Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa Bài Tiểu luận
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo (KNTC) là trách nhiệm của các
cơ quan nhà nước, nhiệm vụ công tác thường xuyên của các cấp các ngành, các
cơ quan, đơn vị. KNTC là một trong những quyền cơ bản của công dân được
quy định trong Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật
Khiếu nại của Quốc hội ngày 02/11/2011 và Luật Tố cáo ngày 03/11/2011 đã cụ
thể hóa các quyền KNTC của công dân thành những chế độ được thực thi trên
thực tế, quyền này cũng được quy định trong Luật Tiếp công dân của Quốc hội
ban hành ngày 25/11/2013 và có hiệu lực ngày 01/7/2014 và Nghị định số:
64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ Quy định chi tiết
một số điều của Luật tiếp công dân. Đây chính là cở sở pháp lý quan trọng để
công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại đồng thời là
biểu hiện tính dân chủ trong hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa.
Trong hoạt động thực tiễn, trong mối quan hện giữa công dân với cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội; giữa công dân với công dân, khi phát hiện có quyết
định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tập thể, cá nhân, thì
công dân có quyền khiếu nại hoặc tố cáo với cơ quan Nhà nước, với người có
thẩm quyền xem xét giải quyết. Đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức tiếp
dân, giải quyết KNTC theo thẩm quyền quy định của Pháp luật, góp phần phát
huy dân chủ, tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, lợi ích hợp pháp của công dân chính là chính quyền xã, phường, thị trấn.
Giải quyết KNTC đúng quy định của pháp luật thể hiện bản chất tốt
đẹp của nhà nước ta. Những quyết định hành vi trái pháp luật của cơ quan, cán
bộ, công chức nhà nước hoặc công dân bị xử lý nghiêm minh thì quan hệ giữa
nhân dân với Đảng và Nhà nước được củng cố ngày một vững chắc, dân chủ
được phát huy, tính tích cực sáng tạo của nhân dân được nâng cao. Trong những
năm qua thông qua công tác tiếp dân, nỗ lực giải quyết KNTC của các cấp, các
ngành nói chung, xã Cẩm Bình nói riêng đã phát huy được tính dân chủ trong
Lớp A – K41 Trung cấp LL-HC
I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI Ở XÃ CẨM BÌNH
Cẩm Bình là xã nằm phía Tây huyện Miền núi Cẩm Thủy, tỉnh Thanh
Hóa, cách trung tâm huyện 5km có đường quốc lộ 217 chạy qua, phía Tây giáp
xã Cẩm Thạch, phía Đông là thị trấn Cẩm Thủy, phía Bắc là dòng Sông Mã và
Phía Nam là dãy núi Hạc Sơn giáp với xã Cẩm Châu, địa hình đồi núi đan xen
nhau và bị chia cắt bởi nhiều suối nhỏ. Tổng diện tích tự nhiên là 3086,50ha,
trong đó đất Nông nghiêp là 924,72 ha, đất Lâm nghiệp là 1446,7ha. Là nơi sinh
sống của 3 dân tộc: Kinh, Mường, Dao với tổng số dân là 10942 người, thu nhập
bình quân theo đầu người năm 2013 là 11 triệu đồng, là xã điểm của tỉnh Thanh
Hóa trong phong trào xây dựng nông thôn mới, đến 6 tháng đầu năm 2014 xã đã
hoàn thành 14/19 tiêu chí. Cẩm Bình là xã có nền kinh tế thuần nông với tập
quán canh tác trồng lúa nước lâu đời, hệ thống giao thông thuận lợi. Nhờ có
điều kiện địa lý, đặc biệt là sông có lưu vực cao nên trên con sông Mã được
quy hoạch xây dựng Thủy điện Cẩm Thủy 1 tại thôn Chợ và đã hoàn thành song
công tác đền bù giải phóng mặt bằng, những lợi ích tích cực của việc xây dựng
hệ thống thủy điện cùng với thế mạnh các sản phẩm từ cây trồng nông
nghiệp, công nghiệp hứa hẹn kinh tế xã có sự chuyển biến mạnh mẽ, các
nguồn thu được đa dạng từ kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp và dịch vụ.
Cùng với sự phát triển kinh tế, việc đầu xây dựng xã điểm về xây dựng
nông thôn mới của tỉnh Thanh Hóa và đầu tư xây dựng thủy điện làm cho diện
mạo nông thôn Cẩm Bình ngày càng được đổi mới, có cơ sợ hạ tầng thủy
điện, đường giao thông nông thôn, trường học, trạm xá và các công trình phúc
lợi được đầu tư xây dựng góp phần nâng cao cuộc sống cho nhân dân. Tuy
nhiên mặt trái của quá trình phát triển, ảnh hưởng không tốt như việc xây dựng
thủy điện đã thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, các vấn đề nảy sinh từ việc mở
rộng tuyến quốc lộ đã làm phát sinh những tiêu cực, bất cập của cơ chế, chính
sách trong giải phóng mặt bằng, cấp đất, mua bán đất đai trái phép, không
đúng thẩm quyền, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản,…Từ các vấn đề
Lớp A – K41 Trung cấp LL-HC
3
nhiệm của người tiếp công dân được quy định tại điều 8 Luật Tiếp công dân là:
Lớp A – K41 Trung cấp LL-HC
4
Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa Bài Tiểu luận
- Khi tiếp công dân, người tiếp công dân phải bảo đảm trang phục chỉnh
tề, có đeo thẻ công chức, viên chức hoặc phù hiệu theo quy định.
- Yêu cầu người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nêu rõ họ tên,
địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có); có đơn hoặc
trình bày rõ ràng nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; cung cấp thông
tin, tài liệu cần thiết cho việc tiếp nhận, thụ lý vụ việc.
- Có thái độ đứng mực, tôn trọng công dân, lắng nghe, tiếp nhận đơn
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh hoặc ghi chép đầy đủ, chính xác nội dung
mà người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trình bày.
- Giải thích, hướng dẫn cho người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, kết luận, quyết định
giải quyết đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền; hướng dẫn người
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến đúng cơ quan hoặc người có thẩm
quyền giải quyết.
- Trực tiếp xử lý hoặc phân loại, chuyển đơn, trình người có thẩm quyền
xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; thông báo kết quả xử lý khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh cho công dân.
- Yêu cầu người vi phạm nội quy nơi tiếp công dân chấm dứt hành vi vi
phạm; trong trường hợp cần thiết, lập biên bản về việc vi phạm và yêu cầu cơ
quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật.
1.2. Thực trạng công tác tiếp công dân ở xã Cẩm Bình:
* Những kết quả đạt được:
Một trong những yếu tố quan trọng để giải quyết có hiệu quả, chất lượng
các khiếu nại tố cáo của nhân dân đó là thực hiện tốt công tác tiếp công dân để
tiếp nhận, xử lý đơn thư KNTC. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác
tiếp công dân, những năm gần đây, các ngành và chính quyền địa phương xã
dân là những cán bộ, công chức có kinh nghiệm, am hiểu đời sống xã hội, các
chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của
địa phương. Cán bộ, công chức được phân công tiếp dân phải đáp ứng đầy đủ
các yêu cầu như: Mặc trang phục nghiêm túc, hòa nhã, tôn trọng người đến
khiếu nại, tố cáo, trong giao tiếp dung ngôn ngữ rõ rang, mạch lạc, không quát
nạt, hách dịch, nhũng nhiễu, gây khó khăn phiền hà cho công dân.
Lớp A – K41 Trung cấp LL-HC
6
Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa Bài Tiểu luận
Kết quả cụ thể trong năm 2013, và 9 tháng đầu năm 2014 xã Cẩm Bình
đã tiếp 587 lượt công dân, trong đó lãnh đạo tiếp 126 lượt người, cán bộ tiếp
432 lượt người . Nội dung công dân đến kiến nghị, đề nghị, khiếu nại, tố cáo
tập trung trong lĩnh vực giải phóng mặt bằng, chính sách xã hội, tranh chấp đất
đai. Như vậy phòng tiếp dân đã làm tốt được vai trò tiếp nhận những ý kiến
phản ánh, đơn thư KNTC, tuyên truyền giáo dục pháp luật và quan trọng hơn
nữa là lãnh đạo xã gần dân hơn và lắng nghe những kiến nghị, phản ánh những
nội dung có thể trả lời ngay cho dân rút ngắn thời gian chờ đợi kết quả giải
quyết. Những nội dung phức tạp có thể trao trực tiếp cho các ban, bộ
phận xác minh báo cáo để có thể trả lời thỏa đáng tình hình. Cán bộ tiếp dân
vừa thực hiện trách nhiệm tiếp dân vừa thực hiện công việc giải thích cho dân
hiểu chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, đã hạn chế những
bức xúc của công dân tại nơi tiếp dân và hạn chế được đơn thư vượt cấp.
* Tồn tại, hạn chế của công tác tiếp công dân tại chính quyền xã:
Bên cạnh những việc đã làm được thì công tác tiếp dân, vẫn còn
những tồn tại, hạn chế cần được uốn nắn, khắc phục đó là:
Thứ nhất: Do đặc điểm là một xã miền núi, dân số đông nhất huyện lại có
đồng bào dân tộc sinh sống nên trình độ nhận thức và hiểu biết về các chính
sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước còn hạn chế nên dẫn đến người đến
khiếu nại, tố cáo đông vì vậy ảnh hưởng đến công tác tiếp dân của địa phương.
Thứ hai: Việc xác định phân loại xử lý nội dung nào là khiếu nại, nội
bức xúc trong quần chúng nhân dân.
- Cán bộ chuyên môn còn thiếu kinh nghiệm trong công tác tiếp dân,
trong tham mưu giải quyết đơn thư của công dân nên chất lượng chưa cao. Việc
ứng dụng công nghệ thông tin để chuyển tải các chủ trương, chính sách, công
khai các hoat động quản lý nhà nước chưa được quan tâm.
- Cơ sở vật chất còn thiếu thốn nên ảnh hưởng đến công tác tiếp công dân.
2. Công tác tiếp nhận giải quyết đơn thư KNTC.
Khiếu nại và tố cáo rất khác nhau, việc phân biệt giữa khiếu nại với tố cáo
có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp công dân thực hiện quyền khiếu nại,
quyền tố cáo của mình đúng thủ tục và đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại, tố cáo; đồng thời giúp cho cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại, tố
Lớp A – K41 Trung cấp LL-HC
8
Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa Bài Tiểu luận
cáo nhanh chóng, kịp thời, chính xác, tránh nhầm lẫn, sai sót trong khi giải quyết
khiếu nại, tố cáo. Do đó, ngày 11 tháng 11 năm 2011, Quốc hội Khóa 13 đã ban
hành Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo, 02 Luật này đều có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/7/2012 và thay thế Luật Khiếu nại, tố cáo. Đây là lần đầu tiên khiếu nại,
tố cáo được tách thành 02 Luật và quy định cụ thể
2.1. Một số nội dung cơ bản của công tác giải quyết khiếu nại của
công dân.
* Khái niệm khiếu nại.
Theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011: “Khiếu nại là việc công
dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của
cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành
chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho
rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp
pháp của mình” (Khoản 1 Điều 2). Trong đó, quyết định hành chính, hành vi
hành chính và quyết định kỷ luật cán bộ, công chức được định nghĩa như sau:
khiếu nại lần đầu có các quyền và nghĩa vụ như sau:
1) Các quyền của người giải quyết khiếu nại lần đầu:
a, Yêu cầu người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung
cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu
để làm cơ sở giải quyết khiếu nại;
b, Quyết định áp dụng, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp theo quy định tại Điều
35 của Luật Khiếu nại: Trong quá trình giải quyết khiếu nại, nếu xét thấy việc
thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại sẽ gây hậu quả khó khắc phục, thì
người giải quyết khiếu nại phải ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết
định đó. Thời hạn tạm đình chỉ không vượt quá thời gian còn lại của thời hạn
giải quyết. Quyết định tạm đình chỉ phải được gửi cho người khiếu nại, người bị
khiếu nại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan và những người có trách nhiệm
thi hành khác. Khi xét thấy lý do của việc tạm đình chỉ không còn thì phải hủy
bỏ ngay quyết định tạm đình chỉ đó.
2) Các nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại lần đầu:
a, Tiếp nhận khiếu nại và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra
Lớp A – K41 Trung cấp LL-HC
10
Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa Bài Tiểu luận
nhà nước cùng cấp về việc thụ lý giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành
chính, hành vi hành chính bị khiếu nại;
b, Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính
khi người khiếu nại yêu cầu;
c, Tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan;
d, Gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại và chịu trách
nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết khiếu nại của mình; trường hợp khiếu
nại do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển đến thì phải thông báo
kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đó theo quy định của pháp luật;
d, Ra quyết định giải quyết khiếu nại và công bố quyết định giải quyết
khiếu nại;
đ, Cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại khi người
khiếu nại, người bị khiếu nại hoặc Tòa án yêu cầu.
2.2. Một số nội dung cơ bản của công tác giải quyết tố cáo của công
dân.
* Khái niệm tố cáo:
Theo Điều 2 Luật Tố cáo số 03/2011/QH13 nêu rõ: Tố cáo là việc công
dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm
pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ
chức.
* Đặc điểm tố cáo.
- Chủ thể tố cáo là cá nhân ( gồm có công dân và người nước ngoài).
- Chủ thể bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo.
- Đối tượng tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ
chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
- Thủ tục tố cáo do pháp luật quy định chặt chẽ.
- mục đích của tố cáo không chỉ là bảo vệ quyền và lợi ích của người tố
cáo mà còn bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức,
công dân khác.
* Quyền và nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo
Lớp A – K41 Trung cấp LL-HC
12
Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa Bài Tiểu luận
1. Người giải quyết tố cáo có các quyền sau đây:
a, Yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội
dung tố cáo;
b, Yêu cầu người bị tố cáo giải trình bằng văn bản về hành vi bị tố cáo;
kinh tế – xã hội trên địa bàn.
Trong quá trình xem xét giải quyết đơn thư KNTC theo thẩm quyền
UBND xã đã tuân thủ chặt chẽ trình tự, thủ tục giải quyết KNTC theo đúng
quy định của pháp luật, đảm bảo kết quả giải quyết kịp thời, khách quan và
đúng pháp luật. Chính vì vậy đã góp phần tạo được niềm tin trong nhân dân,
chỉ có một số ít vụ việc giải quyết còn kéo dài và vẫn còn khiếu kiện vượt cấp.
Từ năm 2010 đến nay, UBND xã đã tiếp nhận 2160 đơn thư kiến nghị, đề
nghị, KNTC. Đơn thư thuộc thẩm quyền UBND xã là 1944 đơn thư, đơn thư
thuộc thẩm quyền cấp trên là 216 đơn thư.
Nội dung đơn thư tập trung trên các lĩnh vực:
- Về đền bù giải phóng mặt bằng, về đất đai, nhà cửa: 1394 đơn, chiếm
64,5 %
- Vế chính sách, xã hội: 256 đơn, chiếm 11,8%
- Về tài chính, tín dụng: 128 đơn, chiếm 6,0 %
- Nội dung khác: 382 đơn, chiếm 17,7 %
Lượng đơn thư đã giải quyết xong đạt 87 %.
Từ năm 2010 đến nay, toàn xã có 93 đơn khiếu nại vượt cấp trong đó có 2
đơn vượt lên đến cấp Trung ương đó là đơn của Ông Hoàng Xuân Sinh ở Thôn
Sẻ, khiếu nại về vấn đề chính sách cho người nhiễm chất độc gia cam, và đơn
của ông Phạm Xuân Đỉnh thôn Xanh khiếu nai về việc giải quyết chế độ cho Bộ
đội xuất ngũ theo nghị định 62 của Thủ tướng chính phủ.
Những vụ việc đã được giải quyết qua tổng kết, phân loại như sau:
Đơn thư KNTC, kiến nghị, đề nghị đúng 57 %; có đúng có sai: 26,5 %; sai
hoàn toàn: 16,5 %.
Trong số 1944 vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết cấp xã, có 187 vụ
việc phức tạp phải thành lập ban thanh tra nhân dân giải quyết khiếu nại, tố
cáo. Ban thanh tra đã tiến hành xác minh vận động, thuyết phục giải quyết triệt
để các vấn đề đơn thư nêu, chỉ rõ những nội dung đúng được giải quyết theo
chính sách, pháp luật đồng thời vạch rõ những nội dung sai, thậm chí vu khống
Lớp A – K41 Trung cấp LL-HC
tác giải quyết KNTC thì: Đối thoại với công dân hời hợt, chứng cứ lỏng lẻo,
thiếu thuyết phục, căn cứ kết luận còn yếu, thái độ còn né tránh, đùn đẩy lên cấp
Lớp A – K41 Trung cấp LL-HC
15
Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa Bài Tiểu luận
trên giải quyết, không dám nhận sai và sửa sai; công dân bị xâm hại quyền lợi
chính đáng khi đề nghị chính quyền giải quyết thì có thái độ thờ ơ, chần chừ làm
giảm lòng tin trong dân , dẫn đến bức xúc trong dân và đơn thư vượt cấp.
Thứ hai: Việc xác định phân loại xử lý nội dung nào là KNTC còn yếu
của cán bộ tiếp dân, còn có hiện tượng nhầm lẫn giải quyết quyết định hành
chính, hành vi hành chính với giải quyết dân sự, giải quyết khiếu nại với tố cáo
dẫn đến quyết định giải quyết chưa đúng với quy định của pháp luật.
Thứ ba: Hiệu lực, hiệu quả sau quá trình kết luận vụ việc chưa cao do
chưa kết hợp được giưa giải quyết theo pháp luật với vận động, thuyết phục
hòa giải các đoàn thể, thôn bản và tập quán người dân của địa phương.
Thứ tư: Việc đối thoại đôi khi còn mang hình thức mà chưa thực sự lắng
nghe, hướng dẫn giải thích thấu đáo cho người KNTC hiểu rõ chủ trương, chính
sách pháp luật. Do đó măc dù đơn thư đã giải quyết theo đúng thẩm quyền
nhưng nhiều người dân vẫn tiếp tục KNTC lên cấp trên.
Thứ năm: Trình độ của cán bộ tiếp dân, giải quyết KNTC chưa đều,
chưa sâu và chưa nắm chắc quy trình giải quyết vòng vo kéo dài, hiệu quả thấp.
* Nguyên nhân hạn chế, tồn tại.
- Công tác phổ biến giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về giải
quyết KNTC nói riêng chưa thường xuyên, liên tục, hình thức chưa phong phú
nên hiệu quả chưa đạt cao. Mức độ hiểu biết pháp luật của nhân dân còn hạn
chế, trong khi đó vai trò của tổ chức tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý luân được
phát huy, nhưng vai trò của các tổ chức đoàn thể nhân dân trong phối hợp tư vấn
pháp luật, trợ giúp pháp lý chưa được thường xuyên.
- Nhận thức pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức chưa thống
nhất, nhất là việc xá định thẩm quyền giả quyết KNTC, hình thức văn bản giải
thực hiện tốt Nghị quyết số 39/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội, Chỉ
thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 cảu Bộ chính trị; Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày
18/5/2012, … về công tác tiếp công dân, giả quyết KNTC.
Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác giải
quyết KNTC, đối với nội dung và hình thức chỉ đạo, giữ nguyên tắc Đảng
không làm thay vai trò quản lý nhà nước nhưng giữ định hướng dân chủ tập
Lớp A – K41 Trung cấp LL-HC
17
Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa Bài Tiểu luận
trung. Do vậy duy trì sự chỉ đạo của Đảng trong công tác giải quyết KNTC là
hết sức quan trọng và cần thiết.
Ba là, cần phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong tham gia giải
quyết đơn thư KNTC. Đặc biệt là phát huy vai trò, trách nhiệm quản lý, điều
hành của chính quyền địa phương trong chỉ đạo giải quyết đơn thư KNTC; chính
quyền có kế hoạch, chương trình cụ thể, đồng thời phải phân công trách nhiệm
một cách rõ rang để chỉ đạo, giải quyết có hiệu quả đơn thư KNTC trên địa bàn.
Cần có những định hướng đúng đắn trên cơ sở pháp luật, phù hợp với điều kiện,
hoàn cảnh, cơ chế chính sách và phong tục tập quán của địa phương. Thống
nhất trong phương thức giải quyết, xử lý nghiêm túc và triệt để những cán
bộ đảng viên vi phạm.
Bốn là, Hội đồng nhân dân cần tăng cường công tác giám sát đối với
việc giải quyết KNTC của chính quyền. Đại biểu HĐND đã có mối liên hệ chặt
chẽ với cử tri trên địa bàn thông qua hoạt động tiếp xúc. Đó là kênh thông tin
quan trọng nắm bắt những bức xúc nổi cộm trong nhân dân, đại diện cho những
nguyện vọng chính đáng của nhân dân và yêu cầu các cơ quan đơn vị tiếp nhận
giải quyết theo chế độ chính sách.
Năm là, chính quyền xã và các đơn vị cần có sự công khai, minh bạch, cơ
chế chính sách trên các lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến người dân, cán bộ
công chức như: Đất đai, tài chính, xây dựng cơ bản, các khoản thu chi đóng góp
của nhân dân. Cơ chế phải rõ ràng, chính sách cụ thể và đến được với người
dân và giải quyết KNTC.
3. Đối với công tác giải quyết đơn thư KNTC:
- Thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở, tập trung chỉ đạo, giải quyết kịp
thời những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân và các vụ việc thuộc thẩm quyền,
không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; quá trình giải quyết phải đảm bảo trình tự,
thủ tục theo quy định của pháp luật, tổ chức tốt việc đối thoại với nhân dân khi
giải quyết khiếu nại. Tiến hành rà soát các vụ việc còn tồn đọng, trên cơ sở kết
quả kiểm tra, đôn đốc giả quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo còn tồn đọng, phức
tạp, kéo dài phải lập kế hoạch cụ thể, có biện pháp tích cực để giải quyết từng vụ
việc.
Lớp A – K41 Trung cấp LL-HC
19
Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa Bài Tiểu luận
- Đơn thư đến với các cấp có thẩm quyền theo nhiều nguồn khác
nhau nên cần có bộ phận xử lý, bóc tách nội dung, nội dung khiếu nại, kiến nghị,
đề nghị tố cáo để giao cho cá nhân cơ quan có trách nhiệm thẩm quyền giải
quyết và trả lời trực tiếp cho công dân, tổ chức. Qua đó cần nâng cao nghiệp
vụ, xử lý tốt đơn thư trùng lặp, không đủ điều kiện giải quyết và thuận lợi cho
công tác thống kê báo cáo để có những đánh giá phân loại khoa học hơn.
- Phần lớn đơn thư phát sinh từ xã, vì vậy muốn chuyển biến kết quả giải
quyết KNTC thì trước hết người lãnh đạo chính quyền cần có nhận thức đúng
đắn, đầy đủ về KNTC.Trong quá trình giải quyết KNTC cần tăng cường tiếp xúc
với công dân nhằm tìm hiểu nguyên nhân, nguồn gốc phát sinh KNTC gắn với
làm tốt việc thu thập chứng cứ, tài liệu làm căn cứ cho việc giải quyết đơn thư
KNTC. Khi xảy ra khiếu nại, tố cáo chính quyền cơ sở phải kịp thời giải quyết
không được ỷ lại, trông chờ cấp trên. Có như vậy mới thấy được những bất
cập, yếu kém trong khâu chỉ đạo, điều hành công việc và phải dũng cảm nhìn
thấy trách nhiệm dám nhận sai và sửa sai, không nên tìm mọi cách che đậy, phủ
nhận sai phạm của mình. Vì việc đó sẽ dẫn đến tình trạng công dân bức xúc,
tập hợp để khiếu nại.
tốt công tác này cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Làm tốt
công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng quy định của Pháp
luật thể hiện bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta, Nhà nước của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân. Những quyết định, hành vi trái pháp luật của cơ quan,
cán bộ, công chức nhà nước hoặc công dân bị xử lý nghiêm minh thì quan hệ
giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước được củng cố ngày một vững chắc, dân
chủ được phát huy, tính tích cực, sáng tạo của nhân dân được nâng cao. Thực
hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC là sự thể hiện trách nhiệm của
cơ quan nhà nước với nhân dân, sẽ tác động tích cực đến thái độ, tình cảm của
nhân dân, xây dựng niềm tin của nhân dân vào cơ quan Nhà nước.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tiếp công dân, giải quyết
KNTC, từ trước tới nay, Đảng và Nhà nước ta nói chung và chính quyền xã Cẩm
Bình nói riêng luôn quan tâm chú trọng thực hiện tốt công tác này, đặc biêt
chính quyền xã đã không ngừng cố gắng, nâng cao chất lượng tiếp công dân,
giải quyết khiếu nại, tố cao trên địa bàn. Qua đó bảo đảm dân chủ, công khai,
công bằng trong xã hội , góp phần ổn định an ninh chính trị, tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả
đạt được công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn xã
Cẩm Bình vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Qua quá trình học tập lý
luận và nghiên cứu thực tiễn công tác tiếp công dân, KNTC ở địa phương, em
đã đưa ra một số đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tiếp
công dân, giải quyết KNTC trong thời gian tới. Với mong muốn được đóng góp
công sức mình cho công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở địa phương ngày
một tốt hơn. Góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của xã
nhà.
Lớp A – K41 Trung cấp LL-HC
22
Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa Bài Tiểu luận
Tóm lại, việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tiếp công dân, giải
quyết KNTC không chỉ đòi hỏi ở tầm vĩ mô (như cơ chế, chính sách, pháp