1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT CÙ THỊ PHƯƠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG
TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Phạm Hồng Thái HÀ NỘI - 2012 4
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1.2.4.
Phạm vi trách nhiệm công tác kiểm tra, giám sát của các tổ
chức đảng
40
1.3.
Vai trò công tác kiểm tra, giám sát của đảng trong nhà nước
pháp quyền Việt Nam
40
1.3.1.
Kiểm tra, giám sát của Đảng là phương thức bảo đảm pháp
chế, ngăn ngừa, phát triển và xử lý những hành vi vi phạm
pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền
40 5
1.3.2.
Ảnh hưởng của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa với công tác xây dựng Đảng nói chung và
công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nói riêng
49
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, GIÁM SÁT
CỦA ĐẢNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG
CƢỜNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA
ĐẢNG TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC
PHÁP QUYỀN
52
2.1.
Thực trạng hoạt động kiểm tra, giám sát của đảng (số liệu
KẾT LUẬN
110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
114 6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp quyền là một khái niệm được hình thành và phát triển dọc theo
chiều dài lịch sử của văn minh nhân loại. Các nội dung, nguyên tắc cơ bản
của pháp quyền đã không ngừng được giải thích, bổ sung và hoàn thiện theo
từng giai đoạn và từng thời kỳ lịch sử. Từ thời Hy Lạp cổ đại, tư tưởng pháp
quyền xuất hiện nơi mà nền dân chủ sơ khai đã được hình thành.Đáng chú ý
trong thời kỳ này là tư tưởng pháp quyền sơ khai của hai triết gia nổi tiếng
Plato và Aristotle. Plato khẳng định pháp luật phải là ông chủ của chính
quyền để ngăn ngừa sự xuất hiện của những kẻ chuyên quyền. Tương tự,
Aristotle cho rằng pháp luật cần phải được xem như là sự kiềm chế đối với
các pháp quan để hạn chế sự tùy tiện trong quá trình đưa ra các phán quyết.
Tư tưởng và học thuyết pháp quyền được tiếp tục bổ sung và phát
triển khi giai cấp tư sản ở các quốc gia phương Tây không ngừng lớn mạnh,
đấu tranh chống lại giai cấp phong kiến và giáo hội, từ đó từng bước giành
ảnh hưởng trên chính trường. Trong thời kỳ này, tư tưởng pháp quyền được
phát triển và hòa quện vào các học thuyết về phân quyền, chủ nghĩa lập hiến
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đã yêu cầu nhà nước phải được tiếp tục
hoàn thiện thể chế, tổ chức để thích ứng tốt hơn với yêu cầu phát triển kinh tế
xã hội của đất nước. Sau 5 năm thực hiện chính sách đổi mới, tại Hội nghị lần
thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII ngày 29 tháng 11 năm 1991, khái
niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lần đầu tiên được đề cập tới như
một mục tiêu cần hướng tới của một xã hội văn minh. Sau một thời gian dài
của quá trình nhận thức, tìm tòi, thể nghiệm, đến năm 2001 sửa đổi Hiến pháp
năm 1992, yêu cầu xây dựng "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa" mới
chính thức trở thành một nguyên tắc hiến định, định hướng cho quá trình xây
dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam. 8
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực
tiễn và lý luận 25 năm đổi mới, Đảng đã nghiên cứu và đề ra các giải pháp
nhằm tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát
huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền
tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại. Trong lĩnh vực hoàn thiện thể chế bộ máy, Đảng ta nhận
định: "Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân do Đảng lãnh đạo, thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản
lý xã hội " [14, tr. 246].
Thực tiễn cũng chứng minh, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản
Việt Nam là điều kiện tiên quyết để xây dựng thành công Nhà nước pháp
quyền Việt Nam giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy, nâng cao năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu của Đảng là nhiệm vụ then chốt không chỉ có ý nghĩa đối
với bản thân Đảng mà còn là điều kiện quan trọng đối với sự tồn tại hoạt động
của Nhà nước pháp quyền. Vấn đề là phải luôn luôn đổi mới phương thức
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân và vì dân, Nghị quyết chỉ rõ: Đảng ta phải:
Quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán
bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng
cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin
của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng [17].
Để thực hiện được điều đó, bên cạnh việc phải giữ vững và tăng
cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng; nâng cao bản lĩnh chính trị,
phẩm chất và năng lực cán bộ, đảng viên; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập
trung, dân chủ; Đảng ta phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng,
phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Bởi vì, kiểm tra, giám
sát là hoạt động không thể thiếu diễn ra trong tất cả các khâu của quy trình 10
lãnh đạo và quản lý; vì chức năng lãnh đạo của Ðảng không chỉ ở việc định ra
đường lối, nghị quyết, tổ chức thực hiện mà còn phải tiến hành kiểm tra, giám
sát. Ðây là biện pháp không thể thiếu được để phát huy ưu điểm, phòng ngừa,
khắc phục khuyết, nhược điểm, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của Ðảng.
V.I.Lênin đã khẳng định: Khi đường lối, chính sách đã được xác
định, phương hướng đã được thông qua thì nhiệm vụ tổ chức thực hiện phải
đặt lên hàng đầu và sự lãnh đạo phải "chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo
các sắc lệnh và mệnh lệnh sang việc chọn người và kiểm tra sự thực hiện".
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Người đời ai cũng có khuyết điểm, có làm
việc thì có sai lầm; tuy nhiên Người khẳng định: "Có thể nói rằng: chín
phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm
tra". Ðây là một trong những cảnh báo quan trọng nhất về nguyên nhân của
GS.TSKH Đào Trí Úc, Nxb Chính trị quốc gia, 2005;
- Quốc hội Việt Nam trong nhà nước pháp quyền, của GS.TS Nguyễn
Đăng Dung, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2007;
- Công trình khoa học của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội với tên
gọi: Chính phủ trong nhà nước pháp quyền, do PGS.TS Nguyễn Đăng Dung
thực hiện năm 2008.
Nội dung về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đã có nhiều bài
viết, nghiên cứu trong những năm gần đây, như:
- Cao Văn Thống: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát phục vụ
nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, 2009;
- Đề tài khoa học cấp bộ: Công tác giám sát trong Đảng giai đoạn
hiện nay, do TS. Đặng Đình Phú, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, nghiệm thu 2007.
- Tô Quang Thu: Làm tốt nhiệm vụ giám sát, góp phần phát hiện và
khắc phục khuyết điểm khi mới manh nha, Tạp chí Kiểm tra, tháng 11/2006; 12
- Lê Hồng Liêm: Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với phòng,
chống tham nhũng ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011;
- Cao Văn Thống: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình
trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng, Tạp chí Kiểm tra, 02/2012
Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu nội dung mối
quan hệ giữa công tác kiểm tra, giám sát trong xây dựng Nhà nước pháp quyền.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Làm rõ mối quan hệ bản chất, tất yếu giữa công tác xây dựng Đảng
nói chung và công tác kiểm tra, giám sát nói riêng trong điều kiện xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Giải quyết tốt mối quan hệ này phải
xem xét tác động hai chiều, có nghĩa là nghiên cứu tác động, ảnh hưởng của
nói chung và công tác kiểm tra, giám sát nói riêng trong điều kiện xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra, giám sát của Đảng trong Nhà
nước pháp quyền.
Chương 2: Thực trạng hoạt động công tác kiểm tra, giám sát của Đảng
và các giải pháp nhằm tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong
điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền. 14
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG
TRONG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN
1.1. KHÁI QUÁT VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN
1.1.1. Khái quát chung về nhà nƣớc pháp quyền
"Xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân" là thuật ngữ được sử dụng chính thức trong Văn kiện hội nghị đại
biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII năm 1994, từ đó đến nay Đảng ta tiếp
tục khẳng định: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân và vì dân là quy luật tất yếu khách quan. Nó không phải là sản phẩm riêng
của chủ nghĩa tư bản, mà là tinh hoa, sản phẩm trí tuệ loài người, của nền văn
minh nhân loại.
Kế thừa những tư tưởng, giá trị tiến bộ về nhà nước pháp quyền trên
thế giới và manh nha ở nước ta qua sự phát triển của các triều đại phong kiến
ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành và điều kiện cụ
thể của nước ta trong giai đoạn hiện nay có thể nêu ra một số đặc điểm của
mạnh và mưu mô quỷ quyệt đến đâu có thể can thiệp, gây rối, lật đổ.
Nhà nước ta do dân lập nên, do dân bầu ra, dân kiểm tra, giám sát. Đó
phải là Nhà nước hoạt động vì dân, lấy việc phục vụ nhân dân làm mục tiêu
cao nhất của mình. Sức mạnh của Nhà nước bắt nguồn từ sức mạnh của nhân
dân, của khối đại đoàn kết toàn dân; phải xây dựng Nhà nước trong sạch vững
mạnh, gần dân, sát dân, thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của dân; bảo đảm
trên thực tế quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Thứ hai, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và
hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, ra sức tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp.
Trong Nhà nước pháp quyền, ý chí của nhân dân và sự lựa chọn chính
trị được xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất bằng hiến 16
pháp. Chính vì lẽ đó mà Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản của Nhà nước,
có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu,
nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sự hiện diện của
Hiến pháp là điều quan trọng bậc nhất bảo đảm sự ổn định xã hội và sự an
toàn của người dân. Vì vậy chủ nghĩa lập hiến là điều kiện để bảo đảm sự
chính đáng về mặt pháp lý (tính pháp quyền) của các thiết chế quyền lực nhà
nước cũng như của các hành vi có tính quốc gia. Hiến pháp có một vai trò
quan trọng trong việc duy trì quyền lực của nhân dân, cho nên việc xây dựng
và thực hiện một cơ chế hữu hiệu cho việc phát hiện, đánh giá và phán quyết
về những quy định và hoạt động trái với Hiến pháp là rất cần thiết trong tổ
chức và thực hiện quyền lực nhà nước ta hiện nay. Tôn trọng Hiến pháp là tôn
trọng ý chí phổ biến nhất và đầy đủ nhất của nhân dân. Chính vì vậy chủ
nghĩa lập hiến đồng nghĩa với sự thừa nhận tính tối cao của chủ quyền nhân
dân. Bảo vệ Hiến pháp là bảo vệ chủ quyền Nhà nước, bảo vệ ý chí của nhân
dân ta.
bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân, giữ vững mối liên
hệ dân chủ Nhà nước và công dân, giữa Nhà nước và xã hội.
Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi), khẳng định: "Nhà nước cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân" [31]. Do đó Nhà nước có trách nhiệm pháp lý
bảo vệ và phát triển quyền con người, quyền công dân, tức là tôn trọng và bảo
vệ quyền chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Trong bản tuyên ngôn độc
lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với toán thế giới rằng:
"Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những
quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được
sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Vì vậy bảo đảm quyền con
người, quyền công dân, mở rộng quyền dân chủ, nâng cao trách nhiệm pháp
lý giữa Nhà nước và công dân, giữ công dân với Nhà nước… luôn được Đảng
ta giành sự quan tâm đặc biệt. 18
Thứ năm, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm
quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền: Lập pháp, hành pháp, tư
pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước.
Đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là quyền lực được tập trung, thống nhất, có sự phân công và phối hợp
trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp giữa các cơ quan,
trong đó:
Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền
lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc
hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp…thực hiện quyền giám
sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Chính phủ là cơ quan chấp hành của quốc hội, cơ quan hành chính
hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc, tăng cường quốc phóng và an ninh vững mạnh.
Hai là, Đảng phải lãnh đạo chăm lo xây dựng đội ngũ và tăng cường
quản lý cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây
dựng Nhà nước pháp quyền. Đảng lãnh đạo công tác quy hoạch và chiến lược
cán bộ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công thức nhà nước cho
phù hợp với từng giai đoạn phát triển.
Ba là, Đảng phải lãnh đạo công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt
động của cơ quan nhà nước, các tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên hoạt động
trong cơ quan nhà nước.
Bốn là, Đảng phải phát huy vai trò, trách nhiệm của mặt trận tổ quốc
và các thành viên của mặt trận trong việc xây dựng và bảo vệ chính quyền,
bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thu hút sự tham gia rộng rãi cho nhân
dân vào việc quản lý và giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước. 20
Vì vậy Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa là trực tiếp, toàn diện và bao quát toàn bộ những vấn đề then chốt trong
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
1.1.2. Mối quan hệ giữa Nhà nƣớc pháp quyền và pháp chế xã hội
chủ nghĩa
- Pháp chế xã hội chủ nghĩa
Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa có từ sau Cách mạng Tháng
Mười Nga. V.I.Lênin là người đưa ra định nghĩa pháp chế và các nguyên tắc
của nó đã làm giàu thêm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và
pháp luật.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời
sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, nhân viên
Nguyên tắc pháp chế nhằm xóa bỏ tư tưởng cục bộ, địa phương, làm cho các
địa phương liên hệ, phát triển, hồi sinh, hợp tác. Tính thống nhất đòi hỏi sự
sáng tạo, song trong khuôn khổ pháp luật.
Hai là, pháp chế và tính hợp lý.
Trong môi trường pháp luật, tính hợp lý được biểu hiện là sự phù hợp
với luật, đối với các mục đích đặt ra, các chủ thể lựa chọn phương án tối ưu
về việc thực hiện pháp luật. Cơ sở của tính hợp lý của pháp luật là sự phản
ánh đúng đắn trong pháp luật các đòi hỏi của sự phát triển xã hội. Nếu pháp
luật quy định đúng đắn ý chí của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, các
giá trị xã hội, thì chắc chắn pháp luật là hợp lý.
Ba là, không có ngoại lệ.
Nội dung của nguyên tắc này là khi pháp luật đã ban hành, ai cũng phải
thực hiện, nếu vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý theo pháp luật. Theo V.I.Lênin:
"Tính nghiêm minh của pháp luật hoàn toàn không phải ở chỗ hình phạt đó
phải nặng, mà ở chỗ phạm tội thì không thoát khỏi bị trừng phạt" [23, tr. 97]. 22
Bốn là, pháp chế xã hội chủ nghĩa gắn liền với dân chủ.
Dưới chế độ dân chủ, pháp luật thừa nhận mọi công dân đều có quyền
bình đẳng trong việc tham gia quản lý và tham gia công việc nhà nước. Chủ
nghĩa xã hội và dân chủ gắn bó với nhau. Bản chất của chủ nghĩa xã hội là
dân chủ, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội là ở đó. Chủ nghĩa xã hội không thể
tồn tại và phát triển được nếu thiếu dân chủ và dân chủ không thể thực hiện
được đầy đủ, mở rộng nếu không thể hiện bằng hệ thống pháp luật xã hội chủ
nghĩa. Dân chủ là chế độ chính trị của nhà nước xã hội chủ nghĩa với sự tham
gia đông đảo của quần chúng nhân dân lao động vào công việc nhà nước. Dân
chủ có mối quan hệ không tách rời với pháp chế xã hội chủ nghĩa. Không thể
có dân chủ chân chính bên ngoài pháp chế xã hội chủ nghĩa. Ngược lại, trạng
thái pháp chế lại phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện dân chủ xã hội chủ nghĩa
hệ với pháp chế. Nhà nước pháp quyền khẳng định tính tối cao của pháp luật,
trong đó Hiến pháp là đạo luật cơ bản, pháp luật chi phối và điều chỉnh các
quan hệ xã hội. Nhà nước định ra pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật,
theo pháp luật. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của Nhà nước pháp quyền nói
chung cũng như Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam nói riêng. Vì thế, nhất
thiết phải tăng cường pháp chế nhằm tạo ra những văn bản pháp luật có chất
lượng để tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, phòng tránh sự lạm quyền
của cán bộ, cơ quan nhà nước
Nhà nước pháp quyền đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã
hội hay cá nhân đều phải tuân theo pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Nhà
nước pháp quyền đòi hỏi phải bảo đảm tôn trọng pháp luật - thước đo đầu tiên
đối với tất cả các chủ thể trong xã hội. Bởi vì, pháp luật được coi là giá trị
chung, là đại lượng mang tính phổ biến, bảo đảm mọi người được bình đẳng
và công bằng xã hội. Nhà nước muốn trở thành Nhà nước pháp quyền phải
được tổ chức trên cơ sở pháp luật. Mọi tổ chức và hoạt động của nhà nước
được pháp luật quy định và bảo đảm cho các quy định đó có hiệu lực pháp lý.
Tổ chức nhà nước từ cơ quan quyền lực, hành chính, tư pháp từ Trung ương 24
cho đến địa phương, cơ sở đều do pháp luật quy định. Pháp luật quy định
thẩm quyền cho từng loại cơ quan, quan hệ giữa các cơ quan nhà nước, hoạt
động của các cơ quan nhà nước. Tất cả những lĩnh vực ấy đều được các chế
tài của pháp luật bảo đảm thực hiện. Lý luận Mác - Lênin và thực tiễn chỉ ra
rằng quản lý xã hội bằng pháp luật là có hiệu quả nhất, văn minh nhất.
Nhà nước pháp quyền đối lập với những tư tưởng coi thường pháp
luật. Hiện tượng coi thường pháp luật của một số cán bộ và nhân dân thực
chất là đối lập pháp quyền. Trong Nhà nước pháp quyền, quyền con người
được mở rộng theo nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì pháp luật
không cấm, cán bộ nhà nước, cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp
lực nhân dân giao cho, Nhà nước quản lý xã hội để phục vụ nhân dân. Nội
dung cơ bản của quản lý nhà nước bao gồm ba mặt thống nhất chặt chẽ với
nhau như sau: Ban hành quyết định quản lý; Tổ chức, phân công, chỉ đạo việc
thực hiện các quyết định quản lý; Kiểm tra việc thực hiện các quyết định quản lý.
Nhà nước ban hành pháp luật là để quản lý, nhưng chỉ ban hành pháp
luật thôi thì chưa quản lý được xã hội. Do đó, bước tất yếu tiếp theo là phải tổ
chức, điều hành để biến các quy định của pháp luật trở thành hành vi xử sự
của mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cuối cùng là kiểm tra, đánh giá chất lượng
của pháp luật để đề ra các biện pháp thích hợp hoặc điều chỉnh lại các quy
định của pháp luật. Rõ ràng thanh tra, kiểm tra, giám sát là một trong 3 mặt
thống nhất của quản lý (hiểu theo nghĩa rộng), là một khâu không thể thiếu
của hoạt động quản lý nhà nước.Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước luôn
luôn coi thanh tra, kiểm tra, giám sát là công tác cực kỳ quan trọng có ý nghĩa
quyết định đến việc nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước. Theo quan điểm
của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta: ở đâu có
Nhà nước thì ở đó có thanh tra, kiểm tra, giám sát; quản lý đồng thời phải có
thanh tra, kiểm tra, giám sát; quản lý thanh tra, kiểm tra, giám sát là một chứ
không phải là hai. Ở bên trong từng bộ phận hợp thành hệ thống chính trị của
nhà nước ta đều có những cơ chế hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát - 26
thanh tra, kiểm tra hành chính, thanh tra chuyên ngành, mọi cơ quan nhà nước
đều có chức năng kiểm tra, giám sát trong nội bộ cơ quan; các cơ quan quyền
lực nhà nước có chức năng giám sát việc thực hiện pháp luật. Bên cạnh đó
còn có các tổ chức xã hội - là những thiết chế cộng đồng thực hiện sự giám sát
đối với các cơ quan nhà nước, đặc biệt là hoạt động kiểm tra, giám sát của
đảng đối với các cơ quan nhà nước.
Như vậy, các phương thức kiểm tra, giám sát trong nhà nước pháp quyền
bao gồm: Hoạt động kiểm tra; Thanh tra; Giám sát của cơ quan quyền lực nhà