Quyền lập quy của chính phủ việt nam trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền - Pdf 10


1

Quyền lập quy của Chính phủ Việt Nam trong
điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền
The authority to make regulations of Vietnamese Government in
condition of building the rule of law
NXB H. : Khoa Luật, 2012 Số trang 91 tr. +
Đặng Phương Hải

Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: GS.TS. Nguyễn Đăng Dung
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Nghiên cứu các khía cạnh pháp lý và lý luận của quyền lập quy của Chính phủ
trong các lý thuyết của thế giới và Việt Nam cũng như các quy định hiện hành của pháp
luật Việt Nam, đưa ra những nhận xét, đánh giá về các quy định pháp luật cũng như việc
“thực tiễn hoá” những quy định này. Phác họa và đưa ra nhận định về xu hướng phát triển,
hoàn thiện lý luận và quy định pháp luật về quyền lập quy trong điều kiện kinh tế - xã hội
hiện nay của Việt Nam và sự vận dụng, áp dụng những quy định này trong thực tế. Đưa ra
một số kiến nghị và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống lý luận và các quy
định hiện hành có liên quan đến quyền lập quy của người dân và một số giải pháp phục vụ
việc hình thành và phát triển cơ chế thực thi một cách có hiệu quả nhất có thể những quy
định pháp luật này trong thực tiễn đời sống Việt Nam hiện nay.

Keywords: Nhà nước pháp quyền; Chính phủ; Quyền lập quy; Pháp luật Việt Nam

Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính phủ và quyền lập quy đã là một đối tượng nghiên cứu không chỉ của luật học mà

đồng thời có sự vận dụng sáng tạo, phù hợp với điều kiện, đặc điểm xã hội của Việt Nam hiện
nay. Điều này được thể hiện ở chỗ gần đây, trong khi Đảng Cộng Sản Việt Nam đang trong giai
đoạn sửa đổi Chính cương trong đó có những vấn đề liên quan đến chính phủ và quyền lập quy thì
Quốc hội cũng đã và đang trong quá trình nghiên cứu, thảo luận xây dựng lại Hiến Pháp và các
luật về tổ chức chính quyền trong đó tập trung về cải cách chính phủ và làm sáng tỏ quyền lập quy
tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng cho hoạt động của cơ quan hành pháp các cấp.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các khía cạnh pháp lý và lý luận của quyền lập quy của
Chính phủ trong các lý thuyết của thế giới và Việt Nam cũng như các quy định hiện hành của
pháp luật Việt Nam. Trong nội dung trình bày, tác giả sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá về các
quy định pháp luật cũng như việc “thực tiễn hoá” những quy định này trong thực tế.
Ngoài ra, tác giả sẽ cố gắng phác họa và đưa ra nhận định về xu hướng phát triển, hoàn
thiện lý luận và quy định pháp luật về quyền lập quy trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay của
Việt Nam và sự vận dụng, áp dụng những quy định này trong thực tế.
* Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một Luật văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học, tác giả Luận văn chỉ tập trung
khai thác và nghiên cứu đề tài ở phạm vi những vấn đề pháp lý liên quan đến quyền lập quy của
Chính phủ ở Việt Nam hiện nay.

3

Đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu với đối tượng là các lý thuyết và quy định hiện hành của pháp luật
Việt Nam có liên quan đến quyền lập quy của Chính phủ cũng như việc áp dụng (bao gồm cả cách thức
và nội dung áp dụng) những quy định này trong đời sống xã hội thực tế hiện nay tại Việt Nam.
Đề tài tiếp cận có chọn lọc và trọng tâm một số nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin với
phạm vi không gian địa lý ngoài Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
* Phƣơng pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin. Bên

pháp luật trong các luật, nghị quyết của Quốc hội. Mặc dù pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội là văn bản dưới luật thuộc lập pháp ủy quyền, nhưng không thể coi đó là
những văn bản thuộc quyền lập quy.
Quyền lập quy của Chính phủ là thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới luật và văn bản
quy phạm pháp luật liên tịch trên cơ sở và để thi hành luật và văn bản pháp luật của cơ quan nhà
nước cấp trên theo hình thức, thủ tục và trình tự do pháp luật quy định.
1.1.2.2. Đối tƣợng của quyền lập quy của chính phủ
Theo Hiến pháp 1992 thì: ''Chính phủ ra nghị quyết, nghị định, Thủ tướng Chính phủ ra
quyết định, chỉ thị'' và ''các thành viên khác của Chính phủ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính
phủ ra quyết định, chỉ thị, thông tư'' [Điều 116]. Lần đầu tiên, hiến pháp ghi nhận thẩm quyền của
thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ ra ''quyết định, chỉ thị, thông tư''. Để cải cách bộ máy của
Chính phủ, giảm bớt cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước, Hiến pháp năm
1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 bỏ thẩm quyền của cơ quan thuộc Chính phủ trong việc
ban hành ''quyết định, chỉ thị, thông tư'''.
Xét về tính chất pháp lý, các hình thức văn bản pháp luật của Chính phủ đã được các hiến
pháp của nước ta ghi nhận nêu trên có thể là văn bản cá biệt, áp dụng một lần đối với một đối
tượng cụ thể như: sắc lệnh (của Chủ tịch Chính phủ trước đây) bổ nhiệm bộ trưởng; nghị định về
thành lập, giải thể đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh; quyết định tăng lương cho cán bộ, công chức;
chỉ thị đôn đốc cấp dưới thực hiện một số nhiệm vụ trong một thời gian nhất định hoặc các văn
bản nêu trên có chứa quy phạm pháp luật thì đó là văn bản pháp quy.
1.2. Cơ sở lí luận cho sự ra đời quyền lập quy của Chính phủ
Hoạt động lập quy của chính phủ là một trong những hoạt động chính của chính phủ. Hoạt
động lập quy của chính phủ ở các nước nói chung và ở nước ta nói riêng được thực hiện trong ba
lĩnh vực cơ bản sau đây: Thứ nhất, Chính phủ ban hành rất nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật
khác nhau trên cơ sở và để thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Thứ hai, Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật
theo sự cho phép trực tiếp hay gián tiếp của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Thứ ba,
Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có các quy tắc chung về các vấn đề chỉ thuộc
thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội mà không có sự cho phép (trước Luật ban

của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ bị giới hạn bởi
không gian. Thứ ba, thẩm quyền lập quy của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ bị giới hạn bởi thời gian, đặc biệt đối với các quan hệ, hành vi đã được xác
lập trong quá khứ, việc áp dụng hiệu lực hồi tố phải thỏa mãn những điều kiện nhất định.
1.4.2. Giám sát quyền lập quy của chính phủ
Để bảo đảm quyền lập quy của chính phủ không đi ngược lại quyền lợi của nhân dân,
không trái với hiến pháp, không lấn sang quyền lập pháp, quyền lập quy của chính phủ cần được
đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan lập pháp, của tòa án, cũng như sự giám sát từ bên ngoài
của báo chí, các tổ chức phi chính phủ.
1.4.2.1. Giám sát của cơ quan lập pháp.
Giám sát của cơ quan lập pháp đối với hoạt động lập quy có vai trò khác nhau, tùy thuộc
vào hình thức chính thể của mỗi quốc gia. Trong mô hình cộng hòa tổng thống, vai trò giám sát
của nghị viện đối với hoạt động lập quy của chính phủ thường thể hiện thông qua các phiên điều

6

trần ở các ủy ban của nghị viện. Nghị viện có thể yêu cầu chính phủ báo cáo bất cứ vấn đề gì liên
quan quyền lập quy. Khi phát hiện một văn bản quy phạm pháp luật do chính phủ ban hành có vấn
đề, thì Nghị viện không có quyền đình chỉ hủy bỏ như ở Việt Nam. Vì trong mô hình này, nguyên
tắc tam quyền phân lập được tuân thủ rất chặt chẽ. Việc tuy bố một văn bản của chính phủ có trái
với luật của nghị viện hay hiến pháp hay không, sẽ không thuộc quyền của nghị viện, mà thuộc về
một cơ quan mang tính chất trung lập: tòa án.
1.4.2.2. Giám sát tƣ pháp
Về phương diện pháp lý, giám sát tư pháp (của tòa án) đối với hoạt động lập quy là
phương thức giám sát quan trọng nhất, bởi nó cụ thể nhất, thường xuyên nhất, khoa học nhất,
minh bạch nhất, khách quan nhất và hiệu quả nhất.
1.4.2.3. Giám sát phi quan phƣơng
Trong xã hội dân chủ và thượng tôn pháp luật (rule of law) thì chính phủ luôn phải dè
chừng trong hoạt động lập quy của mình. Bởi vì bên cạnh hai cơ chế giám sát bên trong vừa trình
bày ở trên, thì còn tồn tại những cơ chế giám sát phi quan phương có hiệu lực rất lớn như báo chí,

thảo; Bước 2. Thành lập tổ biên tập; Bước 3. Tổ chức soạn thảo, Bước 4. Lấy ý kiến; Bước 5.
Thẩm định; Bước 6. Trình Thủ tướng Chính phủ; Bước 7. Ban hành quyết định của Thủ tướng
Chính phủ
2.1.4. Hoạt động lập quy của Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trƣởng cơ quan
thuộc Chính phủ.
Việc xây dựng, ban hành thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ được tiến
hành theo các bước sau: Bước 1. Phân công soạn thảo; Bước 2. Tổ chức soạn thảo; Bước 3. Lấy ý
kiến; Bước 4. Thẩm định; Bước 5. Trình ký; Bước 6. Ban hành
Đối với các thông tư liên tịch của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thì quy trình
soạn thảo và ban hành được thực hiện theo các bước sau: Bước 1. Phân công soạn thảo; Bước 2.
Tổ chức soạn thảo; Bước 3. Lấy ý kiến; Bước 4. Thẩm định; Bước 5. Trình ký; Bước 6. Ban hành.
2.2. Giám sát quyền lập quy của chính phủ ở Việt Nam
2.2.1. Quy định của pháp luật về giám sát, kiểm sát, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm
pháp luật của Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ, Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang Bộ
2.2.1.1. Thẩm quyền của Quốc hội trong việc giám sát và xử lý văn bản quy phạm
pháp luật của Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ
Khoản 9 Điều 84 Hiến pháp năm 1992, khoản 9 Điều 2 Luật Tổ chức Quốc hội năm 1992,
khoản 9 Điều 2 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001, khoản 2 Điều 81 Luật năm 1996 quy định thẩm
quyền của Quốc hội là bãi bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trái với Hiến
pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội.
2.2.1.2. Thẩm quyền của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội trong việc giám sát và xử lý văn
bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ
Ủy ban thường vụ Quốc hội đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc
huỷ bỏ các văn bản đó; huỷ bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trái với pháp
lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội [khoản 5 Điều 91 Hiến pháp 1992]. Như vậy,
Hiến pháp 1992 có quy định không thống nhất về biện pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật của

8


cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những
quy định do các cơ quan đó ban hành trái với các văn bản pháp luật của Nhà nước hoặc của Bộ, cơ
quan ngang Bộ về ngành, lĩnh vực do Bộ, cơ quan ngang Bộ phụ trách; nếu người nhận được kiến
nghị không nhất trí thì trình lên Thủ tướng quyết định [Điều 25 Luật Tổ chức Chính phủ năm
1992].

9

2.2.2. Thực trạng công tác giám sát, kiểm sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
do Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ, Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang Bộ ban hành
2.2.2.1. Công tác giám sát của Quốc hội, Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội, Ủy ban của
Quốc hội
Tại Báo cáo số 401/UBTVQH11 ngày 06/10/2005 [17], Ủy ban thường vụ Quốc hội đã
báo cáo Quốc hội về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ theo những nội dung như: số lượng, tiến độ ban hành, chất lượng
văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết; công tác kiểm tra, xử
lý văn bản quy phạm pháp luật; nguyên nhân của những kết quả, hạn chế và khuyết điểm trong
công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật và một số giải pháp để nâng cao chất lượng ban
hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết. Đây là lần đầu
tiên, Quốc hội tiến hành giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Hoạt động giám sát của Quốc hội,
Ủy ban thường vụ Quốc hội trong thời gian qua đối việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã
góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng, ban hành văn bản thuộc quyền lập quy của
Chính phủ.
2.2.2.2. Công tác kiểm sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Công tác kiểm sát chung việc tuân theo pháp luật của ngành kiểm sát, trong đó có kiểm sát
việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 85 Luật năm 1996. Nghị quyết
số 287/2002/NQ-UBTVQH10 ngày 29/01/2002 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định việc thi
hành một số điểm của nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992;
theo đó, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật phải kết thúc chậm nhất vào ngày 15/4/2002.

văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các luật này, thì công tác soạn thảo, ban hành văn
bản quy phạm pháp luật của Chính phủ ngày càng có nền nếp, số lượng, chất lượng của các văn
bản ngày càng được nâng cao, góp phần quan trọng vào thể chế hoá các đường lối, chính sách của
Đảng và cụ thể hoá các luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường
vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. Một hệ thống phát luật mới ở nước ta đã đang
được hình thành, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của công dân và tổ chức nhằm xây dựng
nhà nước pháp quyền ở nước ta.
2.3.2. Những hạn chế trong hoạt động lập quy của Chính phủ trong thời gian qua ở Việt Nam
Tuy nhiên, công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ còn
có những nhược điểm, yếu kém, thể hiện ở các mặt sau đây:
2.3.2.1. Chính phủ đôi khi còn chậm trễ trong việc ban hành văn bản quy định chi tiết và
hƣớng dẫn thi hành các văn bản luật và pháp lệnh.
Chính phủ ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành chưa kịp thời, có
không ít trường hợp rất chậm, làm cho những điều của luật, pháp lệnh, nghị quyết cần có văn bản
hướng dẫn thi hành chậm đi vào cuộc sống.
2.3.2.2. Còn có những văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ trái pháp luật
Trái pháp luật trong trường hợp này được hiểu là: trái thẩm quyền về nội dung và trái với
quy định của Hiến pháp, bộ luật, luật, pháp lệnh và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; tức là,
văn bản của cơ quan nhà nước cấp dưới có quy định trái với quy định của văn bản của cơ quan
nhà nước cấp trên, không đảm bảo thứ bậc hiệu lực pháp lý của các văn bản quy phạm pháp luật
trong hệ thống pháp luật của nước ta.

11

2.3.2.3. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ còn mâu thuẫn, chồng chéo.
2.3.2.4. Một số văn bản của Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ, Bộ trƣởng, Thủ trƣởng
cơ quan ngang bộ có sự lẫn lộn về tính chất pháp lý
Đây là trường hợp có một số văn bản cá biệt thì lại được ghi số và ký hiệu của văn bản quy
phạm pháp luật và ngược lại, văn bản quy phạm pháp luật thì lại được ghi số và ký hiệu của văn bản
cá biệt. Việc nhầm lẫn này gây nên ảo tưởng rằng trong những năm qua, Chính phủ đã ban hành rất

12

3.1.2. Các văn bản thuộc quyền lập quy của Chính phủ phải đƣợc ban hành kịp thời để đảm
bảo hiệu lực của các luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
thƣờng vụ Quốc hội, lệnh quyết định của Chủ tịch nƣớc.
3.1.3. Các văn bản thuộc quyền lập quy của Chính phủ phải phù hợp với các điều ƣớc quốc
tế, cam kết quốc tế mà nƣớc ta đã ký kết hoặc gia nhập.
3.1.4. Các văn bản thuộc quyền lập quy của Chính phủ phải đƣợc ban hành theo đúng thủ
tục do pháp luật quy định.
3.1.5. Phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan của Quốc hội và Chính phủ trong quá
trình xây dựng, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
Thƣờng vụ Quốc hội
3.2. Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện vai trò lập quy của chính phủ ở Việt Nam
3.2.1. Các giải pháp pháp lí trực tiếp:
 Thứ nhất: Cần sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 59, điểm c khoản 2 Điều 61 Luật năm 2008
quy định về đánh giá tác động của dự thảo nghị định:
Đánh giá tác động của dự thảo nghị định là phương pháp đánh giá tác động của quy định -
RIA (Regulatory Impact Assessment), đang được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. RIA là một
phương pháp nhằm đánh giá một cách thống nhất và có hệ thống một số tác động tiềm năng của
một hành động của chính phủ trên cơ sở so sánh với bối cảnh giả định là không có hành động đó,
đồng thời phổ biến các thông tin đó cho các nhà ra quyết định và công chúng.
 Thứ hai: Cần sửa đổi, bổ sung Điều 1 Luật năm 2008 để xử lý sự chồng chéo giữa Luật
năm 2008 và Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 quy định về thủ tục xây dựng,
công bố, ban hành quy chuẩn kỹ thuật:
Có sự chồng chéo quy định về thủ tục xây dựng, ban hành thông tư của Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ về quy chuẩn kỹ thuật giữa Luật năm 2008 và Luật Tiêu chuẩn và Quy
chuẩn kỹ thuật. Vì vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 1 Luật năm 2008 như sau: ''Văn
bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành phải đúng thẩm
quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân trừ các văn bản quy định tiêu

cần xây dựng dự thảo nghị định quy định về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.
 Thứ sáu: Cần làm rõ khái niệm quy phạm pháp luật, phân loại quy phạm pháp luật và làm
rõ khái niệm văn bản quy phạm pháp luật, phân loại văn bản quy phạm pháp luật để tránh sự
nhầm lẫn về tính chất pháp lý trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản.
Đây là vấn đề mấu chốt, vấn đề khó khăn, phức tạp nhất đối với các cán bộ, công chức
trong quá trình xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Những sai sót trong quá trình xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp luật
bắt nguồn từ nhận thức chưa rõ về mặt khoa học pháp lý và quy định của pháp luật không rõ ràng
về quy phạm pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải có đề tài nghiên cứu khoa
học cấp nhà nước để tập trung trí tuệ của các nhà khoa học pháp lý trong nước cũng như nước
ngoài trong việc nghiên cứu, làm sáng tỏ các vấn đề nêu trên; trên cơ sở đó kiến nghị cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành văn bản hoặc tài liệu hướng dẫn, quy định về quy phạm pháp luật
và văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cho công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp
luật nói chung và các văn bản thuộc quyền lập quy của Chính phủ nói riêng.

14

 Thứ bảy: Phải thường xuyên tiến hành rà soát, hệ thống, pháp điển hóa văn bản quy phạm
pháp luật trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước để bảo đảm cho hệ thống pháp luật được thống
nhất và đồng bộ.
Các văn bản pháp luật của nước ta kể từ năm 1945 đến nay đã được liên tục xây dựng,
hoàn thiện ở từng giai đoạn khác nhau trong từng hoàn cảnh khác nhau như chiến tranh, đất nước
bị chia cắt, hòa bình, thống nhất, chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ
chế thị trường, hội nhập khu vực và quốc tế v. v Có những văn bản trong một số lĩnh vực quản
lý nhà nước đã được ban hành từ rất lâu, không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước nhưng chưa được kịp thời sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ và rà soát, hệ thống hoá, pháp
điển hóa một cách toàn diện. Việc ban hành một văn bản để sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, thay thế, hủy
bỏ một phần hoặc toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành là cách làm phổ biến hiện
nay ở các nước trên thế giới nhằm đẩy nhanh quá trình hoàn thiện pháp luật; ở nước ta, việc này

Phải xây dựng chính phủ điện tử từ trung ương đến cơ sở, tạo điều kiện cho người dân và
doanh nghiệp tiếp cận với các dự thảo chính sách, thủ tục mà các cơ quan của Chính phủ dự kiến
ban hành và các chính sách và thủ tục mà chính quyền các cấp đã ban hành. Đây là biện pháp
nhằm công khai hóa, minh bạch hóa hệ thống pháp luật của nước ta, phù hợp với các cam kết
quốc tế khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

KẾT LUẬN

Luận văn đã phần nào hoàn thành việc nghiên cứu đề tài quyền lập quy của Chính phủ
Việt Nam, làm rõ hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác lập quy của Chính phủ. Thực
hiện chức năng của cơ quan hành pháp, chính phủ giữ vị trí vai trò quan trọng trong bộ máy nhà
nước, trong việc hoạch định, quyết định và tổ chức thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại của
đất nước. Chính phủ được giao rất nhiều nhiệm vụ, quyền hạn để thực hiện chức năng của mình,
trong đó có quyền lập quy. Cùng với quyền lập pháp của Quốc hội, quyền lập quy là một trong
những quyền quan trọng nhất của cơ quan nhà nước. Ở nước ta và các nước trên thế giới, quyền
lập quy được giao nhiều cơ quan khác nhau từ trung ương đến địa phương thực hiện. Lập quy hay
lập pháp ủy quyền là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới hiện nay, được hiến pháp và pháp
luật của các nước phân định rõ lĩnh vực lập pháp của Quốc hội và lĩnh vực lập quy của Chính phủ.
Hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một trong những hoạt động
quan trọng nhất của cơ quan nhà nước vì những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật
tác động tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân và tổ chức, đến trật tự pháp luật và pháp chế, đến tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống
pháp luật. Trong đó, công tác lập quy của Chính phủ giữ vị trí, vai trò rất quan trọng vì các văn
bản thuộc quyền lập quy của Chính phủ là sự tiếp nối để đưa các văn bản thuộc quyền lập pháp
vào cuộc sống.
Từ năm 1945 đến nay, pháp luật của nước đã liên tục được ban hành và sửa đổi, bổ sung
nhằm hoàn thiện công tác xây dựng, ban hành pháp luật nói chung và các văn bản thuộc quyền lập
quy của Chính phủ nói riêng. Hình thức, nội dung, kỹ thuật trình bày, quy trình, thủ tục xây dựng,
ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được hoàn thiện. Các văn bản thuộc quyền lập
quy của Chính phủ được ban hành trong những năm qua đã và đang tạo nên một hệ thống pháp

9. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2008), Báo cáo số 100/BC-NHNN ngày 18/7/2008 về
tình hình soạn thảo, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật 6 tháng
đầu năm 2008 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
10. Nhà xuất bản từ điển bách khoa (2002), Từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội.
11. Quốc hội (2006), Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà
Nội.
12. Jean - Jacques Rouseau (2006), Bàn về Khế ước xã hội, Nhà xuất bản Lý luận chính trị,
Hà Nội, Thanh Đạm dịch.

17

13. Jay M. Shafritz (2002), Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa Kỳ, Nhà xuất bản chính
trị quốc gia, Hà Nội.
14. Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu (2009), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nhà
xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội.
15. Tinh Tinh (chủ biên) (2002), Cải cách Chính phủ - cơn lốc chính trị cuối thế kỷ XX, Nhà
xuất bản Công an nhân dân, Viện Nghiên cứu Học viện hành chính quốc gia, Hà Nội.
16. Trung tâm từ điển học (1998), Từ điển tiếng Việt, Hà Nội - Đà Nẵng, Nhà xuất bản Đà
Nẵng.
17. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2005), Báo cáo số 401/UBTVQH11 ngày 06/10/2005 về
việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
18. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2009), Báo cáo kết quả giám sát số 225/BC-UBTVQH12
ngày 18/5/2009 về việc thực hiện chính sách pháp luật về quản lý chất lượng vệ sinh, an
toàn thực phẩm.
19. Văn phòng Chính phủ (2008), Lịch sử Văn phòng Chính phủ (1945 - 2005), Văn phòng
Chính phủ xuất bản, Hà Nội.
20. Văn phòng Quốc hội Việt Nam, Văn phòng Dự án Hỗ trợ Cải cách Pháp luật và Tư pháp
JOPSCO (2009), Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về Giải thích pháp luật, tháng 2 năm 2008,
Giải thích pháp luật - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status