Quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ SƠN QUAN HỆ GIỮA NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn thạc sĩ triết học

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số : 60 22 85

Người hướng dẫn khoa học: TS. Dương Văn Duyên Hà Nội - 2009
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………… 1
NỘI DUNG………………………………………………………… 8
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ GIỮA NỘI LỰC
VÀ NGOẠI LỰC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM………………………………………. 8
1.1. Khái niệm và kết cấu của nội lực……………………………. 8
1.2. Khái niệm và kết cấu của ngoại lực…………………………. 27
1.3. Quan hệ giữa nội lực và ngoại lực………………………… 34
1.3.1. Nội lực là yếu tố quyết định tranh thủ ngoại lực………… 34
1.3.2. Tranh thủ ngoại lực tạo điều kiện phát huy nội lực……… 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY QUAN
HỆ GIỮA NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC TRONG QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN

hỏi sự nỗ lực vượt bậc của cả dân tộc để đưa đất nước thoát khỏi cảnh nghèo
nàn, lạc hậu. Thời gian từ nay đến năm 2020 đã được Đảng ta xác định là thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa nhằm biến nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại, khắc phục tình trạng tụt hậu so với các nước khác trong khu
vực và trên thế giới. Đây là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng
trong giai đoạn hiện nay.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, giải quyết mối quan hệ giữa nội
lực và ngoại lực đang là bài toán hóc búa cho mỗi quốc gia. Quốc gia nào giải
quyết tốt mối quan hệ này thì có thể khai thác được tiềm năng thế mạnh của
mình, đồng thời tranh thủ tối đa được nguồn lực bên ngoài như nguồn vốn,
khoa học, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các nước để phát triển. Ngược
lại, nếu quốc gia đó không có nhận thức và giải quyết đúng mối quan hệ này

2
thì nguồn tài nguyên có nguy cơ bị khai thác cạn kiệt, nội lực bị suy giảm, bản
sắc văn hóa dân tộc bị phai nhạt, nền kinh tế đất nước trở nên khó khăn.
Việt Nam đã có những nhận thức đúng đắn về mối quan hệ này. Điều
đó được thể hiện thông qua chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Đảng ta đã xác định đường lối phát triển kinh tế tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX là: “Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn
lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có
hiệu quả và bền vững” [18; 89].
Tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta đã đưa ra đường lối phát triển đất nước
trong giai đoạn tới, để sớm đưa nước ta ra khỏi khu vực các nước đang phát
triển thu nhập thấp và tới năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại. Đó là một tiến trình phức tạp đòi hỏi những cố gắng to
lớn, trong đó việc phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực có ý nghĩa rất

- Đào Đình Thưởng (2005), Kết hợp giữa nguồn lực nội sinh và ngoại
sinh của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, Luận
văn Thạc sĩ Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà
Nội.
Tác giả nghiên cứu làm rõ một số vấn đề chung về nguồn lực nội sinh
và nguồn lực ngoại sinh của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam hiện nay. Nguồn lực nội sinh bao gồm nguồn lực tự nhiên, nguồn vốn
tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, nguồn lực con người, ổn định chính trị và văn
hóa. Nguồn lực ngoại sinh gồm nguồn lực con người, nguồn vốn nước ngoài
và khoa học công nghệ tiên tiến. Tác giả không phân tích vai trò quyết định
của nguồn lực nội sinh và vai trò quan trọng của nguồn lực ngoại sinh trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, mà chỉ rõ nội dung và đặc

4
điểm của sự kết hợp giữa nguồn lực nội sinh và nguồn lực ngoại sinh; từ đó
đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả hơn các nguồn lực này.
Cũng có nhiều công trình nghiên cứu về nội lực và các yếu tố cấu thành
nội lực:
- Vũ Tuyên Hoàng (2007), Phát huy nội lực trong thời kỳ mới, Tạp chí
Tư tưởng - Văn hóa, số 4 - 2007.
Tác giả đề cập tới vai trò quyết định của việc phát huy nội lực nhằm
đáp ứng một cách toàn diện và sâu sắc sự phát triển kinh tế - xã hội trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo tác giả, nội lực bao gồm
nguồn lực con người, nguồn lực khoa học công nghệ và thể chế chính trị. Phát
huy nội lực trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa quyết định qua lao động sáng
tạo, học hỏi tri thức và kinh nghiệm quốc tế, không ngừng tiến lên phía trước
để xây dựng Tổ quốc giàu đẹp, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Nguyễn Hữu Thắng (2008), Phát huy năng lực nội sinh cho phát triển
bền vững ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, tháng 1 - 2008.
Bài viết khẳng định vai trò quyết định của việc phát huy năng lực nội

- Bùi Sĩ Tiếu (2007), Phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Cộng sản, tháng 4 - 2007.
- Phạm Quang Nghị (1998), Vai trò của văn hóa trong sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội ở nước ta, Tạp chí Cộng sản, tháng 7 - 1998.
Các công trình trên chủ yếu đề cập tới các yếu tố cấu thành nội lực như
nguồn lực con người, nguồn vốn, nguồn lực khoa học công nghệ, nguồn lực
tự nhiên và khẳng định vai trò quyết định của việc phát huy nội lực. Đồng
thời đề ra một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của các nguồn lực
ấy đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nhiều công trình nghiên cứu, làm rõ vai trò của ngoại lực theo những
hướng khác nhau:

6
- Hồ Quang Minh (2006), Nguồn lực đầu tư bên ngoài trong sự nghiệp
đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, tháng 2 -
2006.
Theo tác giả, ngoại lực bao gồm các nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), kiều hối và những nguồn khác như
vay tín dụng ngắn hạn, trung hạn, chứng khoán, trái phiếu Bài viết tập trung
phân tích những nguồn lực bên ngoài mang tính đầu tư vật chất gắn liền với
việc chuyển giao, tiếp thu công nghệ, kỹ thuật và đã có vai trò quan trọng
trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam.
- Vũ Khoan (2005), Đổi mới về đối ngoại, Tạp chí Cộng sản, tháng 8 -
2005.
- Nguyễn Văn Thanh (chủ biên) (2003), Những mảng tối của toàn cầu
hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Đặng Hữu (2004), Những vấn đề mang tính toàn cầu gắn liền với sự
phát triển khoa học, công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hoá và một số giải
pháp mang tính định hướng cho việc giải quyết những vấn đề này ở nước ta

nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về nội
lực, ngoại lực, phát huy quan hệ giữa nội lực và ngoại lực. Luận văn cũng tiếp
thu những kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài trong
những năm gần đây.
+ Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp logic và
lịch sử, phân tích và tổng hợp, và một số phương pháp cụ thể của xã hội học
như thống kê, so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

8
+ Ý nghĩa lý luận: Góp một phần vào việc nghiên cứu quan hệ giữa nội
lực và ngoại lực ở nước ta hiện nay nói chung.
+ Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài
liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề có liên quan đến
luận văn. Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng
trong thực tiễn để khai thác có hiệu quả những tiềm năng thế mạnh của đất
nước và tranh thủ có hiệu quả hơn nữa sự hợp tác quốc tế trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
2 chương, 5 tiết.

NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ GIỮA NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và kết cấu của nội lực
Nội lực trong các mối quan hệ khác nhau được hiểu khác nhau. Ở đây,

63 tỉnh, thành phố theo 8 vùng kinh tế. Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây
giáp Lào và Campuchia, phía Nam và Đông giáp biển Đông với 3260 km
đường bờ biển cùng hàng nghìn đảo lớn nhỏ với các quần đảo lớn như Hoàng
Sa, Trường Sa, Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Lý Sơn, Côn Đảo, Phú Quốc
Vị trí địa lý của Việt Nam là một lợi thế địa - kinh tế, tạo điều kiện để
phát triển đa dạng các ngành nghề từ nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp,
dịch vụ và du lịch. Việt Nam có vùng lãnh hải rộng lớn chứa nguồn tài
nguyên phong phú và đa dạng từ hải sản, dầu mỏ, muối, Đặc biệt, Việt Nam
có bờ biển kéo dài, có nhiều đảo và phong cảnh đẹp có lợi thế phát triển du
lịch như Vịnh Hạ Long, Phú Quốc, Côn Đảo; ngoài ra còn có các cảng biển,
các loại hình vận tải biển, các ngành công nghiệp đóng tàu, khai thác nguồn
lợi từ đại dương như đánh bắt cá, tôm, khai thác dầu, muối,

10
Việt Nam nằm trong khu vực có lợi thế về địa - chính trị chiến lược gần
đường hàng hải quốc tế, giao lưu dễ dàng với các hải cảng lớn và các nước
trên thế giới. Nằm ở vị trí trung tâm vùng Đông Nam Á - khu vực đang có tốc
độ tăng trưởng cao, năng động nhất thế giới, thuận lợi giao lưu, hội nhập và
tiếp thu nguồn lực từ bên ngoài như nguồn vốn, khoa học, công nghệ, kinh
nghiệm quản lý và hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu đi khắp nơi trên thế
giới.
Tuy nhiên, do nước ta có đường bờ biển dài nên trung bình hàng năm
cũng phải hứng chịu nhiều cơn bão, có những cơn bão lớn gây thiệt hại không
nhỏ cho ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và cả con người. Nhưng
nhìn chung, nước ta ở vào vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế trong
nước và tiếp thu văn hoá, quan hệ kinh tế với bên ngoài. Vấn đề còn lại là
chúng ta phải có kế hoạch khai thác hợp lý nguồn lực này, tránh khai thác
lãng phí gây ô nhiễm môi trường làm cản trở sự phát triển đất nước.
- Tài nguyên thiên nhiên:
Tài nguyên thiên nhiên là các yếu tố của tự nhiên có thể tham gia trực

+ Tài nguyên khí hậu:
Khí hậu và thời tiết là những điều kiện thiết yếu cho sản xuất và sinh
hoạt. Nhưng coi khí hậu như một tài nguyên là một vấn đề mới mẻ. Không
phải mọi yếu tố khí hậu đều được sử dụng trực tiếp để sản xuất ra của cải vật
chất. Tương đối rõ có thể kể là bức xạ mặt trời, gió và lượng mưa.
Bức xạ mặt trời là nguồn gốc sản sinh ra vật chất hữu cơ nuôi sống con
người. Vị trí nội chí tuyến của lãnh thổ nước ta đã tạo ra nguồn tài nguyên
bức xạ dồi dào: “Tổng lượng bức xạ (tổng xạ) ở Việt Nam được từ 100 đến
130 kcal/cm
2
/năm” [28; 74]. Bức xạ mặt trời không những cần thiết cho sinh
vật, mà còn cần thiết cho nhiều quá trình tự nhiên khác, và do đó giá trị sử
dụng cũng rất đa dạng, mà hiện nay ta mới ứng dụng được rất ít. Trước mắt

12
nên đẩy mạnh việc sử dụng nhiệt năng của mặt trời vào trong sinh hoạt, tạo ra
nguồn điện, năng lượng rẻ tiền sẵn có và không bao giờ cạn ở mọi lúc, mọi
nơi. Tuy nhiên, bức xạ mặt trời lớn cũng có mặt tiêu cực của nó. Vì quang
hợp cần rất ít bức xạ, mà thực ra đến 90% bức xạ dùng để làm bốc hơi nước.
Do đó, nếu thiếu nước thì mặt trời thiêu đốt tất cả và cảnh tượng hoang mạc
sẽ diễn ra. Vì vậy, việc nghiên cứu bức xạ phải đi đôi với việc nghiên cứu
lượng mưa và trong mối tương quan với lượng mưa.
Ở Việt Nam, lượng mưa khá lớn, trung bình vào khoảng 1500 - 2000
mm. Ở các vùng núi cao chắn gió, lượng mưa còn có thể vượt quá 3000 mm,
thậm chí 4000 mm. Nước mưa là nguồn nước chính của sông ngòi và có thể
được giữ lại để trồng trọt và dùng trong sinh hoạt. Chế độ mưa ở Việt Nam là
mưa theo mùa, cho nên thực ra vẫn có lúc thiếu nước, nhưng lại có lúc quá dư
thừa. Mưa nhiều và mưa tập trung dễ xói mòn đất đai và gây úng lụt. Nhưng
nếu chế ngự được trước hoặc rải đều ra trong năm, thì lượng nước dồi dào là
nguồn tài nguyên quý giá, cần cho cả công nghiệp, nông nghiệp và nhu cầu

các dòng sông trong mùa khô và giữ cho cây cối xanh quanh năm, nếu chúng
ta khai thác tốt lượng nước ngầm còn đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất:
“Về tài nguyên nước ngầm, trữ lượng khoảng 50 - 60 tỷ m
3
và trữ lượng khai
thác khoảng 10 - 12 tỷ m
3
. Hàng năm có thể khai thác trên 1 tỷ m
3
(khoảng 2 -
3 triệu m
3
/ngày)” [38; 6].
+ Tài nguyên đất:
Đất là tài nguyên quý giá nhất mà ta cần bảo vệ và chăm sóc. Trên toàn
quốc: “Có hơn 33 triệu ha đất đai tự nhiên các loại, nhưng do đồi núi chiếm
đến 3/4 diện tích mà đất đai có khả năng nông nghiệp không nhiều lắm, chỉ
đến khoảng 8 triệu ha, trong đó diện tích cấy lúa còn ít nữa, tối đa không quá
5 - 6 triệu ha” [28; 79]. Vì vậy, trong thời gian tới, cần nâng cao chất lượng sử
dụng đất, tận dụng tối đa mọi loại đất phục vụ cho sự phát triển công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
+ Tài nguyên thực vật:
Tài nguyên thực vật bao gồm thực vật hoang dại và thực vật trồng trọt.
Các sản phẩm chính lấy từ cây hoang dại là gỗ, sau đến tre nứa và một số lâm
sản khác, còn khối lượng cơ bản các sản phẩm cần thiết đều nhận được từ cây
trồng. Tuy nhiên, nếu tích cực tìm tòi khai thác thì từ một hệ thực vật phong

14
phú và đa dạng như hệ thực vật Việt Nam, chúng ta hy vọng có thể tìm thêm
nhiều nguyên liệu thực vật có ích nữa.

thành phần phản ánh rõ nét nhất tính chất nội chí tuyến của tự nhiên Việt
Nam, do đó mà cung cấp nhiều đặc sản có giá trị xuất khẩu cao: “Việt Nam có
đến gần 200 loài thú, gần 800 loài chim, gần 100 loài lưỡng cư và trên 150
loài bò sát, 1000 loài cá biển, 200 loài cá nước ngọt. Trong số đó có nhiều
loài đặc hữu và quý hiếm” [28; 89].
Nhìn chung, nguồn lực tự nhiên Việt Nam phong phú và đa dạng về đất
đai, khí hậu, thảm thực vật, động vật, nguồn nước, khoáng sản, là tiền đề để
thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu công nghiệp, dịch vụ theo hướng đa dạng, phù
hợp với điều kiện tự nhiên và sinh thái phát triển cây, con có giá trị cao để
xuất khẩu và phát triển một số ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp nặng
như than đá và dầu khí.
Tuy nhiên, nguồn tài nguyên thiên nhiên nước ta những năm gần đây
do nhiều điều kiện khách quan và chủ quan đã có những biến đổi theo hướng
tiêu cực: Tài nguyên rừng hầu như cạn kiệt, tài nguyên nước và khí hậu có
nguy cơ ô nhiễm, tài nguyên khoáng sản phân bố không đều và có trữ lượng
không lớn trừ than đá và dầu khí nên rất bất lợi cho khai thác. Đất nông
nghiệp có thể được mở rộng nhưng rất khó khăn bởi muốn phát triển công
nghiệp lại phải thu hẹp đất nông nghiệp. Vì vậy, trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, chúng ta phải khai thác một số tài nguyên có điều kiện
thuận lợi, góp phần quan trọng tích lũy trong giai đoạn đầu của quá trình phát
triển. Về cơ bản và lâu dài, chúng ta không thể tạo ra một cơ cấu kinh tế phát
triển nhanh và bền vững chỉ dựa vào nguồn lực tự nhiên, mà phải đi theo
hướng phát huy vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn lực con người, tận dụng
tối đa nguồn vốn và áp dụng thành tựu của khoa học, công nghệ vào sản xuất.
Hai là, văn hóa và nguồn lực con người.

16
Văn hóa và nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng trong sự phát
triển của thời đại ngày nay - thời đại khoa học, công nghệ. Thực tế đã chỉ ra
rằng, quốc gia nào có chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo điều kiện thuận

nghiệp. Chỉ có một tổ chức, một cơ quan, một xí nghiệp, doanh nghiệp có văn
hóa mới đem lại hiệu quả trong hoạt động, quản lý và sản xuất.
Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, vì
thế, không chỉ là mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa. Nói đầy đủ, đó là
xây dựng năng lực, sức mạnh của văn hóa Việt Nam, từ đó xây dựng sức
mạnh của dân tộc, phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, chính trị,
xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy đất nước tiến nhanh cùng các
nước trong khu vực và thế giới. Sự phát triển của dân tộc trong thế giới đương
đại rõ ràng không thể thiếu yếu tố văn hóa. Chúng ta có ưu thế của việc thực
hiện mục tiêu đó, đó là bản sắc dân tộc Việt Nam. Nhận diện về bản sắc dân
tộc Việt Nam, Đảng ta đã chỉ rõ:
“Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn
năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý
chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân
- gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình,
đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử,
tính giản dị trong lối sống” [17; 56].
Yêu nước, thương người là sự cao quý của tư tưởng và tâm hồn Việt
Nam, là giá trị nhân cách của con người Việt Nam, đó là truyền thống dân tộc
trải qua bao biến thiên của lịch sử vẫn tồn tại một cách bền bỉ và tỏa sáng trên
gương mặt tinh thần của cả dân tộc. Cốt cách Việt Nam định hình trong thử
thách khắc nghiệt chống thiên tai và chống giặc ngoại xâm, đoàn kết và cố kết
cộng đồng, nương tựa vào nhau để tồn tại và phát triển, bởi sức mạnh của hợp

18
tác và đồng thuận. Sức mạnh ấy chẳng những được quy định thành văn mà
còn được tổng kết thành triết lý sống, thành phương châm ứng xử, chỉ dẫn
hành động, sự khẳng định các giá trị đạo đức, tình thương yêu nhân ái, vị tha.
Biểu hiện cụ thể trong đời sống hàng ngày, con người Việt Nam và dân tộc

những yếu tố ở trong con người có thể huy động, sử dụng để thúc đẩy sự phát
triển xã hội. Nguồn lực con người không chỉ là lực lượng lao động hay nguồn
lao động mà là tập hợp các yếu tố từ số lượng, chất lượng dân số về thể chất
và tinh thần, sức khoẻ, trí tuệ, năng lực và tổ chức kỷ luật lao động, Từ đó,
có thể định nghĩa:
“Nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh
thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội, tạo nên năng
lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng, phát huy trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong những hoạt
động xã hội” [4; 271-272].
Nghiên cứu về nguồn lực con người, thực chất là đề cập đến mặt số lượng và
chất lượng của nguồn nhân lực.
Số lượng nguồn lực con người của bất kỳ quốc gia nào cũng đều được
hình thành dựa trên quy mô dân số, mà trước hết là từ lực lượng lao động của
quốc gia đó, cụ thể là số lượng người đang trong độ tuổi lao động và có khả
năng tham gia lao động sản xuất. Từ cuộc Tổng điều tra dân số đầu tiên sau
khi nước nhà thống nhất (1975) đến nay, “bức tranh dân số” nước ta đã thay
đổi nhanh chóng. Theo PGS.TS. Nguyễn Đình Cử (Viện Dân số và các vấn đề
xã hội, Đại học Kinh tế quốc dân): Quy mô dân số đã tăng từ 52,742 triệu
năm 1979 lên 85,155 triệu năm 2007; cơ cấu dân số cũng thay đổi mạnh, đặc
biệt là cơ cấu dân số theo nhóm tuổi; tỷ lệ những người trong độ tuổi lao động
tăng từ 51% lên 65%, tương ứng, tỷ lệ những người ngoài độ tuổi lao động
giảm từ 49% xuống còn 35%.

20
Chất lượng nguồn lực con người là sự tổng hợp, kết tinh của nhiều yếu
tố và giá trị cùng tham gia tạo nên, trong đó, gồm ba yếu tố cơ bản là thể lực,
trí lực và tâm lực.
Thể lực là tình trạng sức khỏe của con người, biểu hiện ở sự phát triển
bình thường, có khả năng lao động. Đây là cơ sở quan trọng cho hoạt động

cao hiệu quả hoạt động của tập thể trong lao động sản xuất, hoạt động xã hội.
Tóm lại, nói đến văn hóa là nói đến con người, con người gieo trồng
nên văn hóa, văn hóa biểu hiện qua con người. Không có con người - không
có văn hóa, và không có văn hóa, con người mất tính người. Chăm lo và sử
dụng con người là nội dung cốt yếu của đường lối phát triển văn hóa. Cho
nên, khi nói đến vai trò của văn hóa thường gắn liền với vai trò của con
người. Trong thời đại ngày nay, vai trò của văn hóa và con người được coi
trọng hơn bao giờ hết. Đó là yêu cầu khách quan của thời đại - của xã hội
công nghiệp, của kinh tế tri thức. Ngày nay, văn hóa được coi là một chiều
kích không thể thiếu của công cuộc phát triển đất nước, con người được đặt
vào vị trí trung tâm của sự phát triển.
Ba là, nguồn vốn trong nước.
Vốn là yếu tố sản xuất cơ bản. Với sự cạnh tranh quốc tế ngày càng gay
gắt, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới công nghệ và mở
rộng sản xuất. Máy móc ngày càng hiện đại, do vậy, nguồn vốn cần thiết cho
quá trình sản xuất càng có xu hướng gia tăng. Quốc gia nào có nguồn vốn dồi
dào sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới công nghệ, cho hoạt động sản xuất
kinh doanh, giành thắng lợi trong cạnh tranh. Vì vậy, tích lũy vốn, tranh thủ
mọi nguồn vốn đang là chiến lược của nhiều quốc gia hiện nay.
Nguồn vốn nói chung bao gồm vốn vật chất và vốn tài chính:
“Vốn vật chất là toàn bộ tư liệu vật chất tích lũy được trong nền kinh tế
như nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng và các trang thiết bị được sử

22
dụng như những yếu tố đầu vào của sản xuất. Vốn tài chính là nguồn vốn
tích lũy chủ yếu dưới dạng tiền từ các nguồn tích lũy cơ bản trong nền
kinh tế như tích lũy từ ngân sách nhà nước, tích lũy của doanh nghiệp và
các tầng lớp dân cư” [66; 66].
Nói về vai trò của nguồn vốn, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã
chỉ rõ: “Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo đường lối đổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status