TIỂU LUẬN:
Cơ sở lý luận để tiếp cận chủ nghĩa xã hội
và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở việt nam
hiện nay
Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra năm tiêu chí để xác định bản chất của chủ
nghĩa xã hội. Đó là: giải phóng lực lượng sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất,
thủ tiêu chế độ bóc lột, xoá bỏ sự phân hoá giàu – nghèo để cuối cùng, đạt đến đích
cùng nhau giàu có. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta không thể không thực hiện
năm tiêu chí này trong mối quan hệ hữu cơ của chúng. Đó là kết luận mà tác giả rút
ra khi luận giải mối quan hệ này trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam hiện nay.
Nhân loại đã bước vào những năm cuối của thập kỷ đầu thế kỷ XXI với những thuận
lợi và triển vọng tốt đẹp, nhưng cũng có không ít thách thức và trở ngại cần phải
vượt qua.
Thế giới mà chúng ta đang sống đã có những đổi thay nhanh chóng và đứng trước
hàng loạt vấn đề nan giải mang tính toàn cầu phải giải quyết, như tình trạng đói
nghèo, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, các cuộc xung đột
khu vực,…
Những diễn biến và thay đổi mau lẹ của thế giới đang đòi hỏi các nhà nuớc phải có
cách nhìn nhận mới về vai trò của mình, đưa ra được các chủ trương và giải pháp
giải phóng lực lượng sản xuất và phát triển lực lượng sản xuất là bản chất của chủ
nghĩa xã hội, không nói gì đến ba nội dung sau thì như vậy, xã hội xã hội chủ nghĩa
sẽ không khác gì so với xã hội tư bản chủ nghĩa, sẽ không có một ranh giới rõ ràng
so với quan điểm “hữu khuynh”. Trong định nghĩa bản chất chủ nghĩa xã hội, cần
phải nói đến tiêu chuẩn về lực lượng sản xuất, nhưng cũng cần phải thấy rằng, tiêu
chuẩn về lực lượng sản xuất không phải là tiêu chí căn bản để phân biệt sự khác nhau
giữa chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ tư bản chủ nghĩa. Hơn nữa, do nhiều nguyên
nhân lịch sử và hiện thực, một số nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới đã đạt tới trình
độ phát triển cao về lực lượng sản xuất. Vì vậy, phải gắn liền việc giải phóng lực
lượng sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất với việc xóa bỏ bóc lột, xóa bỏ phân
hóa giàu - nghèo để cuối cùng, tiến tới tất cả cùng giàu có. Chỉ có như vậy, mới thể
hiện được bản chất của chủ nghĩa xã hội.
Với ý nghĩa đó, nếu chúng ta chỉ nói tới ba nội dung sau mà không nói giải phóng
lực lượng sản xuất và phát triển lực lượng sản xuất thì về hình thức, dẫu đã có sự
phân biệt về ranh giới giữa chế độ xã hội chủ nghĩa với mọi chế độ bóc lột, trong đó
có cả chủ nghĩa tư bản, nhưng lại không thể phân biệt được với quan điểm sai lầm
“tả khuynh” trước đây chỉ đơn thuần xuấtphát từ quan hệ sản xuất để xác định tính
chất của chủ nghĩa xã hội, tách rời với thực trạng của lực lượng sản xuất, vượt qua các
giai đoạn phát triển tất yếu của chủ nghĩa xã hội. Kết quả cuối cùng vẫn không đạt tới
mục tiêu tất cả cùng giàu có, mà chỉ có thể tạo ra một cuộc sống theo chủ nghĩa bình
quân và tất cả cùng nghèo. Rõ ràng, điều đó là trái với bản chất của chủ nghĩa xã hội.
Năm nội dung cấu thành bản chất chủ nghĩa xã hội, nếu đi sâu phân tích, có thể thấy,
giải phóng lực lượng sản xuất là cốt để phát triển sản xuất, phát triển sản xuất là cốt
để xóa bỏ bóc lột, xóa bỏ phân hóa giàu - nghèo, cũng có nghĩa là muốn xóa bỏ bóc
lột, xóa bỏ phân hóa giàu - nghèo phải có điều kiện căn bản là sự phát triển cao của
lực lượng sản xuất. Như vậy, chủ nghĩa xã hội muốn đạt được mục tiêu cuối cùng là
tất cả mọi người dân đều giàu có thì xét đến cùng, phải phát triển lực lượng sản
xuất, không thể đơn thuần dựa vào việc thay đổi quan hệ sản xuất. Hai nội dung này
không thể tách rời nhau, bởi đó là nguyên tắc thể hiện bản chất chủ nghĩa xã hội.
đủ tiêu chuẩn” chủ yếu nhất lúc này là ở chỗ lực lượng sản xuất chưa phát triển. Vì
vậy, giải phóng lực lượng sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất tuy là nhiệm vụ căn
bản, xuyên suốt toàn bộ quá trình phát triển của chủ nghĩa xã hội, nhưng đối với
nước ta hiện nay, nhiệm vụ căn bản đó lại càng quan trọng, càng bức xúc. Không chỉ
thế, chúng ta còn phải xóa bỏ bóc lột, xóa bỏ phân hóa giàu - nghèo để cuối cùng, đạt
tới tất cả giàu có. Việc thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội này cũng đòi hỏi chúng ta
phải phát triển lực lương sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất, đến lượt nó,
lại có quy luật riêng và cũng tiến triển một cách tuần tự, đòi hỏi phải có đường lối và
chính sách đúng đắn, có chiến lược phát triển hợp lý và sự phấn đấu gian khổ, không
mệt mỏi của nhân dân cả nước; tóm lại, phải trải qua một quá trình lâu dài. Có thể
nói, đặt vấn đề giải phóng lực lượng sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất ở vị trí
hàng đầu, vị trí cơ sở, nổi bật trong định nghĩa bản chất chủ nghĩa xã hội là chính xác
và sâu sắc.
Trong quá trình phát triển chủ nghĩa xã hội, chúng ta cần phải xóa bỏ bóc lột, xóa bỏ
sự phân hóa giàu - nghèo. Đó cũng là một trong những mục tiêu của việc phát triển
lực lượng sản xuất và là sự thể hiện quan trọng bản chất của chủ nghĩa xã hội. Tuy
nhiên, nước ta đang ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội, chế độ bóc lột và giai cấp
bóc lột đã bị xóa bỏ một cách căn bản, và trên tổng thể, trong xã hội ta không còn sự
phân hóa giàu - nghèo thành hai cực đối lập nhau, nhưng không thể phủ nhận hiện
tượng bóc lột vẫn còn tồn tại trong một số lĩnh vực, sự chênh lệch giàu - nghèo bất
hợp lý cũng vẫn còn tồn tại trong xã hội. Ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội, trong
điều kiện lực lượng sản xuất hiện nay, Đảng ta chủ trương xây dựng một chế độ sở
hữu mà trong đó, công hữu là chủ đạo; đồng thời thực hiện chế độ phân phối mà
trong đó, phân phối theo lao động là chủ đạo, cho phép các thành phần kinh tế khác
nhau cùng tồn tại, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển lực lượng sản xuất,
coi đó là sự bổ sung cần thiết cho kinh tế xã hội chủ nghĩa. Chỉ đến khi nào các thành
phần kinh tế khác gây tác động hạn chế sự phát triển lực lượng sản xuất thì khi đó,
chúng mới mất đi lý do và giá trị tồn tại. Vì vậy, chỉ có không ngừng phát triển lực
lượng sản xuất mới có thể từng bước xóa bỏ hiện tượng bóc lột và sự phân hóa giàu -
Trong bài viết này, tác giả đã phân tích một tư tưởng khoa học và đầy tính nhân văn
của Hồ Chí Minh - tư tưởng về dân sinh. Trong quan niệm của Người, chủ nghĩa xã
hội gắn chặt với vấn đề dân sinh, luôn coi trọng và thực hiện ngày càng tốt hơn vấn
đề dân sinh. Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng nêu rõ phương thức, biện pháp để giải
quyết một cách hiệu quả vấn đề dân sinh. Đó là thực hành tiết kiệm, phát triển sản
xuất, gắn phát triển kinh tế với chăm lo cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân. Những luận điểm sâu sắc của Người về dân sinh là sự thể hiện
tập trung và thiết thực tư tưởng “lấy dân làm gốc”.
Những cá nhân kiệt xuất được người đời tôn vinh như những vĩ nhân chính là bởi ở
bước thực hiện mục tiêu đã định của chủ nghĩa xã hội. Như vậy, vừa có thể phân biệt
ranh giới với tất cả những tư tưởng từng vin vào những thất bại của chủ nghĩa xã hội
để phủ nhận nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, phủ nhận chế độ xã
hội chủ nghĩa, lại vừa phân biệt ranh giới với tất cả những tư tưởng chỉ khư khư giữ
lấy những mô hình cụ thể không còn phù hợp với tình hình thực tế trong nước, với
đặc điểm thời đại, coi thường những yêu cầu của bản thân chủ nghĩa xã hội.
Có thể nói, những cơ sở lý luận nêu trên không chỉ đúng với Việt Nam, với giai đoạn
đầu của chủ nghĩa xã hội, mà còn đúng với tất cả các nước đang trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là với những nước lạc hậu khi bước vào con đường xây
dựng chủ nghĩa xã hội.r
(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.70.
họ luôn có những khát vọng cao cả và cống hiến hết mình vì hạnh phúc của con
người, của nhân loại. C.Mác từng coi đấu tranh cho con người là niềm hạnh phúc lớn
nhất của ông. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách
mạng của mình, Người "chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao
cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng
có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành (chúng tôi nhấn mạnh - N.Đ.H)"(1). Luận
mạng mới đã lần đầu tiên nổ ra và thành công ở một nước thuộc địa - Cách mạng
tháng Tám năm 1945. Nếu Cách mạng tháng Mười Nga lần đầu tiên chọc thủng hệ
thống tư bản chủ nghĩa ở khâu yếu nhất của nó, tạo nên một sự kiện chính trị làm rung
chuyển thế giới, thì Cách mạng tháng Tám đi tiên phong trong phong trào đấu tranh
giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã mở
ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội.
Như chúng ta đã biết, giải phóng con người, chăm lo cho con người có cuộc sống
ngày càng đầy đủ hơn, hạnh phúc hơn luôn là sự trăn trở, đồng thời là mong muốn
lớn nhất của Hồ Chí Minh. Song, với nhãn quan cách mạng và khoa học, Người hiểu
rằng, muốn giải phóng con người, giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội thì trước
hết dân tộc phải giành được độc lập. Nhưng, độc lập sẽ không có ý nghĩa nếu những
nhu cầu của các cá nhân, gia đình và cộng đồng không được đáp ứng. Người khẳng
định rằng, độc lập dân tộc phải gắn với tự do, dân chủ, ấm no, hạnh phúc của nhân
dân; "nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng
chẳng có ý nghĩa gì". Rằng, nếu "chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ
chết đói chết rét, thì tự do độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự
do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ"(2).
Vì vậy, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, với cương vị người đứng đầu Nhà
nước dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu Đảng và Chính phủ phải
cố gắng giải quyết thật tốt vấn đề dân sinh, trong đó tập trung thực hiện ngay những
nhiệm vụ then chốt, đó là:
1. Làm cho dân có ăn.
2. Làm cho dân có mặc.
3. Làm cho dân có chỗ ở.
4. Làm cho dân có học hành.
Trên thực tế, ngay sau khi được thành lập, chính quyền cách mạng non trẻ đã phải
đối diện với một loạt khó khăn to lớn, với "thù trong giặc ngoài", trong đó nạn đói
được coi là một thứ giặc nội xâm nguy hiểm đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu con
rằng, chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của
nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ
có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm, Đảng và Chính phủ có
lỗi. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người luôn được trân trọng, coi là thứ của cải,
là vốn quý giá nhất của xã hội. Thực tế cho thấy, song song với nhiệm vụ tập trung
mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế, mở rộng sản xuất, Người đã đặc biệt quan
tâm đến việc đáp ứng, thoả mãn những nhu cầu bức thiết của nhân dân, coi đó là một
trong những công tác chủ đạo, căn bản và cần kíp của nhà nước dân chủ nhân
dân. Dân dĩ thực vi thiên, nghĩa là dân lấy ăn làm trời. Vì vậy, làm thế nào cho dân
có ăn, có mặc, được sung sướng và hạnh phúc luôn là nỗi trăn trở lớn nhất của Hồ
Chí Minh, đồng thời là nhiệm vụ cốt lõi của cách mạng Việt Nam.
Việt Nam là một nước nông nghiệp và đại bộ phận dân cư là nông dân. Trước Cách
mạng tháng Tám, người dân Việt Nam phải oằn lưng sống trong tình cảnh “một cổ
hai tròng” - sự áp bức, bóc lột nặng nề của thực dân và phong kiến. Họ hoàn toàn
không có tư liệu sản xuất, không có một "tấc đất cắm dùi". Chủ nghĩa Mác - Lênin
đã từng chỉ ra rằng, chính vì không có hoặc bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất mà
người lao động phải bán sức lao động của mình, trở thành kẻ làm thuê để mưu sinh,
phải chịu sự bóc lột về kinh tế, áp bức về tinh thần và đè nén về thể xác của giai cấp
thống trị. Vì vậy, biện pháp quan trọng hàng đầu và mang tính nền tảng để giải
quyết vấn đề dân sinh ở Việt Nam chính là mang lại ruộng đất cho nông dân. Như
chúng ta đã biết, bên cạnh độc lập dân tộc, một trong những thành quả to lớn và có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng khác mà cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đem lại
cho người dân là người cày có ruộng. Thông qua cải cách ruộng đất, những người
nông dân Việt Nam vốn bao đời nghèo đói nay được cách mạng trao cho quyền làm
chủ ruộng đất - tư liệu sản xuất căn bản và quan trọng nhất để mưu sinh, để có cơm
ăn áo mặc và sống một đời hạnh phúc.
Về kế sách lâu dài, Hồ Chí Minh chủ trương phải thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí, tích cực tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế. Như chúng ta đã biết, trên nền tảng
hoà bình và độc lập, cần phải thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển. Đó là nhiệm
vụ kinh tế quan trọng của miền Bắc nước ta khi bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ
nào đó, theo chúng tôi, tư tưởng phát triển bền vững đã ít nhiều xuất hiện ở Hồ Chí
Minh từ những năm 50 - 60 của thế kỷ XX. Thật vậy, sự kết hợp mục tiêu phát triển
kinh tế với chăm lo đời sống cho con người luôn được Hồ Chí Minh đặc biệt coi
trọng. Khi bước vào công cuộc công nghiệp hoá và xây dựng chủ nghĩa xã hội,
Người chỉ đạo: "Ta phải tính cách nào, nếu cần có thể giảm bớt một phần xây dựng
để giải quyết vấn đề ăn và mặc của quần chúng được tốt hơn nữa, đừng để cho tình
hình đời sống căng thẳng quá. Nhà máy cũng cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn cả
là con người, là sự phấn khởi của quần chúng. Làm tất cả cho con người. Làm cho
quần chúng hiểu đúng chủ nghĩa xã hội hơn"(7). Xem xét luận điểm đó của Hồ Chí
Minh từ quan điểm phát triển hiện đại - phát triển xã hội một cách bền vững và hài
hòa, chúng ta thấy rõ, Người không chủ trương phát triển kinh tế bằng mọi giá, dù
kinh tế là nền tảng để giải quyết các vấn đề khác của đời sống xã hội. Trái lại, khi
xác định "dân là gốc nước" và đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển xã
hội, Hồ Chí Minh quan niệm phải xử lý thật tốt mối quan hệ giữa chính sách phát
triển kinh tế với chính sách phát triển xã hội, trong đó điều cốt lõi nhất là cùng với sự
phát triển kinh tế, cần phải chăm lo một cách thoả đáng và thường xuyên các nhu cầu
thiết yếu và cơ bản, bảo đảm cho người dân các lợi ích vật chất và tinh thần phù hợp
với điều kiện kinh tế của đất nước. Thêm nữa, khi hướng vào giải quyết vấn đề dân
sinh, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy ở con người tư cách động lực phát triển của xã hội.
Theo đó, chăm lo cho con người cũng chính là thực hiện kế sâu bền gốc, tạo nền tảng
cho sự phát triển vững chắc của xã hội.
Không chỉ có vậy, Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra mối quan hệ chặt chẽ, hài hòa giữa
xã hội và tự nhiên; hiểu rõ ý nghĩa và vai trò quan trọng không thể thay thế của môi
trường sinh thái đối với sản xuất, đối với sự tồn tại và phát triển của con người.
Chẳng hạn, Người chỉ ra rằng, nếu tài nguyên rừng bị cạn kiệt do hoạt động khai thác
mang tính tước đoạt, bóc lột tự nhiên của con người sẽ dẫn đến những tác hại không
thể lường hết: không còn gỗ để xây dựng nhà ở, mất nguồn nước, đất đai bị xói mòn,
rửa trôi trở nên bạc màu không thuận lợi cho sản xuất: "Phá rừng thì dễ, nhưng gây
lại rừng thì phải mất hàng chục năm. Phá rừng nhiều như vậy sẽ ảnh hưởng đến khí
nguy cơ ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt tài nguyên đang trực
tiếp đe doạ cuộc sống của con người hiện tại và các thế hệ tương lai.
Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia cùng bà con nông dân tát nước chống hạn
cứu lúa không chỉ thể hiện tác phong gần dân, bám sát thực tiễn đời sống và sản xuất,
mà còn biểu hiện mối quan tâm sâu sắc và thường trực của Người đối với cuộc sống
của nhân dân. Bởi, triết lý của Hồ Chí Minh là triết lý hành động, nói đi đôi với làm,
lý luận gắn với thực tiễn. Mặc dù bận nhiều công việc quan trọng của Đảng và Chính
phủ, song mỗi khi có dịp đến thăm các địa phương, các đơn vị bộ đội, các nhà máy,
công trường,… bao giờ Người cũng dành thời gian hỏi han tình hình đời sống, kiểm
tra nơi ăn chốn ở của đồng bào, của chiến sĩ và công nhân, nhắc nhở cán bộ lãnh đạo
phải thường xuyên quan tâm chăm sóc đời sống của con người, nhắc nhở mọi người
phải giữ gìn vệ sinh trong sinh hoạt, bảo đảm an toàn trong lao động sản xuất…
Với tư duy biện chứng, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, lợi ích vật chất dù rất quan
trọng, song không phải là duy nhất; ngoài đời sống vật chất, con người còn có đời
sống tinh thần và những nhu cầu tinh thần đa dạng. Vì vậy, chăm lo cho con người
không chỉ là chú ý giải quyết những vấn đề ăn, mặc, ở, mà còn phải chăm lo đến đời
sống tinh thần của họ. Nếu con người chỉ ăn no, mặc ấm mà không có đời sống tinh
thần phong phú, lành mạnh thì cũng không thể phát triển toàn diện. Vì thế, Người
căn dặn Đảng và Nhà nước cần phải thường xuyên quan tâm đến vấn đề dân sinh, phải
có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá nhằm không ngừng nâng cao đời sống
của nhân dân. Bởi lẽ, mục đích của chủ nghĩa xã hội không có gì khác hơn là không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao
động.
Chú trọng giải quyết vấn đề dân sinh, hay nói cách khác là quan tâm đến mặt xã hội
trong tiến trình phát triển là một sự sáng tạo, thể hiện sự nhạy cảm chính trị của Hồ
Chí Minh. Trong điều kiện trình độ dân trí còn thấp, cuộc sống còn vô vàn khó khăn
và thiếu thốn, hơn mọi sự tuyên truyền hay thuyết phục một cách thuần tuý, người
dân chỉ có thể cảm nhận những giá trị tốt đẹp, ưu việt của xã hội mới và đặt trọn
niềm tin của mình vào chủ nghĩa xã hội như một tương lai sán lạn qua những biểu
(*) Tiến sĩ, Trưởng phòng Biên tập - Trị sự, Tạp chí Triết học, Viện Triết học, Viện
Khoa học xã hội Việt Nam.
(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.4. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.161
(2) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.56, 152.
(3) Hồ Chí Minh. Sđd., t.8, tr.395.
(4) Hồ Chí Minh. Sđd., t.10, tr.17, 97, 271, 317, 587
(5) Hồ Chí Minh. Sđd., t8, tr 226.
(6) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 5, tr. 65
(7) Hồ Chí Minh. Biên niên tiểu sử, t.8. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996,
tr.272.
(8) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 11, tr.134.
(9) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 11, tr.357.
(10) Xem: Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2007. Nguồn:
TƯ TƯỞNG DÂN SINH VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN Đ
Ể THỰC HIỆN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
LƯƠNG ĐÌNH HẢI(*)
Trong bài viết này, tác giả đã luận giải để làm rõ rằng mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh của Việt Nam hiện nay đã tập trung
nhấn mạnh khía cạnh dân sinh hạnh phúc, thể hiện nội dung dân sinh phong phú và
đa dạng. Để hiện thực hoá những nội dung của tư tưởng dân sinh hạnh phúc, theo
tác giả, ngoài những biện pháp cần thiết khác, cần tập trung vào hai giải pháp cơ
bản, đó là: thứ nhất, nhanh chóng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường để phát triển
nhanh và hiệu quả hơn kinh tế thị trường ở nước ta. Thứ hai, đẩy nhanh công nghiệp
khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, bên cạnh vấn đề bảo vệ nền độc lập
dân tộc, vấn đề dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc đã được Người đặt ra trong
những công việc cụ thể hàng ngày. Sự linh hoạt trong việc giải quyết đồng thời cả ba
mục tiêu dân tộc, dân sinh, dân quyền trong các công việc cụ thể hàng ngày, trong
từng chủ trương chính sách, biện pháp thực hiện là một đòi hỏi tất yếu, đặc biệt là đối
với Việt Nam - một dân tộc vừa giành được độc lập dân tộc, chính quyền còn non trẻ.
Sự thành bại trong việc thực hiện mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc phụ thuộc vào
nhiều yếu tố. Từ thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam, từ cuộc đời hoạt động của Hồ
Chí Minh, có thể rút ra rằng, trong số các yếu tố đó thì việc lựa chọn đúng và thực
hiện tốt các giải pháp cụ thể để giải quyết tốt những vấn đề cụ thể ở từng thời điểm của
quá trình cách mạng đóng vai trò hết sức to lớn. Việc xác định đúng những vấn đề cấp
bách, cụ thể để từ đó tìm ra được các giải pháp thích hợp để triển khai thực hiện trong
thực tiễn vừa đòi hỏi ý chí và quyết tâm cách mạng, vừa đòi hỏi có tầm nhìn sâu rộng
thông suốt cả ở tầm chiến lược lẫn chiến thuật, cả vĩ mô lẫn vi mô.
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang phấn đấu thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xét về thực chất, trong nội dung,
mục tiêu này là sự tiếp tục mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc trong bối cảnh độc lập
dân tộc đã được thực hiện về căn bản (Độc lập dân tộc bao hàm nội dung rất rộng và
phong phú: dân tộc bình đẳng hoàn toàn, độc lập, tự chủ hoàn toàn triệt để, có đầy đủ
chủ quyền về mọi mặt, như chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh,…, độc lập trong hòa
bình, thịnh vượng, tự do, hạnh phúc và phát triển phồn vinh…). Tuy nhiên, sự kế tục
đó vừa là sự kế tiếp, kế thừa, vừa là sự phát triển, sự đòi hỏi ở mức độ cao hơn. Mục
tiêu này, có thể nói, tập trung và nhấn mạnh nhiều hơn vào khía cạnh dân sinh hạnh
phúc (dĩ nhiên trong nó có cả nội dung dân quyền tự do và dân tộc độc lập) nhưng
bao hàm và thể hiện nội dung dân sinh phong phú, đa dạng, nổi bật và rõ ràng hơn.
Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh bao chứa trong
nó cả hai khía cạnh, hai góc độ, hay hai lĩnh vực là cá nhân và xã hội trong sự thống
nhất gắn bó với nhau. Cá nhân và cộng đồng không thể tách rời nhau trong tiến trình
phát triển, trong việc thực hiện dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh
hợp với phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Chính vì vậy, hạnh phúc
phải là một mục tiêu, một tiêu chí để đánh giá sự phát triển của xã hội hiện đại.
Trong bối cảnh đất nước hiện nay, việc thực hiện mục tiêu dân sinh hạnh phúc với
nội hàm bao quát rộng như trên cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau.
Hiện nay, “nước ta vẫn đang trong tình trạng kém phát triển. Kinh tế còn lạc hậu so
với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, xây
dựng hệ thống chính trị, còn nhiều yếu kém”(2), cho nên việc thực hiện dân giàu…
đương nhiên còn rất hạn chế. Nhanh chóng phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ
thuật, tranh thủ cơ hội vượt qua thách thức là nhiệm vụ trọng tâm cần được thực hiện
nhất quán, kiên quyết và ưu tiên hàng đầu. Muốn vậy, cần phải:
1) Nhanh chóng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường để phát triển nhanh và có hiệu
quả hơn kinh tế thị trường ở nước ta. Thực tiễn nhiều năm qua và kinh nghiệm của
các nước trên thế giới cho thấy, chỉ có thể phát triển kinh tế - xã hội nhanh, năng
động và sớm đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh bằng cách phát triển kinh tế thị
trường. Việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong hơn hai thập kỷ vừa qua đã làm
cho nền kinh tế và đời sống xã hội nói chung trở nên năng động và có tốc độ phát
triển cao hơn hẳn so với các thời kỳ trước đây, bộ mặt xã hội thay đổi nhanh chóng.
Nhiệm vụ đặt ra hiện nay là phải phát triển đồng bộ các loại thị trường và tạo những
điều kiện vĩ mô thuận lợi cho sự hoạt động của cơ chế thị trường, khắc phục và thủ
tiêu cơ chế “xin cho” trong những lĩnh vực mà cơ chế thị trường hoạt động có hiệu
quả hơn để giải phóng triệt để các nguồn lực cho phát triển. Mặt khác, trong những
lĩnh vực mà cơ chế thị trường đã hình thành và phát triển, thực tiễn cho thấy cần phải
quản lý có hiệu quả hơn sự vận hành của các lĩnh vực đó, tránh để những sơ hở trong
quản lý và mặt trái của kinh tế thị trường gây hậu quả tiêu cực cho đời sống kinh tế -
xã hội đất nước.
Dĩ nhiên, để quản lý nền kinh tế thị trường có hiệu quả và khắc phục những mặt trái
của nó lại phải nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước.Trước hết, Nhà
nước phải đảm bảo bằng được tính bền vững tích cực của các cân đối kinh tế vĩ mô,
lý dịch vụ công cộng như một loại hình kinh doanh dịch vụ nhằm giảm thiểu sự can
thiệp hành chính của nhà nước. Mặt khác, để tạo lập và phát triển các quan hệ thị
trường trong các lĩnh vực dịch vụ công cộng nói trên, cần chấm dứt cơ chế “xin cho”
trong các lĩnh vực này. Chúng ta sẽ không thể tạo lập và cũng không thể phát triển
thị trường khoa học công nghệ nếu cơ chế “xin cho” vẫn còn tồn tại dai dẳng, vẫn
chưa dứt khoát chuyển khoa học công nghệ ra khỏi khu vực hành chính sự nghiệp và
đưa vào khu vực dịch vụ công.
Một nội dung khác của giải pháp hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở nước ta hiện
nay là phải đổi mới chính sách tài chính, tiền tệ và hệ thống ngân hàng. Cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 - 1998 ở khu vực Đông Nam Á và cuộc khủng
hoảng tài chính ngân hàng hiện nay trên thế giới càng cho chúng ta thấy tính cấp
bách của việc đổi mới chính sách tài chính, tiền tệ và hệ thống ngân hàng. Hiện nay,
có hàng loạt yếu tố và hiện tượng cho thấy hệ thống tài chính, ngân hàng của nước ta
đang bị nhiều rủi ro đe dọa. Sự tụt dốc của thị trường chứng khoán, chỉ số lạm phát
gần 30% trong nhiều tháng qua, lãi suất ngân hàng cao hơn mức chịu đựng của các
doanh nghiệp, những thủ tục hành chính phức tạp và nhiêu khê trong lĩnh vực này
cũng như sự xuất hiện quá ồ ạt, thiếu quy hoạch của nhiều ngân hàng mới trong thời
gian qua, tình trạng nợ xấu khá trầm trọng, v.v. đang chứng tỏ hệ thống ngân hàng
của chúng ta trở nên đuối sức trong cuộc cạnh tranh ngay tại sân nhà và trước những
thách đố của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Tình trạng ấy làm cho sức mạnh của
nền kinh tế quốc gia bị giảm sút nghiêm trọng. Cần khẩn trương đổi mới chính sách
tài chính, tiền tệ và hệ thống ngân hàng để tạo môi trường vĩ mô thuận lợi cho sự
phát triển của kinh tế thị trường, cho việc tạo lập và phát triển các lĩnh vực thị trường
đồng bộ và tuân thủ các quy luật thị trường.
Thêm nữa, để phát triển kinh tế thị trường không thể chỉ thúc đẩy mở rộng và thực
thi các quan hệ thị trường trong tất cả các lĩnh vực, các vùng miền là đủ. Trong điều
kiện nước ta hiện nay và thực tiễn phát triển những năm qua cho thấy, việc định
hướng và quy hoạch phát triển kinh tế thị trường của chúng ta vẫn rất yếu. Để phát
triển kinh tế nói chung, kinh tế thị trường nói riêng, việc định hướng sự phát triển
Đáng tiếc là cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một chiến lược phát triển doanh
nghiệp đúng tầm, đáp ứng được đòi hỏi của sự phát triển trong bối cảnh hội nhập
quốc tế. Bởi vậy, việc đổi mới hệ thống doanh nghiệp vẫn lúng túng, dường như
chưa tìm ra lối thoát, hướng đổi mới doanh nghiệp chưa được xác định rõ ràng, quá
trình diễn ra chậm chạp và kém hiệu quả, hệ thống doanh nghiệp tư nhân đang phát
triển theo xu hướng tự phát, không có quy hoạch giống như nấm mọc sau mưa, khi
nắng lên lại lụi dần hàng loạt. Kinh tế tư bản nhà nước phát triển ì ạch, còn kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài đang chiếm thế thượng phong với những ưu đãi và cả những e
dè, sợ sệt, sùng bái của các cấp, các ngành. Nếu không có chiến lược quốc gia về
phát triển doanh nghiệp phù hợp, có thể sau mười năm, hai mươi năm nữa, các doanh
nghiệp tư nhân sẽ là những vệ tinh nhỏ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài và khi đó, dù muốn hay không, thì động lực chính của nền kinh tế quốc gia là
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Động lực ấy có thể quyết định đẩy nền
kinh tế đi theo hướng nào và với tốc độ phát triển ra sao.
Vấn đề quan trọng hiện nay là phải nhanh chóng, quyết liệt, mạnh mẽ và dứt khoát
xóa bỏ mọi rào cản, mọi sự phân biệt đối xử, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh
doanh thuận lợi, bình đẳng thực sự cho các loại hình doanh nghiệp tư nhân phát triển
trong mọi lĩnh vực, ngành nghề mà pháp luật không cấm. Sắp xếp, quy hoạch và định
hướng các doanh nghiệp tư nhân phát triển theo chiến lược quốc gia để kinh tế tư nhân
mạnh dần lên và đủ sức thay thế các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều đó sẽ
đảm bảo cho nền độc lập tự chủ, tự do của dân tộc, mới có thể đảm bảo dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hạnh phúc lâu bền.
2) Giải pháp thứ hai là phải đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng
phát triển kinh tế tri thức. Vấn đề đặt ra ở đây là phải đẩy nhanh chứ không chỉ là
đẩy mạnh. Đẩy mạnh chưa hẳn đã phát triển nhanh còn phát triển nhanh có thể cần
đẩy mạnh lúc này mà không cần đẩy mạnh lúc khác, có thể chỗ này cần đẩy mạnh
chỗ kia lại chỉ cần đẩy nhẹ mà vẫn phát triển nhanh. Yêu cầu đặt ra là làm sao để
phát triển nhanh nhưng bền vững, do đó cần chủ trương đẩy nhanh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa theo hướng phát triển kinh tế tri thức. Đây cũng chính là cách để chúng