LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp bách của đề tài
Trong đời sống xã hội, pháp luật XHCN giữ một vai trò vô cùng quan
trọng: Là phương tiện thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng, là phương
tiện để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình và là phương tiện đề Nhà
nước quản lý xã hội.
Thanh tra, kiểm tra vốn là một yêu cầu tất yếu khách quan của cơ quan
quản lý Nhà nước, là phương thức đảm bảo pháp chế tăng cường kỷ luật trong
quản lý Nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Thanh
tra nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý vi phạm, góp phần thúc
đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế tăng cường pháp chế XHCN, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền lợi ích hợp pháp của cơ quan tổ chức và
công dân.
Hoạt động của công tác thanh tra thể hiện trên hai mặt chính là: Thanh
tra và xét giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo. Trong công tác tiếp công dân
xem xét giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân theo thẩm quyền là
quan trọng và đặc trưng nhất của hoạt động thanh tra.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.
Khiếu nại, tố cáo là một trong các quyền cơ bản của công dân đã được
Hiến pháp năm 1992 khẳng định tại Điều 74 “Công dân có quyền khiếu nại,
tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật
của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân
dân hoặc bất cứ cá nhân nào”.
Giải quyết tốt các khiếu nại tố cáo củ công dân không những bảo vệ,
khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đồng thời xử lý kịp
thời các vi phạm pháp luật, đảm bảo quyền tự do dân chủ của nhân dân mà
còn khắc phục được những lệch lạc, sai lầm của cán bộ công chức góp phần
giữ vững mối liên hệ giữa Nhà nước với nhân dân, nâng cao hiệu lực quản lý
1
Nhà nước. Chính vì vậy, việc đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại,
khó khăn vướng mắc để từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả công
hiện có quyết định hoặc hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi
ích nhà nước, quyền lợi hợp pháp của tập thể, cá nhân thì công dân có quyền
khiếu nại hoặc tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có thể nói khiếu
nại, tố cáo xuất hiện như một hiện tượng tất yếu của xã hội có giai cấp, có nhà
nước là do hành vi vi phạm pháp luật gây ra.
1. Khái niệm khiếu nại theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo.
Tại khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo 2005 có quy định:
Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức
theo thủ tục Luật khiếu nại, tố cáo quy định đề nghị cơ quan tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vì hành chính hoặc
quyết định kỷ luật cán bộ công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành
vi đó là trái pháp luật xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2. Khái niệm tố cáo theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo.
Tại điều 2 khoản 2 Luật, khiếu nại, tố cáo 2005 có quy định:
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục của Luật Khiếu nại, tố cáo quy định
báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền viết về hành vi vi phạm của
bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi
ích Nhà nước, quyền lợi, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
II. Mục đích, ý nghĩa của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do
dân, vì dân. Đảm bảo công bằng xã hội là mục tiêu của chế độ, phát huy dân
3
chủ xã hội chủ nghĩa vừa là một phương tiện thực hiện quyền làm chủ của
công dân, vừa là con đường đảm bảo sự công bằng xã hội. Do vậy, việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo của công dân kịp thời, đúng đắn thể hiện bản chất của
chế độ xã hội dân chủ của nhân dân, thể hiện quan điểm là dân gốc của Đảng
và Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được pháp luật quy định là một
trong những quyền cơ bản của công dân. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân kịp thời đúng đắn trước hết là thể hiện bản chất của chế độ xã hội,
- Giải quyết khiếu nại lần hai các khiếu nại mà thủ trưởng cơ quan cấp
dưới trực tiếp đã giải quyết nhưng còn khiếu nại trừ khiếu nại mà quyết định
giải quyết đã có hiệu lực pháp luật hoặc khiếu nại đã được toàn án thụ lý giải
quyết.
b) Đối với thủ trưởng các cơ quan Thanh tra
Thẩm quyền và trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại của thủ trưởng
các cơ quan thanh tra nhà nước được quy định trong Luật Khiếu nại, tố cáo tại
Điều 26, 27. Cụ thể như sau:
- Tổng thanh tra có thẩm quyền:
+ GIải quyết khiếu nại mà thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ đã giải
quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại.
+ Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các Bô, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp trong việc tiếp dân,
giải quyết khiếu nại, thi hành các quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu
lực pháp luật.
+ Trong trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại
đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ
chức thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền
áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét, xử lý đối với
người vi phạm.
5
2. Thẩm quyền giải quyết tố cáo.
Được quy định từ Điều 59 đến Điều 64 của Luật Khiếu nại, tố cáo.
a) Đối với thủ trưởng các cơ quan Nhà nước.
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người thuộc cơ quan nào thì thủ
trưởng cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.
- Tố cáo thủ trưởng, phó thủ trưởng thì thủ trưởng cấp trên trực tiếp có
trách nhiệm giải quyết.
b) Đối với thủ trưởng các cơ quan thanh tra Nhà nước.
Được quy định trong điều 62, 63 của Luật Khiếu nại, tố cáo. Thủ trưởng
vụ việc và gửi thông báo cho người khiếu nại biết.
- Xây dựng kế hoạch giải quyết vụ việc: Kế hoạch cần nêu ra các công
việc phải làm, tiến độ, thời gian của từng việc cụ thể, dự kiến các tình huống
phát sinh, các điều kiện đảm bảo cần thiết khi tiến hành giải quyết vụ việc.
- Tập hợp và nghiên cứu tài liệu liên quan làm căn cứ pháp lý để giải
quyết vụ việc.
Bước 2: Thẩm tra, xác minh vụ việc:
Đây là bước quyết định trong xem xét giải quyết vụ viêc. Đồng thời nó
cũng là bước đòi hỏi cao nhất về trình độ nghiệp vụ, năng lực hoạt động nghề
nghiệp.
- Vận dụng các biện pháp nghiệp vụ cơ bản: Làm việc với người khiếu
nại, người bị khiếu nại, người có liên quan. Kiểm tra, đối chiếu, xem xét thực
tế. Yêu cầu giám định nếu cần thiết. Tổ chức đối thoại, đối chất. Xác nhận cơ
quan có thẩm quyền. Sử dụng các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ. Đánh giá thông
tin, xác định căn cứ giải quyết.
- Báo cáo thẩm tra, xác minh: Sau khi thu nhập, xác định chứng cứ để
làm rõ các vấn đề cần thẩm tra, xác minh cán bộ được phân công phải có báo
cáo thẩm tra xác minh vấn đề đó.
7
Bước 3: Ra quyết định và phân bố quyết định.
- Tổng hợp báo cáo, chuẩn bị tài liệu: Đây là khâu tổng hợp toàn bộ công
việc đã làm. Báo cáo phải đảm bảo nội dung: Tóm tắt khái quát vụ việc khiếu
nại, quá trình thụ lý các cấp có thẩm quyền, quá trình kiểm tra xác minh, nhận
xét, kiến nghị.
- Dự kiến và hoàn chỉnh phương án giải quyết: Để đảm bảo vụ việc được
giải quyết chính xác, khách quan, thoả đáng phương án dự kiến giải quyết cần
được tham khải các bên hữu quan, các đoàn thể, thông báo cho các bên liên
quan trước khi giải quyết.
- Ra quyết định và công bố quyết định giải quyết khiếu nại: Nội dung và
hình thức của quyết định giải quyết khiếu nại phải đảm bảo được những yêu
thể, rõ ràng) yêu cầu người bị tố cáo giải trình bằng văn bản, kiểm tra các tài
liệu, hồ sơ đối chiếu với các chế độ, chính sách hiện hành.
- Kết thúc thẩm tra, xác minh và kết luận sơ bộ vụ việc: Khi đã làm rõ
các nội dung cần thẩm tra, xác minh cán bộ nghiệp vụ cần dự thảo và thông
báo kết luận sơ bộ cho các bên liên quan.
Bước 3: Kết luận và xử lý theo thẩm quyền
- Kết luận thẩm tra, xác minh: Đây là phần quan trọng quyết định tính
hiệu quả của quá trình giải quyết tố cáo. Kết luạn phải gọn, rõ ràng, chính xác,
viện dẫn điều luật phải đầy đủ cả nội dung và hình thức. Nội dung văn bản kết
luận gồm các nội dung: Tóm tắt nội dung tố cáo, kết quả đã giải quyết của cấp
có thẩm quyền, kết quả thẩm tra, xác minh từng nội dung, khẳng định sự việc
đúng sai của các bên đương sự, nguyên nhân, nội dung các sai phạm, kết luận,
kiến nghị về những hành vi vi phạm và trách nhiệm của tập thể, cá nhân có
liên quan.
- Xử lý theo thẩm quyền: Trên cơ sở kết luận thẩm tra, xác minh và kiến
nghị của cán bộ người có thẩm quyền đưa ra các quyết định, xử lý thích hợp.
- Hoàn chỉnh hồ sơ lưu trữ,các cơ quan chức năng tổ chức thực hiện và
đôn đốc, theo dõi vụ việc, tổ chức rút kinh nghiệm về giải quyết vụ việc.
9
PHẦN II
CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ
CÁO CỦA CÔNG DÂN TRÊN CẢ NƯỚC TRONG THỜI GIAN QUA
I. Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng công dân đi khiếu nại, tố cáo
Việc tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo là những công việc
thường xuyên, liên tục, là những việc làm đầy khó khăn phức tạp. Do đó việc
tìm hiểu nguyên nhân của tình trạng công dân đi khiếu nại, tố cáo sẽ giúp cho
chúng ta hiểu đúng toàn diện hơn về bản chất các vụ việc.
Các vụ việc khiếu nại, tố cáo xảy ra có từ nhiều nguyên nhân khác nhau,
nhưng chung quy lại nó đều xuất phát từ việc quyền, lợi ích của nhà nước, của
tập thể, của cá nhân bị xâm hại. Nhìn một cách khách quan có khi cũng cho
nại, tố cáo… Nhà nước ta đã tạo ra một hệ thống pháp lý quy định cụ thể về
các vấn đề có liên quan, trong đó nhấn mạnh đến vị trí, vai trò trách nhiệm
của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của các cán bộ làm công tác tiếp
dân.
Quyền và nghĩa vụ của công dân.
Song song với việc ban hành các văn bản pháp quy về công tác này nhà
nước ta cũng đã quan tâm hơn đến công tác tiếp công dân bằng cách trích
nguồn kinh phí đáng kế cho hoạt động xây dựng công sở, mua sắm các trang
thiết bị (Bàn ghế làm việc, quạt điện….) cho phòng tiếp công dân, cơ sở vật
chất dành cho công tác này so với trước đây có sự quan tâm hơn, tiến bộ hơn.
Nhận thức của cán bộ làm công tác tiếp dân giải quyết đơn thư Khiếu
nại, tố cáo ngày càng nâng cao, chế độ đãi ngộ có phần ưu đãi, nên họ yên
tâm, ổn định trong công tác.
Công tác giải quyết đơn thư Khiếu nại, tố cáo của công dân được Đảng,
Nhà nước ta quan tâm, chỉ đạo từ trung ương đến địa phương. Các cơ quan
hành chính nhà nước đã có chuyển biến rõ rệt, tỉ lệ giải quyết đơn thư Khiếu
11
nại, tố cáo của công dân đạt được hiệu quả cao hơn số đơn thư Khiếu nại, tố
cáo vượt cấp giảm, các “điểm nóng” về Khiếu nại tố cáo không còn nhiều.
Nhờ làm tốt công tác tiếp công dân và giải quyết Khiếu nại, tố cáo của
công dân nên hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính Nhà nước nâng lên, niềm
tin của nhân dân về Đảng về công cuộc đổi mới đất nước ngày càng tăng.
III. Những tồn tại
Mặc dù đã được cải thiện đáng kể cơ sở vật chất nhưng nhiều đơn vị, cơ
quan, địa phương vẫn chưa bố trí được phòng tiếp công dân, để tạo điều kiện
cho công dân phản ánh kiến nghị, Khiếu nại, tố cáo. Tình trạng bố trí phòng
tiếp công dân kiêm phòng làm việc vẫn còn. Nhiều cơ quan, đơn vị, địa
phương không trang bị hoặc trang bị quá sơ sài cho phòng tiếp công dân gây
tâm lý, thái độ không hài lòng cho người dân. Vẫn còn tình trạng thủ trưởng
các cơ quan, đơn vị, địa phương bố chí chưa đủ ngày tiếp công dân theo quy
án dân sự; Luật dân sự; Nghị định số 158/2005/NĐ- CP của Chính phủ về
đăng ký và quản lý hộ tịch, Luật công chứng năm 2006…. Ngoài ra, các
Thông tư, Công văn của Thanh tra Chính phủ, Bộ tư pháp và các Bộ, ban,
ngành là những văn bản chuyên ngành điều chỉnh về công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác giải quyết khiếu nại tố cáo,
ngoài các văn bản pháp lý như Hiến pháp, Luật khiếu nại, tố cáo… gần đây
Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đưa ra những chủ trương, chính sách đúng đắn
nhằm thúc đẩy một bước hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Cụ
thể, năm 2000 Bộ chính trị đã ra Chỉ thị số 53/CT – TW về một số công việc
cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000; Nghị Quyết
08/NQ – TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp trong thời gian tới; chỉ thị 09/CT – TW của Ban bí thư
Trung ương Đảng về một số vấn đề cấp bách trong giải quyết khiếu nại tố cáo
hiện nay, nghị quyết chuyên đề của Quốc hội năm 2004 giao Chính phủ chỉ
13
đạo các cấp, các ngành nâng cao hiệu quả, có những biện pháp hữu hiệu chấn
chỉnh kỷ cương, kỷ luật hành chính trong công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo….
Ngành Tư pháp theo nghĩa rộng bao hàm nhiều cơ quan tham gia tố tụng
như công an, toà án, viện kiểm soát, thi hành án…. Trong chuyên đề này, khái
niệm Ngành Tư pháp được hiểu là gồm các cơ quan có chức năng thực hiện
công tác thi hành án dân sự và các công việc có tính chất bổ trợ tư pháp và
hành chính tư pháp như công chứng, hộ tịch, bán đấu giá tài sản….Đó là một
hệ thống cơ quan do Bộ Tư Pháp- Cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức
năng quản lý nhà nước thống nhất về công tác tư pháp trong toàn quốc từ
Trung ương đến địa phương, bao gồm Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp và các Phòng
Tư pháp. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan
này, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo có một vị trí, vai trò rất quan trọng.
Để khái quát nội dung quy trình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo trong
cứu, báo cáo để Thứ trưởng xử lý;
- Thanh tra Bộ tiếp nhận các đơn vị gửi Bộ Tư pháp, Thanh tra Bộ, đơn
do Lãnh đạo Bộ giao. Sau khi nhận đơn, Thanh tra có trách nhiệm
nghiên cứu, phân loại, vào sổ theo dõi và xử lý từng trường hợp.
- Các đơn vị thuộc Bộ, sở Tư pháp tuỳ theo chức năng, chuyên môn
của mình, sau khi nhận được đơn của tổ chức, công dân gửi đến, do
Thanh tra hoặc các nguồn khác chuyển tới cũng phải tiến hành nghiên
cứu, phân loại vào sổ theo dõi.
3. Phân loại đơn, đăng ký vào sổ theo dõi và sổ thụ lý.
Căn cứ nội dung đơn, thư gửi đến ngành Tư pháp được phân thành hai
loại:
a1. Đơn khiếu nại, tố cáo gồm:
- Đơn khiếu nại;
- Đơn tố cáo;
- Đơn có cả nội dung khiếu nại và tố cáo.
15
a2. Đơn, thư khác gồm:
- Đơn, thư phản án, kiến nghị:
- Thư cảm ơn;
- Đơn đề nghị giải đáp pháp luật….
Trong phạm vi cuyên đề này chỉ đề cập đến quy trình xử lý đơn có nội
dung khiếu nại, tố cáo, các đơn, thư khách tuỳ từng trường hợp, thủ trưởng
các cấp quyết định việc xử lý.
- Các đơn vị nhận được đơn đều phải vào sổ theo dõi theo mẫu chung
thống nhất, phân rõ các loại khiếu nại, tố cáo và các loại khác. Riêng đối với
đơn vừa có nội dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo thì đơn vị nhận đơn xử
lý nội dung khiếu nại theo quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 5, điều 6 và
xử lý nội dung tố cáo theo quy định tại Điều 38 Nghị định số 136/2006/NĐ –
CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của luật khiếu nại, tố cáo.
Giai đoạn này phải xác định cho được những yêu cầu sau:
+ Nội dung đơn đề cập, khiếu nại hay tố cáo: Nghiên cứu, đọc và tìm ra
bản chất của vấn đề, chọn lọc vần đề nào là chủ yếu.
+ Xác định yêu cầu mấu chốt của đơn: Nếu trong đơn có nhiều nội
dung, nhiều yêu cầu thì phải phân chia rạch ròi từng nội dung thuộc lĩnh vực
nào và cơ quan nào giải quyết, đã giải quyết đến cấp nào của từng nội
dung… và cuối cùng rút ra vấn đề nào là mấu chốt được nêu trong đơn yêu
cầu.
III. Xử lý, giải quyết đơn.
1. Đơn khiếu nại.
1.1. Các đơn thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng.
Cán bộ xử lý phải xác định thẩm quyền giải quyết của cơ quan, đơn vị
trên cơ sở các quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng
được quy định trong Luật Khiếu Nại, tố cáo; Điều 60 pháp lệnh thi hành án
dân sự năm 2004. Cụ thể, Bộ trưởng có thẩm quyền giải quyết đối với:
17
- Khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng,
của cán bộ, công chức do Bộ trưởng quản lý trực tiếp. Trường hợp này, Bộ
trưởng căn cứ vào nội dung, tính chất vụ việc để khiếu nại để Giao Chánh
thanh hoặc Thủ trưởng đơn vị khác thuộc Bộ hoặc giao Chánh Thanh tra chủ
trì, phối hợp cùng thủ trưởng đơn vị khác tiến hành xác minh, kết luận và kiến
nghị giải quyết
- Các khiếu nại mà thủ trưởng đơn vị thuộc Bộ đã giải quyết lần đầu
nhưng còn có khiếu nại.
- Khiếu nại có nội dung thuộc quyền quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp
mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc Sở Tư pháp đã giải quyết
lần đầu nhưng còn khiếu nại.
- Khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức do Bộ trưởng ban
hành; khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức do Thủ trưởng đơn vị
thuộc Bộ ban hành, của Giám đốc sở ban hành và đã được cấp này giải quyết
Việc giải quyết khiếu nại phải được lập hồ sơ, gồm có:
- Đơn khiếu nại hay văn bản ghi lời khiếu nại;
- Văn bản trả lời của người bị khiếu nại.
- Biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định, biên bản
gặp gỡ, đối thoại.
- Quyết định giải quyết khiếu nại.
- Các tài liệu có liên quan.
Hồ sơ giải quyết khiếu nại được lưu trữ theo quy định về lưu trữ hồ sơ,
phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu. Trường hợp người khiếu nại khởi
kiện vụ án hành chính tại Toà án thì hồ sơ này được chuyển cho Toà án khi có
yêu cầu.
* Thông báo kết quả giải quyết.
Sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại, kết quả giải quyết khiếu nại
phải được thông báo công khai cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, người
có quyền nghĩa vụ liên quan. Căn cứ vào mục đích, yêu cầu của việc công
19
khai quyết định giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết có thể
lựa chọn một hoặc một số hình thức để thực hiện công khai:
+ Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
+ Đưa lên trang thông tin điện tử;
+ Tổ chức công bố công khai;
+ Phát hành ấn phẩm.
* Thời hạn giải quyết khiếu nại.
Theo quy định của Luật Khiếu nại tố cáo hiện hành thì thời hạn giải
quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý, đối với những
vụ việc phức tạp thì có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày. Thời hạnh
giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý, những vụ
việc phức tạp thì có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết theo quy
định tại Điều 36 của Luật Khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải
1.3. Các đơn thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp địa phương.
Nếu đơn gửi đến cơ quan Bộ Tư Pháp, Thanh tra Bộ vào sổ theo dõi và
chuyển đến các đơn vị có chức năng giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về lĩnh
vực đó để xử lý. Các đơn vị này có trách nhiệm đăng ký vào sổ và làm phiếu
chuyển đến cơ quan tư pháp địa phương có thẩm quyền để giải quyết.
Việc giải quyết đơn khiếu nại ở các cơ quan tư pháp địa phương được
thực hiện như sau:
+ Đơn thuộc thẩm quyền
Theo điều 22 Luật Khiếu nại tố cáo, Giám đốc sở tư pháp có thẩm
quyền:
- Giải quyết khiếu nại với quyết định hành chính, hành vi hành chính
của mình, của cán bộ, công chức do mình trực tiếp quản lý;
- Giải quyết khiếu nại mà thủ trưởng cơ quan thuộc Sở đã giải quyết
nhưng còn khiếu nại.
* Báo cáo đề xuất việc xác minh giải quyết khiếu nại.
21
Trên cơ sở xác định đúng những trường hợp thuộc thẩm quyền của thủ
trưởng cơ quan mình, đơn vị chức năng hoặc cán bộ được phân công trong
thời hạn 10 ngày kể từ khi nhận được đơn phải báo cáo thủ trưởng để quyết
định việc thụ lý giải quyết.
Giám đốc Sở căn cứ nội dung, tính chất vụ việc khiếu nại để giao
Chánh Thanh tra Sở hoặc thủ trưởng phòng, ban chuyên môn trực thuộc hoặc
giao Chánh Thanh tra chủ trì, phối hợp cùng thủ trưởng phòng, ban chuyên
môn tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị việc giải quyết.
+ Các đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền.
Khi nhận được đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền, các cơ quan,
đơn vị xử lý như sau:
- Đối với khiếu nại đã có quyết định giải quyết lần hai thì không báo
cho người khiếu nại biết và yêu cầu thực hiện quyết định đó, việc thông báo
chỉ thực hiện một lần;
- Nếu tố cáo thuộc thẩm quyền của cấp mình, cán bộ tiếp nhận đơn phải
làm biên nhận, vào sổ thụ lý trình thủ trưởng có thẩm quyền giải quyết trong
thời hạn 10 ngày. Cũng trong thời hạn đó, nếu không thuộc thẩm quyền thì
phải chuyển đơn và các tài liệu liên quan đến người có thẩm quyền giải quyết;
- Trường hợp tố cáo hành vi phạm tội thì chuyển đơn đến cơ quan điều
tra, viện kiểm sát theo quy định tại Điều 71 Luật khuyến mại, tố cáo;
- Không xem xét, giải quyết nững trường hợp tố cáo giấu tên, mạo tên,
không rõ địa chỉ, không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký hoặc đã được
cấp có thẩm quyền giải quyết, nay tiếp tục tố cáo nhưng không có tài liệu,
chứng cứ mới.
Khi người tố cáo đến trụ sở cơ quan trình bày trực tiếp thì người tiếp
phải ghi rõ nội dung tố cáo, họ tên, địa chỉ người tố cáo, khi cần thiết thì ghi
âm lời tố cáo. Văn bản được đọc lại cho người tố cáo nghe và ký tên xác
nhận.
23
2. Thẩm quyền giải quyết tố cáo.
Việc giải quyết tố cáo đối với cán bộ, công chức ngành Tư pháp được
áp dụng theo quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên,
trong quá trình giải quyết cần lưu ý về phân cấp và uỷ quyền quản lý cán bộ,
công chức thi hành án địa phương; về công tác phối hợp khi đối tượng bị tố
cáo là những người có chức danh nghề nghiệp do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ
nhiệm như: Công chứng viên, giám định viên….
Theo những quy định hiện hành, Trưởng phòng Tư pháp không có
thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức
thuộc Phòng vì Phòng tư pháp là cơ quan sử dụng công chức, chứ không phải
là cơ quan quản lý công chức; trưởng hợp này, thẩm quyền giải quyết là của
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
* Thẩm quyền của Bộ trưởng.
- Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm các quy định về
nhiệm vụ, công vụ của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng các đơn vị thuộcBộ và
- Xác minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo
thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ trưởng khi được giao;
- Xem xét, kết luận nội dung tố cáo mà thủ trưởng các đơn vị đã nêu ở
mục b trên đây đã giải quyết nhưng có vi phạm pháp luật, trong trường hợp
kết luận việc giải quyết có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đã giải quyết
xem xét, giải quyết lại.
d. Thẩm quyền của Giám đốc Sở:
Giám đốc Sở có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
của Trưởng phòng, Phó trưởng phòng thuộc Sở và những người khác do mình
bổ nhiệm và quản lý trực tiếp.
e. Thẩm quyền của Chánh thanh tra Sở:
- Xác minh, kết luận, nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo
thuộc thẩm quyền của Giám đốc Sở khi được giao.
25