TIỂU LUẬN: VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ NIỀM TIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ
NIỀM TIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trên cơ sở phân tích hiện trạng niềm tin tôn giáo và niềm tin khoa học trong xã hội
Việt Nam hiện nay, tác giả đã luận chứng cho một số giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục
xây dựng và củng cố niềm tin khoa học cho nhân dân. Cụ thể là: 1/ Nâng cao mặt
bằng dân trí tạo cơ sở cho nhân dân xác định, lựa chọn và phấn đấu theo những
niềm tin đúng đắn, khoa học; 2/ Xây dựng những cơ sở thực tiễn nhằm củng cố niềm
tin đúng đắn, khoa học và 3/ Xây dựng thế giới quan khoa học cho nhân dân thông
qua việc đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh.

Niềm tin là một lĩnh vực đặc biệt của ý thức, liên hệ mật thiết với sự hiểu biết về thế
giới khách quan, tồn tại trong từng con người và xã hội nhằm phản ánh thế giới
khách quan. Niềm tin được hiểu là sự thừa nhận một tính chân lý. Do vậy, niềm tin
có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của mỗi con người nói riêng, sự phát triển xã

cầu tâm linh. Vì thế, không ít người đặt niềm tin vào nhiều vị thánh, thần; vái tứ
phương với quan niệm “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”; sẵn sàng chấp nhận cả
thần, thánh, tiên, phật, thượng đế, ma quỷ, thổ công, hà bá…; lễ bái ở đình, chùa,
miếu… nhưng vẫn chăm thờ cúng tổ tiên. Như vậy, có thể nói rằng, ngoài những mặt
hạn chế, niềm tin tôn giáo còn đáp ứng nhu cầu tâm lý, đời sống tâm linh của một bộ
phận dân cư có tín ngưỡng; đồng thời, nó cũng góp phần lưu giữ và thể hiện một số
giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc.
Trong điều kiện như vậy, việc thực hiện nhất quán chính sách của Đảng về tôn trọng
và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đoàn kết toàn
dân trong công cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và xây dựng xã hội mới. Nhờ
những thành tựu đạt được trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đời
sống của đồng bào các tôn giáo được cải thiện về mọi mặt và do vậy, ngoài niềm tin
tôn giáo vốn có, niềm tin của họ vào Đảng và Nhà nước cũng ngày càng được nâng
lên. Đồng bào ngày càng thấy rõ lợi ích của bản thân và lợi ích của tôn giáo gắn bó
mật thiết với lợi ích của đất nước.

Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, hiện nay, tình trạng gieo rắc mê tín dị đoan và các
niềm tin tôn giáo không lành mạnh, thậm chí lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để kích
động, thực hiện “diễn biến hoà bình” và tuyên truyền chống phá cách mạng vẫn đang
ngấm ngầm diễn ra. Đây là một nguy cơ đối với sự ổn định và phát triển của xã hội
cần sớm được ngăn chặn một cách tích cực và có hiệu quả. Về vấn đề tôn giáo nói
chung và niềm tin tôn giáo nói riêng, quan điểm chỉ đạo của Đảng ta là tiếp tục "thực
hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc
không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp
luật Đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn
giáo để hoạt động trái pháp luật, kích động, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn
giáo, làm phương hại đến lợi ích chung của đấtnước"
(1)
.
Cùng với sự phát triển của lịch sử, khả năng nhận thức và hoạt động thực tiễn của

bằng hành động cách mạng trên cơ sở nhận thức các quy luật khách quan; Thế giới
quan duy vật biện chứng mà học thuyết Mác - Lênin mang lại là ánh sáng khoa học
chỉ đường, soi lối cho nhân dân Việt Nam trong quá trình nhận thức và hoạt động
thực tiễn. Nó ươm mầm cho sự nảy nở, bén rễ và phát triển của một niềm tin mới -
niềm tin khoa học.
Niềm tin khoa học dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng ấy đã ngày càng được
củng cố, phát triển cùng với tiến trình vận động, phát triển của đất nước kể từ khi
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời; trở thành động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động
của nhân dân. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã thắp sáng nên trong quần chúng nhân dân
niềm tin vào tương lai. Với niềm tin vào sức mạnh của con người mà lý luận khoa
học ấy mang lại, nhân dân Việt Nam đã tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh giành độc
lập, tự do cho dân tộc. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân
dân ta luôn giữ vững một niềm tin sắt đá: “Kháng chiến nhất định thắng lợi”. Niềm
tin ấy là một niềm tin khoa học, nó dựa vào truyền thống lịch sử kiên cường của dân
tộc, vào sức mạnh của quần chúng nhân dân, vào năng lực nắm bắt và vận dụng sáng
tạo các quy luật đấu tranh cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam cũng như dự
báo đúng đắn về xu thế phát triển của thời đại. Thực tiễn của các cuộc kháng chiến
cùng với sự giáo dục, tuyên truyền của Đảng ta đã thâm nhập vào đời sống tinh thần
của quần chúng nhân dân, thổi bùng nên niềm tin của họ vào ngày toàn thắng. Nó
góp phần làm cho định hướng giá trị của từng cá nhân và của xã hội hoà quyện vào

nhau, tạo nên sức mạnh của dân tộc và xung lực cho hành động anh hùng, dũng cảm
của nhân dân để đưa sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và thống nhất Tổ quốc đến thắng lợi
hoàn toàn.
Có thể nói, trải qua thực tiễn, niềm tin của nhân dân ta vào chủ nghĩa xã hội và sự
lãnh đạo của Đảng ngày càng được củng cố và phát triển. Sau “cơn bão chính trị”
xảy ra vào những năm 90 của thế kỷ XX, khi mà chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên
Xô và các nước Đông Âu lâm vào khủng hoảng và sụp đổ, không ít người rơi vào
tình trạng hoang mang, dao động. Trong bối cảnh đó, với niềm tin mãnh liệt vào tính

nói ở đây là năng lực, kỹ năng và thói quen suy nghĩ, hành động một cách khoa học
để bắt nhịp với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.
Muốn vậy, phải đổi mới giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh sự phát triển của khoa học và
công nghệ. Cụ thể là, trong những năm tới, nhiệm vụ của chúng ta, như Đại hội Đảng
lần thứ X đã chỉ rõ, là cần đẩy mạnh việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi
mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện
“chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam; đồng thời,
phấn đấu đưa năng lực khoa học và công nghệ nước ta đạt trình độ của các nước tiên
tiến trong khu vực trên một số lĩnh vực quan trọng
(3)
.
Thứ hai, phải xây dựng những cơ sở thực tiễn nhằm củng cố, xây dựng niềm tin khoa
học. Theo quan điểm của Đảng ta, việc “kết hợp các mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã
hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các
chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến
và hưởng thụ”
(4)
chính là nhằm tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho sự phát
triển kinh tế – xã hội của đất nước. Có thể khẳng định rằng, thực hiện được những
nhiệm vụ đó cũng có nghĩa là chúng ta đã trực tiếp tạo nên cơ sở thực tiễn - tiền đề
quan trọng để xây dựng, củng cố và phát triển niềm tin khoa học trong quần chúng
nhân dân. Thực tiễn cho thấy, niềm tin của nhân dân sẽ giảm sút khi nền kinh tế lâm
vào khủng hoảng và không phát triển, các lĩnh vực liên quan đến sự phát triển con
người, như lao động và việc làm, thu nhập và mức sống, giáo dục và y tế, đạo đức và
văn hoá, an ninh và an toàn xã hội của đời sống cá nhân và cộng đồng không được
cải thiện và nâng cao. Vì vậy, Đảng ta rất quan tâm đến việc phát triển kinh tế – xã
hội nhằm xây dựng, củng cố niềm tin khoa học cho nhân dân. Đây là bài học kinh
nghiệm lớn mà Đảng ta đã rút ra từ thực tiễn đất nước cũng như từ sự nhận thức lại


khoa học trong nhân dân. Trong điều kiện hiện nay, việc xây dựng niềm tin khoa học
cho nhân dân phải được tiến hành đồng bộ, gắn liền với nâng cao dân trí, kết hợp
chặt chẽ các mục tiêu kinh tế với xã hội, phải giáo dục thế giới quan và phương pháp

biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh./.

(*) Tiến sĩ, Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị - Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh.
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.42 - 43.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr198.
(3) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 95, 98.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr. 101.
(5) Đ
ảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr .283.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001, tr. 84.
THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO T
ẠO TRIẾT HỌC Ở VIỆT NAM
THỜI GIAN QUA – MẤY ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI

NGUYỄN VĂN HUYÊN (
*
)


sinh quan, phát triển đời sống tinh thần, phát triển trí tuệ, năng lực tư duy, khả năng
khám phá và sáng tạo trong mọi lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn hoá, xã hội,
khoa học, giáo dục của dân tộc Việt Nam.
Tuy nhiên, để tiếp tục phát huy hơn nữa sức mạnh và nguồn lực triết học nước nhà,
phát huy những thành tựu nghiên cứu và đào tạo triết học thời gian qua, đặc biệt là
nghiên cứu và đào tạo triết học trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, tất cả chúng ta
đều nhận thấy, dù là trực quan hay cảm tính (vì chưa có cứ liệu điều tra cụ thể),
những bất cập của cả quá trình nghiên cứu và đào tạo của chúng ta.
Trước hết, cần khẳng định rằng, ở nước ta trong thời gian qua, nghiên cứu và đào tạo
nói chung, triết học nói riêng chưa có sự gắn kết thực sự có hiệu quả. Sự hợp tác
trong nghiên cứu và đào tạo giữa các trường đại học đã được thiết lập, nhưng có thể

khẳng định, hiệu quả của sự hợp tác đó chưa cao. Trong khi đó, như chúng ta đều
biết, nghiên cứu và đào tạo luôn là một quá trình thống nhất – quá trình tìm tòi khám
phá, làm giàu tri thức, tạo ra tri thức mới và nạp tri thức cho con người. Do đó, phải
có nghiên cứu triết học tốt mới có đào tạo triết học tốt. Đào tạo triết học không thể
nào khác là phải trên cơ sở và bằng những thành tựu triết học mới. Cho nên, cần có
cách nhìn nhận mới, cách triển khai, cách tổ chức mới để làm sao có thể kết hợp giữa
nghiên cứu và đào tạo một cách tốt nhất trong cả quá trình này. Chỉ khi có được một
cơ chế thích hợp trong hoạt động đó, chúng ta mới có thể tạo ra chuyển biến cả trong
nghiên cứu lẫn trong đào tạo triết học. Phải chăng, đó là mô hình viện gắn với
trường, viện trong trường, trường trong viện, người làm công tác giảng dạy đồng thời
là nhà nghiên cứu và nhà nghiên cứu cũng phải tham gia giảng dạy.
Thứ hai, điều quyết định nhất để bảo đảm tính đúng đắn và do vậy, cả kết quả của
nghiên cứu và đào tạo triết học, trước hết phải có quan niệm đúng về triết học. Quan
niệm đúng thì dù nhanh hay chậm, quá trình nghiên cứu – đào tạo sẽ cho ta kết quả
đúng và đi tới mục tiêu; quan niệm sai thì hướng đi sẽ lệch lạc, nghiên cứu và đào
tạo sẽ cho ra những sản phẩm méo mó, què quặt. Quan niệm về triết học của chúng
ta, theo tôi, còn nhiều vấn đề cần phải bàn, nhưng phải chăng, một nhược điểm căn
bản nhất là còn cứng nhắc và máy móc, nếu không nói là thô thiển đối với tính chất

tiếp cận và nghiên cứu đối tượng, không thấy rằng các phương pháp nghiên cứu, cả
lý luận lẫn thực tiễn, còn phải có các cách khẳng định bằng phủ định, thực hiện định
đề ngược, không chỉ chứng minh nó đúng, mà còn chứng minh cái khác sai để khẳng
định cái đúng; không chỉ có thế, triết học còn có các phương pháp cảm nhận để đi
vào thế giới bí ẩn. Dường như chúng ta coi phương Tây là cách quan niệm, cách tư
duy, cách nghiên cứu của các nhà triết học phương Tây với các điều kiện đặc thù, có
thể là nổi trội, nào đó của họ (như tiền đề tư tưởng, điều kiện kinh tế – xã hội, khoa
học – kỹ thuật, v.v.). Triết học phương Đông có cách quan niệm, cách tiếp cận, cách
nghiên cứu của người phương Đông với các điều kiện, đặc thù riêng có của người
phương Đông. Thực tế, triết học phương Đông không tiếp cận đối tượng bằng hệ
thống các phạm trù như triết học phương Tây, mà bằng thế giới nội tâm, bằng cảm
quan; nó có thể đi sâu khám phá thế giới tinh thần, sự huyền bí, tính linh diệu riêng
của tâm hồn phương Đông.
Với điều kiện và đặc điểm của riêng mình, các nhà triết học Việt Nam cũng phải trên
nền tảng ưu thế của mình mà quan niệm, tư duy, khám phá thế giới, xã hội, con

người theo cách của mình. Kế thừa, phát triển triết học thế giới, đặc biệt là triết học
phương Đông, trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, với sức mạnh riêng của những đặc điểm tư duy Việt Nam, chúng ta sẽ tạo ra
những sản phẩm triết học đích thực mang giá trị Việt Nam và giá trị nhân loại.
Với tinh thần như vậy, triết học Việt Nam có thể nghiên cứu theo tinh thần không
phân chia triết học duy vật biện chứng – duy vật lịch sử (chúng là một thể tư duy
thống nhất, có mặt trong mọi nhận thức và nghiên cứu đối tượng triết học), v.v., mà
là nên theo hướng khám phá, tìm tòi, xây dựng tri thức (theo các khía cạnh triết học
sau:
- Triết học giá trị, gồm: chân lý, đạo lý, mỹ lý… nói chung và chân lý, đạo lý, mỹ lý
của Việt Nam nói riêng;
- Triết học về đời sống tinh thần và về tư duy;
- Triết học chính trị – xã hội;
- Triết học kinh tế;

của đào tạo là đưa ra những sản phẩm (con người) thiếu căn bản, méo mó, thiếu hụt
tri thức, đặc biệt là thiếu tư duy triết học. Nhận định này là có tính xu hướng chung,
còn trong thực tế, có nhiều người, do biết kết hợp nhiều nguồn tri thức, do biết cách
học, cách nghiên cứu, nên đã đạt được những kết quả nhất định.
Nghiên cứu và đào tạo là các công đoạn, các khâu của cả quá trình xây dựng và phát
triển triết học cho từng con người, cho cả nền triết học nước nhà. Dù đến nay, trong
đào tạo của ta đã được bổ sung nhiều tri thức mới theo quy luật phát triển tri thức
chung của xã hội loài người và theo sự sáng tạo của chúng ta trên cơ sở triết học Mác
- Lênin; song, về cơ bản, chúng ta vẫn đào tạo theo cách cũ và trong khuôn khổ triết
học cũ (như đã nói ở phần trên).
Chương trình đào tạo của ta vẫn phân ra triết học duy vật biện chứng – duy vật lịch
sử; điểm xuất phát để nghiên cứu và đào tạo của ta thường vẫn đóng khung trong một
cách nhìn nhận thế giới, xã hội, con người; dường như ta vẫn còn bị chi phối bởi
cách nhìn và cách làm là lấy một số tiêu chí có tính khuôn mẫu để soi xét thế giới (tự
nhiên, xã hội, con người), mà ít lấy thế giới như là đối tượng chứa đựng vô vàn
những ẩn số để khám phá nó từ mọi góc độ, từ mọi cách thức. Theo chúng tôi,
nghiên cứu – đào tạo cần phá vỡ tính khuôn mẫu này; phải tìm tòi, khám phá, sáng
tạo để tạo ra được những sản phẩm (con người) có tư duy mở hết sức uyển chuyển,
có khả năng tìm tòi, khám phá, sáng tạo cao.

Chúng ta cần soạn lại nội dung giáo trình, giáo khoa giảng dạy – đào tạo theo tinh
thần mở, phương pháp tiếp cận đa dạng và phong phú, đặc biệt là cần quan tâm phát
triển thế giới quan và phương pháp luận. Đối với đối tượng đào tạo sau đại học và
trên đại học, cần khắc phục và từng bước vượt thoát các nội dung giáo trình, giáo
khoa có tính khuôn mẫu. Các giáo trình, giáo khoa của các cấp đào tạo cần khác biệt
về trình độ khoa học, cả nội dung lẫn phương pháp tiếp cận. Chương trình đào tạo
trên đại học phải được xây dựng theo hệ thống chuyên đề, bảo đảm cập nhật kiến
thức mới và hiện đại, những vấn đề triết học cấp bách mà nhân loại đang đặt ra, thời
cuộc đang thách thức, đặc biệt là vấn đề toàn cầu và hội nhập quốc tế.
Phương pháp giảng dạy cũng cần phải đổi mới theo hướng:

Ngay từ bây giờ, chúng ta phải khẩn trương đổi mới cách suy nghĩ, hướng đi, hướng
phát triển tư duy và phương pháp nghiên cứu, đào tạo. Và, điều quan trọng, có tính
quyết định là phải biến suy nghĩ thành hành động, phải bắt tay làm ngay từ bây giờ.
Suy nghĩ đúng, hướng đi đúng, cách nghĩ và cách làm đúng ngay từ hôm nay thì mới
có thể sau 50, thậm chí 100 năm, nền triết học Việt Nam mới có thể đạt được những
thành tựu rõ nét, mới có thể nói tới sự đóng góp những giá trị triết học riêng, đặc sắc
của Việt Nam vào nền triết học thế giới./.

* Giáo sư, tiến sĩ, Viện trưởng Viện Chính trị học, Học viện Chính trị – Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh.

TỪ ĐẠO HIẾU TRUYỀN THỐNG, NGHĨ VỀ ĐẠO HIẾU NGÀY NAY

NGUYỄN THỊ THỌ (*)
“Hiếu” được hình thành từ xa xưa, gắn liền với phong tục thờ cúng tổ tiên, về sau
được Nho giáo phát triển và thể chế hoá thành chuẩn mực đạo đức. Về cơ bản, nội
dung phạm trù “hiếu” mang một ý nghĩa tích cực, đó là bổn phận làm con phải có
hiếu với cha mẹ. Trong việc thực hành đạo hiếu, người Việt Nam chịu nhiều ảnh
hưởng của Nho giáo, song đạo hiếu ở Việt Nam vẫn có nét đặc sắc riêng, không hà
khắc và cứng nhắc như trong quan niệm của Nho giáo. Đặc biệt, truyền

thống “hiếu” của dân tộc được kế thừa và nâng cao trong tư tưởng và nhân cách Hồ
Chí Minh. Ở Người, phạm trù“hiếu” được chuyển đổi mang tính cách mạng. Trong
điều kiện hiện nay, tác giả cho rằng, chúng ta cần tiếp tục khẳng định vai trò của
chữ “hiếu” trong gia đình cũng như ngoài xã hội; kế thừa, phát triển “hiếu” theo tinh
thần Hồ Chí Minh, gắn với yêu cầu của xây dựng gia đình văn hoá mới.


lấy hiếu làm trọng.
Theo Nho giáo, hiếu bao hàm nhiều yêu cầu. Trước hết, trong gia đình, con cái phải
có trách nhiệm phụng dưỡng bố mẹ khi về già và tế tự khi bố mẹ mất. Khổng Tử nói:
“Khi cha mẹ sống thì theo lễ mà phụng sự cha mẹ, khi cha mẹ chết thì theo lễ mà an
táng, và khi cúng tế cũng phải theo đúng lễ”(2). Điều đó có nghĩa là phận làm con
phải có hiếu với cha mẹ không những lúc còn sống, mà cả khi cha mẹ đã mất. Khổng
Tử cho rằng, nuôi cha mẹ thì phải một lòng kính trọng, nếu không kính trọng thì
không phải là người có hiếu, đến như giống chó, ngựa đều có người nuôi. Nuôi mà
không kính thì chẳng khác gì nuôi thú vật. Vậy nên, nuôi cha mẹ cốt yếu nhất là ở
lòng thành kính, dẫu phải ăn gạo xấu, uống nước lã mà làm cho cha mẹ được vui, ấy
gọi là hiếu. Thứ hai, người con trong gia đình phải có khả năng và điều kiện để kế
tục sự nghiệp của cha. Có như thế mới là nhà có phúc. Cha có con trai thì con cũng
phải có con trai, nghĩa là ông phải có cháu trai, nếu không được như thế thì bị coi là
nhà vô phúc và người con trai đó bị coi là bất hiếu. Do quá chú trọng đến dòng dõi
tông tộc, cộng với hạn chế về mặt lịch sử trong việc nhận thức về sinh lý con người,
nên Nho giáo có nhận định mang tính hà khắc, chủ quan. Thứ ba, phận làm con trong
gia đình không được phép trái lời cha mẹ. Xét trong quá trình lịch sử thì chữ hiếu của
đạo đức Nho giáo quả đúng như vậy. Trong giai đoạn đầu của Nho giáo, quan niệm
về hiếu có những nét tích cực nhất định. Ví như Khổng Tử nói: “Trong khi cha mẹ
còn sống phận làm con chớ có đi chơi xa. Nếu đi chơi đâu thì thưa trước cho cha mẹ
biết”(3). Hoặc khi cha mẹ làm điều gì trái với đạo thì con cái phải dùng cách ôn hoà
mà can ngăn. Nếu cha mẹ không nghe thì lại tỏ lòng cung kính và hiếu thảo, rồi dần
lựa cách mà nói cho cha mẹ biết lẽ phải để sửa đổi lại:
“Những điều gì tốt trông cha mẹ nên,
Những điều hư hèn trông cha mẹ khỏi”.
Đó là những nét mang tính nhân văn, nó không chỉ cần cho xã hội Nho giáo xưa mà
còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ đạo hiếu với cha mẹ ở xã hội hiện đại ngày

nay.
Nho giáo cũng cho rằng, những người con có hiếu còn là những người biết khéo

Cho nên nên tòng mà bất tòng là bất hiếu, không nên tòng mà tòng là bất “chung”(7).
Như vậy, về cơ bản, nội dung phạm trù hiếu mang một ý nghĩa tích cực, bắt nguồn từ
tình cảm xa xưa - đó là phận làm con phải có hiếu với cha mẹ. Đây cũng là tình cảm
và yêu cầu đạo đức có ý nghĩa phổ biến phù hợp với mọi dân tộc, trước hết là các
dân tộc phương Đông, trong đó có Việt Nam. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã ghi lại
biết bao tấm gương hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.
Trong việc thực hành đạo hiếu, người Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo.
Tuy vậy, đạo hiếu ở Việt Nam vẫn có những nét độc đáo riêng, không hà khắc và
cứng nhắc như trong quan niệm của Nho giáo. Ngay cả những người thuộc tầng lớp
trên, được đào tạo Nho giáo một cách đầy đủ, họ cũng tiếp biến đạo hiếu song đã
biến đạo hiếu trở thành giá trị và chuẩn mực đạo đức mang bản sắc Việt Nam. Chẳng
hạn, dưới triều Trần, trước khi lâm chung, Trần Liễu nhắc con phải báo thù cho ông.
Tuy vậy, Trần Quốc Tuấn đã bỏ đi hiềm khích riêng, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết,
không nghe lời cha, giữ hoà khí với Trần Quang Khải, anh em đồng lòng đánh thắng
giặc Mông - Nguyên, báo hiếu cho xã tắc.
Vào thời Minh xâm lược, Nguyễn Phi Khanh bị bắt đưa về Chi Lăng, Nguyễn Trãi
đã theo khóc đến tận ải Nam Quan. Nguyễn Phi Khanh nói: “Con phải trở về mà lo
báo thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì”. Vâng lời cha,
Nguyễn Trãi trở về, ngày đêm lo việc phục thù, bày kế giúp Bình Định Vương đánh
thắng quân xâm lược.
Dưới thời Nguyễn, Phan Bội Châu nuôi chí lớn của cha, gắng sức học tập, thi đỗ giải
nguyên để người cha đang hấp hối trên gường bệnh được yên lòng nhắm mắt ra đi.
Ông đã mở rộng đạo hiếu với cha ra đạo hiếu đối với dân tộc, giống nòi, hoạt động
cách mạng và trở thành nhà chí sĩ yêu nước nổi tiếng đầu thế kỷ XX.
Trong dân gian, đạo hiếu được thể hiện ngay trong những lời ru từ khi con người mới
sinh ra, còn nằm trong nôi:
“Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

nhân dân hiểu được quyền và trách nhiệm của người chủ đất nước, quyền thì hưởng
còn trách nhiệm thì phải làm tròn. Có được cái đức ấy thì người cách mạng, người
lãnh đạo sẽ được dân tin yêu, quý mến, kính trọng, nhất định sẽ tạo ra được sức

mạnh to lớn cho cách mạng.
Với ý nghĩa rộng lớn ấy, hiếu thảo vẫn gắn liền với hiếu trung. Chính bản thân Hồ
Chí Minh là một tấm gương của quan niệm đó. Tuỳ theo từng đối tượng mà Hồ Chí
Minh xác định nội dung trung, hiếu cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cách
mạng. Hồ Chí Minh đã kế thừa rất tài tình, sáng tạo phạm trù hiếu trong truyền thống
và trong Nho giáo. Ở Người, phạm trù hiếu đã được chuyển đổi mang tính cách
mạng- hiếu với dân, trong dân có cha mẹ.
Sau 20 năm đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý
nghĩa lịch sử. Nền kinh tế tăng trưởng cao, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân
dân được cải thiện Tuy nhiên, bên cạnh đó, trong những năm đổi mới, đạo đức xã
hội nói chung, đạo đức gia đình nói riêng có nhiều biểu hiện suy thoái. Nhiều gia
đình đã lơ là việc gia huấn, con cháu lớn lên gây ra những điều lầm lỗi. Đã đến lúc
mọi gia đình cần để tâm, soát xét lại, tái lập gia giáo, gia phong; phải nghĩ tới cái đạo
ăn ở có lễ nghĩa, quy củ, trật tự nề nếp trong nhà và tộc họ mình, sau đó là xã hội,
trên cơ sở nếp sống văn minh, văn hoá. Bởi bất cứ ai tồn tại trên cõi đời đều được
sinh ra từ cha mẹ mình. Thể hiện đạo hiếu với cha mẹ không chỉ là bổn phận, trách
nhiệm của người làm con, mà còn là quyền lợi thiêng liêng và cao cả của mỗi người.
Việc giáo dục đạo hiếu giúp con cái thấy được bổn phận làm con, giữ đúng vị trí của
mình trong gia đình là vấn đề hết sức quan trọng trong giáo dục gia đình từ xưa đến
nay. Không chú tâm tới giáo dục đạo hiếu trong gia đình là thiếu sót, quên lãng cái nền
móng thiết yếu nhất của đạo đức xã hội và con người.
Trong thực tế đầy biến động của xã hội hiện nay, bên cạnh những tấm gương hiếu
thảo, những tấm lòng nhân nghĩa, ân tình với cha mẹ, thì vẫn còn đó nhiều người con
đã có thái độ bất nhân, bất nghĩa, thiếu tôn trọng hoặc có hành vi hỗn láo, vô đạo đức
với cha mẹ. Một số người coi việc nuôi dưỡng, chăm sóc cha mẹ như một gánh nặng.

(2) Trần Lê Sáng (chủ biên). Ngữ văn Hán Nôm, t.1 – Tứ Thư. Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2002, tr.245.
(3) Trần Lê Sáng (chủ biên). Ngữ văn Hán Nôm, t.1 – Tứ Thư. Sđd., tr. 282.
(4)

Trần Lê Sáng (chủ biên). Ngữ văn Hán Nôm, t.1 – Tứ Thư. Sđd., tr. 225.
(5)

Trần Lê Sáng (chủ biên). Ngữ văn Hán Nôm, t.1 – Tứ Thư. Sđd., tr. 358 – 359.
(6) Trần Lê Sáng (chủ biên). Ngữ văn Hán Nôm, t.1 – Tứ Thư. Sđd., tr. 225.
(7) Xem: Tuân Tử ( Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê dịch). Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1994.

(8) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.7. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 60.
9) Hồ Chí Minh. Sđd., t.8, tr. 276.
VỀ KHÁI NIỆM “THẾ GIỚI ĐỜI SỐNG” TRONG HIỆN TƯ
ỢNG HỌC
ÉTMAN HUXÉC

NGUYỄN TRỌNG NGHĨA (*)

“Thế giới đời sống” là khám phá sau cùng của Étman Huxéc nhằm tránh hiểm hoạ
rơi vào chủ nghĩa duy ngã, khi xây dựng phương pháp giản lược và lý thuyết “kiến
tạo” của ý thức về tính ý hướng. Nó là một chặng đường trong hành trình dài mà
hiện tượng học của ông đã đi qua, từ chủ nghĩa tâm lý đến hiện tượng học, từ hiện
tượng học mô tả đến hiện tượng học siêu nghiệm, rồi đến “thế giới đời sống”. Xoay
quanh khái niệm này, với cách mô tả độc đáo về “tính liên chủ thể”, “cộng đồng
nhân vị”…, Huxéc đã làm cho hiện tượng học mang một diện mạo mới mà nhờ đó,

lực của Huxéc gắn với nghiên cứu sự khủng hoảng châu Âu giai đoạn chuyển tiếp từ
cận đại sang hiện đại. Vấn đề khủng hoảng đã được Huxéc nghiên cứu khá sớm và
thể hiện trong một tư liệu chép tay vào năm 1922 – 1923 và khái niệm Lebenswelt -
“thế giới đời sống” cũng theo đó, đã xuất hiện vào những năm 1924 – 1926. Nó được
xem là khái niệm trung tâm của triết học về sự khủng hoảng.
Thoạt đầu, “thế giới đời sống” được Huxéc quan niệm là một thế giới trực quan phi
lịch sử(1). Thành tố tạo nên khái niệm này là đời sống được hiểu không phải với
nghĩa cuộc sống tự nhiên, mà là đời sống sinh hoạt. Đến giữa những năm 20 của thế
kỷ XX, nội hàm và ý nghĩa của “thế giới đời sống” đã có sự thay đổi. Trong bài
giảng về Tâm lý học hiện tượng học (1925), ông giải thích rằng, thế giới trực quan là
thế giới hiện thực, gồm thế giới kinh nghiệm và thế giới mà chúng ta đang sống.
Khái niệm này phải đến những năm 1934 - 1937 mới được hoàn thiện.
Khi nghiên cứu “thế giới đời sống”, Huxéc không phải vì mục đích đưa ra một sự mô
tả, mà là để chỉ ra nguồn gốc siêu nghiệm của nó trong đời sống của con người. Theo
ông, đây là thế giới bao gồm mọi kinh nghiệm mà con người tham dự vào một cách
đặc trưng theo sự hiện hữu của nó - cảm giác, tri giác, phán đoán, mô tả hay tổng hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status