Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tiểu luận Triết học
MỤC LỤC
A. Giới thiệu đề tài................................................................................2
B. Nội dung chính..................................................................................4
I. Cơ sở lý luận:..........................................................................................4
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:.....................................................5
3. Vai trò của những Quan điểm chính trị xã hội trên đối với đời sống
xã hội ở Việt Nam hiện nay:....................................................................12
III. Một số biện pháp cơ bản để nâng cao giá trị đạo đức Nho giáo:. .21
C. Kết luận........................................................................................... 23
Tài liệu tham khảo...............................................................................24
Lê Văn Quang 1 Kế toán 50A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tiểu luận Triết học
A. Giới thiệu đề tài
Nho giáo ra đời từ thế kỉ VI trước Công nguyên tại Trung Quốc, do
Khổng Tử sáng tạo. Đây không những là một học thuyết thống trị trong xã
hội Trung Hoa suốt một thời gian dài, mà còn du nhập và có ảnh hưởng rất
sâu sắc đến nước ta thông qua con đường xâm lược của phong kiến phương
Bắc.
Trong suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc và nhất là trong các triều đại
phong kiến Việt Nam (chủ yếu từ thế kỉ X đến XIX) Nho giáo đã có những
tác động to lớn vào mọi mặt đời sống tinh thần của người Việt Nam. Cho nên
trong cuộc cách mạng văn hoá hiện nay chúng ta tất phải nghiên cứu Khổng
giáo hay Nho giáo để xem nó ảnh hưởng đến văn hoá của chúng ta như thế
nào. Vì vậy trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay,
để xây dựng con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vấn đề đặt ra là phải giải
quyết mối quan hệ biện chứng giữa con người Việt Nam truyền thống và con
người Việt Nam hiện đại.
Chính vì vậy, trong bài tiểu luận này, em chọn đề tài “Quan điểm
mục đích, mang tính lịh sử-xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và
xã hội.
2. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
- Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức: thực tiễn là
điểm xuất phát của nhận thức, nó đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, thách thức và
khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức. Chính con người có nhu
cầu tất yếu khách quan là giải thích và cải tạo thế giới mà buộc con người
phải tác động trực tiếp vào các sự vật, hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn
của mình. Sự tác động dó làm cho các sự vật, hiện tượng bộc lộ những thuộc
tính, những mối liên hệ và quan hệ khác nhau giữa chúng, đem lại những tài
liệu cho nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất, các quy luật
vận động và phát triển của thế giới. Trên cơ sở đó mà hình thành nên các lý
thuyết khoa học. Suy cho cùng không có một lĩnh vực tri thức nào mà lại
không xuất phát từ thực tiễn, không nhằm vào việc thực hiện, hướng dẫn
thực tiễn. Do đó, nếu thoát ly thực tiễn, không dựa vào thực tiễn thì nhận
thức sẽ xa rời cơ sở hiện thực. Vì vậy chủ thể nhận thức không thể có được
những tri thức đúng đắn và sâu sắc về thế giới.
Lê Văn Quang 4 Kế toán 50A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tiểu luận Triết học
-Thực tiễn còn đóng vai trò là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý: C.Mác đã
viết: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách
quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề
thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”.
Như vậy, thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhân thức, là yếu
tố quyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi
nhận thức phải luôn luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của mình.
Vai trò của thực tiễn với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán
triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất
phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng
động của người ta”(Trần Trọng Kim, Nho Giáo, NXB văn hoá thông tin
2001). Ông đi chu du khắp nơi trong nước mong tìm được minh quân để phò
giúp nhằm khôi phục hoà bình, thống nhất đất nước, nhưng không được
trọng dụng, phần vì không tìm được minh chủ, phần vì học thuyết của ông
thoát ly hiện thực. Cuối đời, hết sức thất vọng, ông trở về nước Lỗ chuyên
tâm dạy học, chỉnh lý, san định sách cổ nhằm giữ gìn, truyền bá văn hoá cổ
đại. Những tập sách đó sau này tập trung thành Ngũ Kinh, gồm có: Kinh
Dịch, Kinh Thư, Kinh lễ, Kinh Xuân Thu. Ông không có trước tác riêng
truyền lại cho hậu thế, nhưng học trò của ông có hàng ngàn người, học ghi
chép lại những lời Khổng Tử và soạn lại trong các bộ Luận Ngữ, Trung
Dung, Đại Học nhằm truyền đạo cho ông (ba bộ trên sau này cùng với bộ
Mạnh Tử hợp thành Tứ thư). Sau khi Khổng Tử mất, hoc thuyết cảu ông chia
ra làm nhiều phái, mỗi phái có ý nghĩa khác nhau, nhưng hầu như càng về
sau tinh thần của Nho giáo ngày càng kém đi và xa rời dần so với những tư
tưởng ban đầu của Khổng Tử. Tuy nhiên dù gặp nhiều thăng trâm trong lịch
sử nhưng Nho giáo vẫn trở thành công cụ đắc lực của gia cấp thống trị nhằm
duy trì quyền lực của mình trong xã hôi phong kiến. Từ đời Xuân Thu cho
đến các đời Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh trong hơn 2000 năm,
Nho giáo cùng với ngai vàng của các triều đại đã cùng nhau thống trị đời
Lê Văn Quang 6 Kế toán 50A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tiểu luận Triết học
sống tinh thần của con người trong xã hội phong kiến. Cho tới ngày nay khi
đã kết thúc vai trò lịch sử của mình, Nho giáo vẫn có những ảnh hưởng nhất
định đối với xã hội Trung Quốc và một số quốc gia châu Á khác trong đó có
Việt Nam.
Tóm lại, Nho giáo là học thuyết có lịch sử lâu đời và mạng nhiều tính
chất phức tạp. Ngoài ra quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam cũng
có nhiều đặc biệt đáng lưu ý và đòi hỏi có sự nghiên cứu, tìm hiểu một cách
toàn diện khách quan.
Như vậy có thể khẳng định rằng “Chữ Nhân đối với mọi người trong
thiên hạ còn hơn cả nước, lửa, người ta có thể đạp lên nước, lửa mà chết chứ
không đạp lên chữ nhân”(Nguyễn Đăng Duy,Nho Giáo với văn hoá Việt
Nam)(Dân chi ư nhân dã, thậm ư thuỷ hoả, thuỷ hoả ngô kiến đạo nhi tử giả,
dễ di kiến đạo nhân nhi tử giả dã).
Đồng nghĩa với việc coi chữ Nhân là nội dung, là tinh thần cốt lõi trong
học thuyết đạo đức nho giáo.
Đức lễ
Đặt sau đức Nhân là đức lễ nhằm giáo dục con người, duy trì các mối
quan hệ trong vòng trật tự kỉ cương.
Trước hết, lễ là phạm trù chỉ tôn ti trật tự, kỉ cương của xã hội mà mọi
người, mọi giai cấp trong xã hội phải học phải tuân theo. Theo đó, trong xã
hội có vua- tôi, cha-con, chồng- vợ, có người trên kẻ dưới, có việc trái việc
phải cho nên phải có lễ để phân minh rõ ràng.
Thứ hai, lễ là những chuẩn mực, những quy tắc, những yêu cầu có tính
bắt buộc, ràng buộc với mọi hành vi, ứng xử của con người trong các mối
quan hệ xã hội cũng như trong các hoạt động khác của con người. Tuy nhiên
lễ không phải là một tiêu chuẩn đạo đức hoàn toàn độc lập mà là một vấn đề
luôn gắn liền với Nhân. Trong mối quan hệ giữa Nhân và lễ thì Nhân là gốc,
Lê Văn Quang 8 Kế toán 50A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tiểu luận Triết học
là nội dung còn lễ là biểu hiện của nhân. Ví dụ trong các tang lễ, xa xỉ chẳng
bằng tiết kiệm, đầy đủ mọi nghi thức chẳng bằng xót thương.
Do đó “Người không có lòng nhân thì thực hành lễ sao được” vì “ Nói
về lễ không phải chỉ có lụa ngọc mà thôi”
Lễ không những là biểu hiện của Nhân mà lễ còn điều chỉnh đức Nhân
cho đúng. Khổng Tử nói “ Cung kính mà không biết lễ thì mệt nhọc, cẩn thận
mà không biết lễ thì nhút nhát, dũng cảm mà không biết lễ thì làm loạn,
thẳng thắn mà không biết lễ thì làm phật ý người khác”.