tr cao nhất của xã hội, của con người.
Nhà nước pháp quyền có những đặc trưng cơ bản sau đây:
- Vai trò tối cao của hin pháp và các đạo luật;
- Quyền con người, các quyền dân chủ được pháp luật bảo đảm và bảo vệ;
- Giữa nhà nước và công dân có mối quan hệ bình đẳng về quyền, nghĩa vụ và trách
nhiệm;
- Nhà nước tự hạn ch và b ràng buộc bởi pháp luật;
- Việc xây dựng, tổ chức nhà nước và thực hiện quyền lực nhà nước dựa trên cơ sở pháp
luật;
- Nền tư pháp độc lập, phát triển và vận hành hiệu quả;
- Tôn trọng các điều ước quốc t mà nhà nước ký kt hay gia nhập.
Ngoài các đặc điểm chung nhà nước pháp quyền, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam có các đặc trưng sau đây:
- Là Nhà nước của nhân dân, do dân, vì nhân dân;
Chương 2
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÔNG CHỨC
2.1. Thực trạng quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của công chức
2.1.1. Về trách nhiệm kỷ luật của công chức
Pháp luật về trách nhiệm kỷ luật của công chức đã xác đnh về nguyên tắc những vấn đề
về vi phạm kỷ luật - cơ sở trách nhiệm kỷ luật, biện pháp trách nhiệm kỷ luật và thủ tục x lý
kỷ luật. Tuy nhiên, pháp luật về trách nhiệm kỷ luật của công chức còn có những tồn tại sau
đây:
- Khách thể vi phạm kỷ luật được quy đnh còn chung chung.
- Chưa làm rõ th nào là vi phạm kỷ luật ở mức độ nhẹ, nặng, tái phạm và vi phạm nhiều
lần.
- Yu tố lỗi, động cơ mục đích vi phạm của công chức chưa được quy đnh rõ.
- Chưa quy đnh cụ thể trách nhiệm kỷ luật liên đới của công chức lãnh đạo khi công
chức thuộc quyền vi phạm.
- Pháp luật về trách nhiệm kỷ luật trong hầu ht các văn bản chưa lượng hóa được các
hành vi vi phạm.
2.1.2. Về trách nhiệm hình sự của công chức
Pháp luật quy đnh về trách nhiệm hình sự đối với người có chức vụ nói chung, công
chức nhà nước nói riêng đã từng bước được quan tâm hoàn thiện. Tuy nhiên, những quy đnh
như "đã b x phạt hành chính", "đã b x lý kỷ luật" hoặc "gây hậu quả nghiêm trọng" trong
phần tội phạm có chức vụ chưa được cụ thể hóa.
2.1.3. Về trách nhiệm hành chính
Pháp luật về trách nhiệm hành chính những năm qua đã được các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quan tâm hoàn thiện. Tuy nhiên, với trách nhiệm hành chính của công chức còn
những tồn tại sau đây:
- Hệ thống các biện pháp trách nhiệm hành chính của chúng ta chưa đa dạng, còn bất cập.
Như việc áp dụng hình thức phạt tiền trong thực t không phải lúc nào cũng đạt được kt quả
truy cứu trách nhiệm pháp lý kp thời đối với những cán bộ, công chức nhà nước vi phạm pháp
luật. Nhiều vụ án lớn về kinh t - xã hội, an ninh trật tự như vụ án cầu Bãi Cháy – PMU18; vụ án
Bùi Tin Dũng; vụ đất đai ở Đồ Sơn; vụ Mạc Kim Tôn; vụ Mai Văn Dâu; vụ án than Quảng
Ninh, vụ Đề án 112, vụ án tại Ngân hàng Đầu tư chi nhánh Đông Đô Hà Nội, vụ án nhận hối lộ
xảy ra tại cơ quan Công an và Tòa án tỉnh Quảng Ninh liên quan đn tham nhũng, tiêu cực, lãng
phí, tha hóa, bin chất của đội ngũ cán bộ, công chức, trong đó có sự tham gia của một số cán bộ
cao cấp trong bộ máy Đảng, chính quyền đã b phát hiện, x lý. Việc x lý đã có nhiều chuyển
bin, tuân thủ quy đnh của pháp luật về trách nhiệm pháp lý nói chung, trách nhiệm pháp lý của
công chức nói riêng, bảo đảm đúng trình tự, thủ tục, đúng người, đúng tội, từng bước hạn ch
những vi phạm pháp luật và yu kém trong hoạt động quản lý, thu hồi cho ngân sách nhà nước
nhiều tỷ tỷ đồng, tăng cường kỷ luật kỷ, cương hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý,
giữ vững ổn đnh chính tr và trật tự an toàn xã hội, củng cố được niềm tin của nhân dân với
chính quyền các cấp.
Mặc dù việc áp dụng trách nhiệm pháp lý của công chức thời gian qua đã có nhiều tin bộ
tích cực như đã trình bày ở trên, nhưng vẫn chưa tạo được bước chuyển căn bản trong x lý vi
phạm, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Tệ tham ô, bòn rút tài
sản công, sách nhiễu, lãng phí vẫn tồn tại khá phổ bin ở mức độ và hình thức khác nhau trong
đội ngũ cán bộ, bộ máy lãnh đạo và quản lý, nhất là trong lĩnh vực quản lý nhà đất, xây dựng cơ
bản, doanh nghiệp nhà nước và chi tiêu ngân sách; việc kiểm tra uốn nắn và x lý các sai
phạm chưa nghiêm, còn để lại nhiều vụ việc, chưa kiên quyt x lý kỷ luật đối với những
người đứng đầu để xảy ra tham nhũng, lãng phí ở ngành, lĩnh vực, đa phương mình quản lý.
Công tác thi hành án và x lý tội phạm còn nhiều trường hợp thiu kiên quyt, kp thời.
2.2.2. Thực trạng vi phạm pháp luật của công chức ngành Tòa án nhân dân
Riêng trong ngành Tòa án, trong thời gian qua, Tòa án nhân dân tối cao và các tòa án
nhân dân cấp tỉnh đã thường xuyên quan tâm, thực hiện tốt công tác giải quyt các đơn thư khiu
nại, tố cáo của nhân dân và kiểm tra giám đốc thẩm việc xét x của Tòa án cấp trên đối với cấp
dưới. Trên cơ sở đó đã kp thời chấn chỉnh, khắc phục yu kém, sai sót trong công tác xét x
cũng như phát hiện ra các hành vi vi phạm pháp luật của công chức ngành Tòa án và đề ra biện
pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác xét x, đảm bảo công bằng xã hội.
2.3. Những mặt tích cực và hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về trách nhiệm
+ Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức chính tr, chính tr xã hội trong việc
x lý công chức vi phạm còn nhiều bất cập.
+ Công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức pháp luật cho đội ngũ công chức, cũng như
thực hiện quy ch dân chủ ở cơ quan còn hình thức.
+ Công tác tổng hợp, x lý các số liệu liên quan đn trách nhiệm pháp lý của cán bộ,
công chức chưa được chú trọng.
+ Tư tưởng, nhận thức, ý thức không tốt còn tồn tại trong một bộ phận đội ngũ công chức
ở các cấp, các ngành.
+ Công chức chưa được giáo dục thường xuyên và nghiêm túc về ý thức trách nhiệm,
bổn phận trong thi hành công vụ.
+ Công tác bố trí, s dụng, đánh giá đề bạt cán bộ còn nhiều tồn tại, chậm đổi mới, nhiều
cán bộ lãnh đạo, quản lý không đủ năng lực, phẩm chất để thực hiện nhiệm vụ được giao.
+ Nhiều công chức chưa nắm vững quy đnh của pháp luật, năng lực vận dụng pháp luật vào
công tác đấu tranh phòng chống vi phạm, tội phạm còn yu.
Tóm lại, chương 2 của luận văn tập trung vào phân tích thực trạng quy đnh pháp luật và
thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của công chức; nguyên nhân của thực trạng thực
hiện trách nhiệm pháp lý của công chức. Đây là căn cứ để kin ngh hoàn thiện trách nhiệm
pháp lý của công chức. Chương 3
PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÔNG CHỨC
TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
3.1. Tính tất yếu khách quan của việc hoàn thiện pháp luật trách nhiệm pháp lý của
công chức
cường pháp ch xã hội chủ nghĩa.
- Nâng cao ý thức pháp luật và đạo đức công vụ cho đội ngũ công chức nhà nước. Kt
hợp tốt các biện pháp trách nhiệm pháp lý của công chức với các biện pháp trách nhiệm xã
hội trong x lý công chức vi phạm pháp luật.
- Tăng cường trách nhiệm pháp lý của công chức gắn với việc sa đổi bổ sung hệ thống
ngạch, bậc, các quy đnh hiện hành về tiêu chuẩn nghiệp vụ, chức danh cán bộ, công chức,
các quy đnh về ch độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức; quy ch hóa quy trình
giải quyt công việc của các cơ quan hành chính nhà nước; xác lập cơ ch quản lý cán bộ,
công chức phù hợp với hệ thống phân loại cán bộ, công chức.
3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý
của công chức
3.3.1. Nhóm các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật
1- Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, đáp ứng nhu cầu đổi mới của hoạt động
quản lý, theo chúng tôi cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật cán bộ, công
chức cho đồng bộ. Phải quy đnh rõ được tính chất, phạm vi hoạt động công vụ, và quy ch
công vụ cho phù hợp.
2- Hoàn thiện các quy đnh pháp luật về trách nhiệm pháp lý của công chức, bao gồm
trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm vật chất. Cụ
thể:
a) Đối với trách nhiệm kỷ luật của công chức
- Chính phủ cần sớm sa đổi Ngh đnh số 97/1998/NĐ-CP và Ngh đnh 118/2006/NĐ-
CP về x lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất của công chức phù hợp với Luật cán bộ công
chức. Đồng thời, xác đnh rõ tính chất của khách thể b xâm hại, mức độ hậu quả, tái phạm kỷ
luật và vi phạm kỷ luật nhiều lần, yu tố lỗi và hình thức biểu hiện; ch độ thống kê, thông tin
báo cáo về vi phạm kỷ luật và việc áp dụng các biện pháp trách nhiệm; bổ sung trách nhiệm
đối với người tham mưu và ký ban hành các quyt đnh hành chính sai trái, gây hậu quả cho
xã hội.
- Chính phủ cần sớm xây dựng và ban hành ngh đnh quy đnh về trách nhiệm liên đới của thủ
trưởng cơ quan nơi có công chức vi phạm pháp luật theo nguyên tắc người đứng đầu cơ quan
hành chính nhà nước có thẩm quyền và trách nhiệm đầy đủ trong việc quản lý, điều hành cơ quan
Nhà nước đối với công chức khi Nhà nước gây thiệt hại cho công chức về vật chất, tinh thần;
trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong khi tham gia giải quyt bồi
thường thiệt hại.
3- Để công chức thực hiện tốt chức trách, bổn phận của mình trong hoạt động công vụ, Chính
phủ cần sớm quy đnh về ch độ trách nhiệm, ch độ kỷ luật, ch độ bảo vệ của công và ch độ
phục vụ nhân dân của cán bộ, nhân viên và cơ quan nhà nước cho phù hợp với yêu cầu quản lý
trong giai đoạn mới. Bên cạnh đấy, cũng cần ban hành ngay ngh đnh về phân cấp quản lý, s
dụng, đánh giá công chức, trong đó, quy đnh rõ trách nhiệm, thẩm quyền của các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
trong việc quản lý, s dụng đánh giá công chức.
Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, đa phương cần cụ thể hóa thành các văn bản của bộ, ngành đa
phương và tổ chức thực hiện nghiêm túc chúng trên thực t. Trong đó, cần nhấn mạnh khía cạnh
đạo đức công vụ trong từng ngành, lĩnh vực.
4- Trách nhiệm chính tr của công chức nhà nước phải được pháp luật hóa, phải được
thẩm thấu vào trách nhiệm pháp lý. Quá trình hoàn thiện pháp luật cần thit phải phân biệt
trách nhiệm của nền công vụ, với trách nhiệm pháp lý của công chức.
5- Chính phủ cần quy đnh về công tác thống kê, ch độ báo cáo và mối quan hệ của các
bộ, ngành, đa phương trong việc thống kê các vi phạm pháp luật của công chức. Bộ Nội vụ
là đầu mối tổng hợp chung.
6- Hoàn thiện hệ thống thể ch về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà
nước trên cơ sở đnh rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Rà soát thủ tục hành chính để sa đổi, loại bỏ những thủ tục không phù hợp, tạo cơ ch
nhũng nhiễu cho công chức trong thi hành công vụ.
7- Ban hành văn bản pháp luật hướng dẫn chi tit việc giải quyt khiu nại, tố cáo đối với
quyt đnh kỷ luật công chức trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.
8- Xây dựng quy ch phối hợp giữa công an, Tòa án, Viện kiểm sát, thanh tra, kiểm tra
Đảng về x lý các hành vi vi phạm pháp luật của công chức.
3.3.2. Nhóm các giải pháp về tổ chức, hoạt động và áp dụng pháp luật về trách nhiệm
pháp lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
1- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực thực thi công vụ, có phẩm chất chính tr, đạo
chức được hình thành từ những năm đầu thành lập nước, đã đóng vai trò quan trọng trong bảo
vệ trật tự quản lý, duy trì hoạt động của nền công vụ. Từ năm 1998, đặc biệt từ thời điểm ban
hành Pháp lệnh cán bộ, công chức, Pháp lệnh chống tham nhũng tới nay đã thể ch hóa thành
Luật cán bộ, công chức và Luật phòng, chống tham nhũng, ch đnh này đã từng bước phát
triển, tuy còn nhiều vấn đề cần đặt ra.
Cơ sở pháp lý của trách nhiệm pháp lý của công chức là sự thực hiện bởi chủ thể (công chức)
có hành vi vi phạm pháp luật. Vi phạm pháp luật của công chức trong hoạt động công vụ có thể
khái quát thành bốn loại vi phạm và tương ứng với chúng là bốn hình thức trách nhiệm (kỷ luật,
hình sự, hành chính, vật chất).
Trách nhiệm pháp lý của công chức có nét đặc thù riêng, đây chính là căn cứ để phân biệt
trách nhiệm pháp lý của công chức với các dạng trách nhiệm pháp lý khác: 1) Công chức là
chủ thể trách nhiệm pháp lý của công chức; 2) Cơ sở của trách nhiệm pháp lý của công chức
là vi phạm pháp luật trong hoạt động công vụ. Trong những trường hợp nhất đnh, việc vi
phạm đạo đức, vi phạm điều lệ của tổ chức chính tr cũng là cơ sở của trách nhiệm pháp lý
của công chức; 3) Mức độ trách nhiệm pháp lý của công chức nặng hơn so với công dân bình
thường nu họ thực hiện cùng một vi phạm pháp luật với tính chất và mức độ như nhau
(nguyên tắc trách nhiệm tăng nặng); 4) Công chức lãnh đạo phải chu trách nhiệm liên đới về
hành vi vi phạm pháp luật của công chức thuộc quyền quản lý; và 5) Lợi dụng chức vụ,
quyền hạn hoặc lạm dụng chức vụ quyền hạn để vi phạm.
Giữa trách nhiệm pháp lý của công chức với các dạng trách nhiệm xã hội khác (trách
nhiệm chính tr, trách nhiệm đạo đức) của công chức có mối quan hệ mật thit với nhau.
Pháp luật về trách nhiệm hình sự và hành chính về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu quản lý.
Tuy nhiên, pháp luật về trách nhiệm kỷ luật và vật chất còn nhiều tồn tại, cần thit phải có sự điều
chỉnh chi tit hơn đối với sự vi phạm kỷ luật nhiều lần và tái phạm kỷ luật, cũng như sự chi tit hóa
các hành vi vi phạm kỷ luật cụ thể và tương ứng với nó là các biện pháp trách nhiệm kỷ luật. Pháp
luật nước ta về trách nhiệm kỷ luật và còn thiu vắng các quy đnh về trách nhiệm của người đứng
đầu để xảy ra tiêu cực, tham nhũng tại cơ quan, đơn v mình phụ trách, trách nhiệm liên đới của Thủ
trưởng cơ quan, trách nhiệm pháp lý tập thể, trách nhiệm của người tham mưu và người ra các quyt
đnh hành chính sai trái; còn nặng chú trọng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý dưới giác
độ tiêu cực, mà ít chú trọng đn việc hoàn thiện và kiểm tra thực hiện trách nhiệm pháp lý dưới giác
công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền tố tụng gây ra, Hà Nội.
5. Chính phủ (1998), Nghị định số 96/1998/NĐ-CP ngày 17/11 về chế độ thôi việc đối với
cán bộ, công chức, Hà Nội.
6. Chính phủ (1998), Nghị định số 97/1998/NĐ-CP ngày 17/11 về xử lý kỷ luật và trách
nhiệm vật chất đối với công chức, Hà Nội.
7. Chính phủ (1999), Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 7/8 quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành Luật khiếu nại, tố cáo, Hà Nội.
8. Chính phủ (2003), Nghị định số 117/NĐ-CP/2003 ngày 10/10 về tuyển dụng, sử dụng và
quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, Hà Nội.
9. Chính phủ (2005), Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3 về xử lý kỷ luật và trách
nhiệm vật chất đối với công chức, Hà Nội.
10. Chính phủ (2006), Nghị định số 118/2006/NĐ-CP ngày 10/10 về xử lý kỷ luật và trách
nhiệm vật chất đối với công chức, Hà Nội.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb
Chính tr quốc gia, Hà Nội.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính tr quốc gia, Hà Nội.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
Chính tr quốc gia, Hà Nội.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính tr
quốc gia, Hà Nội.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX, Nxb Chính tr quốc gia, Hà Nội.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung
ương khóa IX, Nxb Chính tr quốc gia, Hà Nội.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb
Chính tr quốc gia, Hà Nội.
18. Học viện Hành chính Quốc gia (1996), Về nền hành chính nhà nước Việt Nam những
kinh nghiệm xây dựng và phát triển, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
19. Học viện Hành chính Quốc gia (1996), Cưỡng chế hành chính nhà nước, Hà Nội.
gây ra, Hà Nội.
40. Ủy ban kiểm tra Trung ương (2002), Công tác kiểm tra và thi hành kỷ luật trong Đảng,
Hà Nội.
41. Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (1993), Những vấn đề lý luận về nền chính trị và
hệ thống chính trị nước ta, Đề tài nghiên cứu khoa học, Hà Nội.
42. Nguyễn Cu Việt (2002), "Dân chủ trực tip và Nhà nước pháp quyền", Nghiên cứu Lập
pháp.
43. Võ Khánh Vinh (1996), Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ,
Nxb Chính tr quốc gia, Hà Nội.