Công tác kiểm tra, giám sát của đảng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền - Pdf 10

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong điều
kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Cù Thị Phương
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Khoa Luật
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: GS. TS. Phạm Hồng Thái
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Tổng quan cơ sở lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Phân
tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm tra, giám sát và xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân,
do dân và vì dân trong giai đoạn hiện nay; nghiên cứu mối quan hệ bản chất, tất yếu giữa công
tác xây dựng Đảng nói chung và công tác kiểm tra, giám sát nói riêng trong điều kiện xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đề xuất quan điểm và giải pháp về về tăng cường công
tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền.

Keywords: Nhà nước pháp quyền; Đảng Cộng sản Việt Nam; Pháp luật Việt Nam; Luật Hiến
pháp

Content.

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 1986, thực hiện chính sách đổi mới của Đảng, nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp từng
bước được xóa bỏ. Yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đã yêu cầu nhà nước phải được tiếp tục hoàn

làm tốt công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng, chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát
chưa cao; chưa coi trọng việc kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chủ trương, chỉ thị, nghị quyết, thi
hành Điều lệ Đảng, kiểm tra, giám sát phòng ngừa tiêu cực và phát huy nhân tố tích cực. Nhiều khuyết
điểm sai lầm của đảng viên và tổ chức đảng chậm được phát hiện. Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy
thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Kỷ luật, kỷ cương
ở nhiều tổ chức đảng không nghiêm. Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp ủy chưa tốt".
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng thành
công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, Nghị quyết chỉ rõ: Đảng ta phải:
"Quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một
bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng".
Để thực hiện được điều đó, bên cạnh việc phải giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân
của Đảng; nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất và năng lực cán bộ, đảng viên; thực hiện nghiêm
nguyên tắc tập trung, dân chủ; Đảng ta phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phải tăng
cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Bởi vì, kiểm tra, giám sát là hoạt động không thể thiếu diễn
ra trong tất cả các khâu của quy trình lãnh đạo và quản lý; vì chức năng lãnh đạo của Ðảng không chỉ ở
việc định ra đường lối, nghị quyết, tổ chức thực hiện mà còn phải tiến hành kiểm tra, giám sát. Ðây là
biện pháp không thể thiếu được để phát huy ưu điểm, phòng ngừa, khắc phục khuyết, nhược điểm, nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng.
V.I.Lênin đã khẳng định: Khi đường lối, chính sách đã được xác định, phương hướng đã được
thông qua thì nhiệm vụ tổ chức thực hiện phải đặt lên hàng đầu và sự lãnh đạo phải "chuyển trọng tâm
từ việc soạn thảo các sắc lệnh và mệnh lệnh sang việc chọn người và kiểm tra sự thực hiện". Chủ tịch
Hồ Chí Minh cho rằng: Người đời ai cũng có khuyết điểm, có làm việc thì có sai lầm; tuy nhiên Người
khẳng định: "Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự
kiểm tra". Ðây là một trong những cảnh báo quan trọng nhất về nguyên nhân của những sai lầm khuyết
điểm trước đây cũng như hiện nay không được thắng thắn chỉ ra. Có thể nói, không có kiểm tra, giám
sát thì không lãnh đạo và không thể có một Nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn cho thấy công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có mối quan hệ biện
chứng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa; là phương thức đảm bảo pháp

nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011;
- Cao Văn Thống: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình trong công tác kiểm tra, giám
sát và kỷ luật Đảng, Tạp chí Kiểm tra, 02/2012
Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu nội dung mối quan hệ giữa công tác kiểm
tra, giám sát trong xây dựng Nhà nước pháp quyền.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Làm rõ mối quan hệ bản chất, tất yếu giữa công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác kiểm tra,
giám sát nói riêng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Giải quyết tốt mối
quan hệ này phải xem xét tác động hai chiều, có nghĩa là nghiên cứu tác động, ảnh hưởng của công tác
kiểm tra, giám sát trong xây dựng Đảng đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa và tác động, ảnh hưởng của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đối với công tác kiểm
tra, giám sát của Đảng.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong điều kiện
xây dựng Nhà nước pháp quyền;
Cơ sở lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm tra, giám sát và xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do
dân và vì dân trong giai đoạn hiện nay; mối quan hệ bản chất, tất yếu giữa công tác xây dựng Đảng nói chung
và công tác kiểm tra, giám sát nói riêng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Đề xuất quan điểm và giải pháp về về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong điều
kiện xây dựng nhà nước pháp quyền.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử,
những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về công
tác kiểm tra, giám sát trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng gồm: Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê,
trên cơ sở kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, nhằm đánh giá, kết luận và đưa ra những giải pháp, phương
hướng cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra của luận văn

hành pháp, tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước.
Thứ sáu, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là Nhà nước do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
1.1.2. Mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền và pháp chế xã hội chủ nghĩa
- Pháp chế xã hội chủ nghĩa
Theo TS. Đỗ Ngọc Hải trong sách "Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ở nước ta hiện nay", Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2007: "Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã
hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân,
nhân viên nhà nước và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật một cách
nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác. Mọi hành động xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích của tập
thể, của công dân đều bị xử lý theo pháp luật".
- Nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa:
Một là, tính thống nhất. Hai là, pháp chế và tính hợp lý. Ba là, không có ngoại lệ. Bốn là, pháp chế xã
hội chủ nghĩa gắn liền với dân chủ. Năm là, mối quan hệ giữa pháp chế và văn hóa.
- Pháp chế trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước pháp quyền đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội hay cá nhân đều phải tuân
theo pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải bảo đảm tôn trọng pháp luật
- thước đo đầu tiên đối với tất cả các chủ thể trong xã hội. Bởi vì, pháp luật được coi là giá trị chung, là
đại lượng mang tính phổ biến, bảo đảm mọi người được bình đẳng và công bằng xã hội. Nhà nước muốn
trở thành Nhà nước pháp quyền phải được tổ chức trên cơ sở pháp luật. Mọi tổ chức và hoạt động của nhà
nước được pháp luật quy định và bảo đảm cho các quy định đó có hiệu lực pháp lý.
1.2. Kiểm tra, giám sát của Đảng - phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong Nhà nước pháp quyền
Trong nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải có sự kiểm soát đối với quyền lực nhà nước, đồng thời có sự
kiểm tra, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật đối với mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức và
mọi công dân.
1.2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về
công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
1.2.1.1. Kiểm tra, giám sát là một tất yếu khách quan, là một biểu hiện nghiêm túc của hoạt động có ý
thức của mọi tổ chức và con người trong xã hội
Mục đích công tác kiểm tra, giám sát là nhằm hoàn thiện quy trình lãnh đạo của Đảng (bao gồm các

- Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng, của mọi tổ chức
đảng và đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng.
- Quá trình kiểm tra phải vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa tự giác và bắt buộc; lấy tự giác, tự phê
bình và phê bình làm chính, coi trọng công tác giáo dục tư tưởng trong công tác kiểm tra, giám sát; lấy
hiệu quả kiểm tra, giám sát làm thước đo cho kết quả hoạt động.
1.2.3. Yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng
- Phải xuất phát từ yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, không phụ thuộc vào ý
chí chủ quan của tổ chức hoặc cá nhân.
- Phải làm rõ đúng sai, ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm đối với tổ chức đảng, đảng viên về các nội
dung được kiểm tra, giám sát.
- Phải bảo đảm tư tưởng chỉ đạo trong công tác kiểm tra là chủ động, chiến đấu, giáo dục và hiệu quả.
- Phải bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc, thủ tục, quy trình, phương pháp, trong công tác kiểm tra,
giám sát và thi hành kỷ luật đảng.
1.2.4. Phạm vi trách nhiệm công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng
Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là công tác của toàn Đảng, của các tổ chức đảng. Nhưng do
chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức đảng khác nhau, nên phạm vi kiểm tra, giám sát của các tổ chức
đảng cũng có những điểm khác nhau:
- Các cấp ủy đảng có nhiệm vụ lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ
kiểm tra, giám sát đối với mọi tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi lãnh đạo của mình.
- Các ban của cấp ủy có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các cấp ủy cấp dưới và các ban của cấp ủy cấp
dưới về lĩnh vực công tác do từng ban phụ trách; kiểm tra, giám sát những nội dung do cấp ủy giao và
phối hợp với Ủy ban kiểm tra cùng cấp kiểm tra, giám sát những nội dung có liên quan.
- Các đảng đoàn, ban cán sự đảng căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được Bộ Chính trị hoặc
cấp ủy tỉnh, thành phố quy định mà tiến hành công tác kiểm tra.
- Các tổ chức đảng ở cơ sở có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị
quyết, chỉ thị, quy định của Đảng đối với mọi tổ chức đảng, đảng viên sinh hoạt và hoạt động thuộc
phạm vi lãnh đạo của mình.
- Ủy ban kiểm tra các cấp tiến hành công tác kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều 32, Điều lệ
Đảng và những nội dung do cấp ủy giao.
1.3. Vai trò công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam

- Về quản lý, sử dụng ngân sách nhàn ước trong đầu tư xây dựng và tình hình nợ đọng vốn trong xây
dựng cơ bản còn khá phổ biến, với giá trị lớn do đầu tư dàn trải, phân bổ vốn thiếu tập trung; nhiều dự án,
công trình kéo dài, thậm trí phải ngừng thi công, nhiều dự án chậm phát huy tác dụng
- Việc sử dụng tài sản công là nhà, đất còn để lãng phí, sai mục đích. Công tác quản lý đất đai buông
lỏng, vi phạm khá phổ biến. Tình trạng chung ở các địa phương, đơn vị dự án chưa hoặc chậm triển khai
đưa vào sử dụng, gây lãng phí. Còn để thất thu tiền sử dụngđất, thuê đất, đấu giá quyền sử dụng đất, đấu
thầu dự án với số tiền lớn.
- Việc tổ chức các đoàn cán bộ đi công tác nước ngoài không tiết kiệm, sử dụng kinh phí lớn, có địa
phương chi hàng chục tỷ đồng cho các đoàn.
- Việc quản lý, sử dụng các quỹ vì người nghèo, quỹ cứu trợ và các hoạt động từ thiện khác ở một số
địa phương chưa tốt, để tồn quỹ lượng tiền lớn, gây lãng phí. Năm 2009, đoàn kiểm tra của Ban Bí thư
kiểm tra tại 9 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phát hiện lượng tiền tồn ở quỹ người nghèo, quỹ cứu
trợ là 117,2 tỷ đồng. Một số cá nhân vi phạm, như ở Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Bến Tre phải
thi hành kỷ luật đảng.
2.1.3. Kết quả công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra các cấp theo quy định tại Điều 32
Điều lệ Đảng
2.1.3.1. Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp và tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi
phạm
2.1.3.2. Giải quyết đơn thư tố cáo
2.1.3.3. Giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng
2.1.3.4. Thực hiện nhiệm vụ giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên
2.1.3.5. Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật
2.1.3.6. Kiểm tra tài chính đảng
Trong nhiệm kỳ, Ủy ban kiểm tra Trung ương đã thực hiện 7 cuộc kiểm tra tài chính. Qua kiểm tra đã
phát hiện số tiền vi phạm 80,5 tỷ đồng, đã yêu cầu xuất toán thu hồi về ngân sách 37 tỷ đồng; yêu cầu
hạch toán lại chi phí 21,6 tỷ đồng. Ngoài ra còn phát hiện đến liên doanh góp vốn, thua lỗ của doanh
nghiệp 27,2 tỷ đồng; phát hiện các nguồn thu, chi ngoài sổ sách kế toán 7,9 tỷ đồng; phát hiện số tiền còn
nợ dây dưa, tồn đọng, thất thoát của các doanh nghiệp đảng là 22 tỷ đồng. Tổng số đảng viên bị xử lý kỷ
luật 16 đồng chí; trong đó: khai trừ, chuyển cơ quan pháp luật xử lý 01, cảnh cáo 08; khiển trách 06, buộc
thôi việc, xóa tên đảng viên 01.

22,9% (nhiệm kỳ IX là 21,9%). Số tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật 1.791 tổ chức (tăng 44% so với nhiệm kỳ
IX); trong đó: khiển trách 1.307, cảnh cáo 483, giải tán 01 tổ chức đảng.
Ủy ban kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật theo thẩm quyền và đề nghị Ban Chấp hành Trung ương,
Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tổ chức đảng cấp dưới thi hành kỷ luật đối với 2 tổ chức đảng (bằng hình thức khiển
trách) và 82 đảng viên; trong đó: khiển trách 29, cảnh cáo 34, cách chức 8, khai trừ 11 trường hợp.
2.1.5. Thực trạng bộ máy của cơ quan Ủy ban kiểm tra các cấp
2.1.5.1. Những yếu kém, khuyết điểm
- Còn có những biểu hiện mất dân chủ, dân chủ hình thức: là ý chí của một người lãnh đạo nhưng
được hợp thức hóa bằng nghị quyết của ban thường vụ, của cấp ủy nên rất khó tìm ra chứng cứ; cục bộ,
"bằng mặt, không bằng lòng" trong quan hệ của thường trực cấp ủy còn diễn ra ở một số nơi, mà nguồn
gốc sâu xa, nguyên nhân trực tiếp là vấn đề bố trí, sắp xếp, bổ nhiệm cán bộ và thực hiện các dự án đầu
tư, xây dựng cơ bản, giao đất, giao dự án , dẫn đến trong nội bộ thiếu tôn trọng, thiếu tin tưởng, thiếu
chân thành với nhau và mất đoàn kết.
- Tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn diễn ra nghiêm
trọng, với biểu hiện buông thả trong quan hệ nam nữ, rượu chè, bài bạc đã làm "hoen ố" hình ảnh người
cán bộ, người đảng viên trước quần chúng.
- Sự suy thoái về chính trị tư tưởng đang diễn biến phức tạp. Một số cán bộ, đảng viên cơ hội, thực
dụng, phai nhạt lý tưởng cách mạng, "tự chuyển hóa", "tự suy thoái", thiếu niềm tin vào Đảng và con
đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
- Tham nhũng, lãng phí chưa được ngăn chặn và đẩy lùi, đấu tranh chống tham nhũng chưa quyết liệt,
chưa triệt để, ai cũng lên án trên lời nói nhưng hành động cụ thể thì né tránh, ngại va chạm.
- Tinh thần tự phê bình và phê bình quá yếu.
- Tính gương mẫu, tấm gương của người cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao giảm sút. Tình trạng
để vợ (chồng), con, người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thu vén cá nhân, giàu lên quá
nhanh, làm cho quần chúng bất bình.
2.1.5.2. Nguyên nhân của yếu kém, khuyết điểm
Nhận thức của một số cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy về công tác kiểm tra, giám sát còn chưa đầy đủ
và sâu sắc. Chưa coi kiẻm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng; chưa tạo điều kiện để Ủy
ban kiểm tra thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đối với cấp ủy viên cùng cấp.
Một số tổ chức đảng buông lỏng công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, giảm sút tính chiến

ngành và các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân
các cấp. Xây dựng tổ chức thực hiện tốt cơ chế công khai minh bạch để việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra,
giám sát có hiệu quả.
2.2.2.7. Kiện toàn tổ chức bộ máy uỷ ban và cơ quan giúp việc uỷ ban kiểm tra các cấp; tăng thêm
thẩm quyền cho uỷ ban kiểm tra các cấp, kể cả thẩm quyền giám sát; tăng cường đội ngũ cán bộ làm
công tác kiểm tra, giám sát đủ số lượng, bảo đảm chất lượng, có văn hoá, có bản lĩnh, tinh thông nghiệp
vụ kiểm tra, giám sát, đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Cần phải nghiên cứu, kiện toàn, đổi mới tăng cường tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác
kiểm tra, giám sát theo hướng:
- Ủy ban kiểm tra các cấp do Đại hội Đảng cùng cấp bầu
- Tổ chức hợp lý cơ quan Ủy ban kiểm tra và các đơn vị giúp việc cơ quan uỷ ban kiểm tra
Để công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phát huy vị trí, vai trò quan trong trong công tác xây dựng
Đảng, đặc biệt vai trò đấu tranh, phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay, xin đề xuất ý kiến
như sau:
Cần thực hiện mô hình tổ chức Ủy ban kiểm tra do Đại hội Đảng cùng cấp bầu, cũng như hợp nhất Ủy
ban kiểm tra với thanh tra và Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, có chức năng phòng, chống tham
nhũng cao nhất, tăng vị thế, thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng để
công tác kiểm tra, giám sát thi hành kỷ luật nói chúng và trong phòng, chống tham nhũng nói riêng có
hiệu quả hơn.
Nghiên cứu sáp nhập cơ quan thanh tra nhà nước các cấp và Ủy ban kiểm tra các cấp của Đảng theo mô
hình một nhà hai cửa như của Ủy ban Kiểm tra - Kỷ luật Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tức là có hai con dấu
riêng; một dấu của Ủy ban kiểm tra và một con dấu của cơ quan thanh tra. Khi cần thực hiện công tác thanh
tra thì sử dụng con dấu của cơ quan thanh tra và huy động lực lượng, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ theo
nghiệp vụ thanh tra. Khi cần thực hiện công tác thanh tra thì sử dụng con dấu của cơ quan thanh tra và huy
động lực lượng, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ theo nghiệp vụ công tác kiểm tra của Đảng. Tổ chức
được như vậy thì tổ chức bộ máy sẽ gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả; khắc phục được sự chồng chéo trong
thực hiện nhiệm vụ của mỗi cơ quan phải thông qua cơ chế phối hợp (nhiều khi khó thực hiện, gây chậm trễ,
hiệu quả thực hiện không cao).
Việc thực hiện mô hình Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng hiện nay đã ngày càng bộc lộ sự bất cập và
hiệu quả không cao; do vậy, phải thay đổi Ban Chí đạo bằng mô hình cơ quan phòng, chống tham nhũng có tính

máy do mình chỉ đạo, lãnh đạo và trực tiếp kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của nhà nước của những đảng viên đó.
Đảng có quyền và trách nhiệm thực hiện kiểm tra, giám sát đối với các đảng viên và tổ chức của Đảng
hoạt động trong bộ máy nhà nước trong việc chấp hành và bảo đảm thực hiện đúng, có hiệu quả đường lối,
chủ trương, chính sách của đảng cầm quyền. Là đảng viên của đảng cầm quyền, trách nhiệm của các đảng
viên, trước hết là các đảng viên được Đảng phân công nắm giữ các vị trí lãnh đạo trong bộ máy nhà nước, và
các tổ chức đảng hoạt động trong bộ máy nhà nước, là phải làm cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước thực hiện đúng, đầy đủ các quan điểm, đường lối của Đảng. Do vậy, các đảng viên và tổ chức đảng phải
chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng, thông qua đó, Đảng kiểm soát được tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước, bảo đảm bộ máy nhà nước thực hiện đúng và có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, giữ
vững bản chất của Nhà nước.
Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, đã nêu: Giữ vững bản chất và tăng cường vai trò
lãnh đạo của Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tố chức, nâng
cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự
nghiệp cách mạng của nhân dân ta hiện nay. Đồng thời Đảng ta yêu cầu: "Đổi mới, nâng cao hiệu quả công
tác kiểm tra, giám sát: Các cấp ủy, tổ chức đảng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt hơn nhiệm
vụ kiểm tra, giám sát Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và hoạt động của hệ thống ủy ban kiểm tra các cấp.
Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa Ủy ban kiểm tra đảng với các tổ chức đảng và các cơ quan bảo vệ pháp luật
trong việc xem xét khiếu nại, tố cáo và xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên".
Mục tiêu tổng quát trong 5 năm tới mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra là: Tiếp tục nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ
thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc; phát triển
kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính
trị- xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ; tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Tại buổi làm việc ngày 16/9/2011, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu: Điều mà cán bộ, đảng
viên, nhân dân lo lắng là sự xuống cấp về phẩm chất đạo đức trong một bộ phận cán bộ đảng viên dẫn đến uy
tín của Đảng, lòng tin của nhân dân giảm sút, một số cán bộ cấp trên không gương mẫu. Đây là tình trạng rất
đáng lo ngại. Nhiệm vụ đặt ra là phải chặn đứng hư hỏng, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Chính vì vậy, yêu
cầu đặt ra cho công tác kiểm tra thời gian tới rất cao. Phải nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm tra;

8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương (khóa
X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, Hà
Nội.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (khóa
X) về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, Hà Nội.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Kết luận số 72-KL/TW, ngày 17/5 của Bộ Chính trị về chiến lược
công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2020, Hà Nội.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Quyết định số 46-QĐ/TW ngày 01/11 của Ban Bí thư hướng dẫn
thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của đảng trong Chương VII và
Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI, Hà Nội.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI),
Hà Nội.
18. Đảng Lao động Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Nxb sự thật, Hà
Nội.
19. Đỗ Ngọc Hải (2007), Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
20. V.I. Lênin (1976), Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va.
21. V.I. Lênin (1976), Toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va.
22. V.I. Lênin (1977), Toàn tập, tập 36, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va.
23. V.I. Lênin (1980), Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status