đề tài những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình nhận thức và vận dụngtriết học mác - lênin về con đường và động lực lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam hiện nay - Pdf 12


Nghiên cứu triết học
Đề tài :" NHỮNG MÂU THUẪN NẢY SINH
TRONG QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ VẬN
DỤNGTRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ CON
ĐƯỜNG VÀ ĐỘNG LỰC LÊN CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY "
NHỮNG MÂU THUẪN NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC
VÀ VẬN DỤNGTRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ CON ĐƯỜNG VÀ ĐỘNG
LỰC LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHẠM NGỌC QUANG (*)
Trong bài viết này, tác giả đã tập trung phân tích những mâu thuẫn nảy sinh

có hiệu quả; người lao động nói chung, công nhân nói riêng đã được rèn
luyện và trưởng thành trong môi trường đó, trình độ văn hoá chung ít nhiều
đã được nâng cao một cách đáng kể; sự giác ngộ mục tiêu đấu tranh ít nhiều
đã dựa trên lý trí khoa học… Từ đó, tạo ra cái “phông” để tiếp nhận, vận
dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách có hiệu quả, ít phạm phải nguy cơ ảo
tưởng – không tưởng, nôn nóng chủ quan muốn nhanh chóng đi tới đích bằng
những cuộc tấn công trực diện vào chủ nghĩa tư bản.
Đối với nước ta, hoàn cảnh kinh tế – xã hội khi tiếp thu chủ nghĩa Mác -
Lênin và cả trong một quá trình dài vận dụng lý luận đó trong thời gian tiếp
theo hoàn toàn chưa phải như vậy. Kinh tế sản xuất nhỏ là phổ biến; giai cấp
công nhân yếu cả về chất lẫn về lượng; ảnh hưởng tư tưởng thực dân, phong
kiến còn khá nặng nề… Điều kiện kinh tế – xã hội đó tạo thành khó khăn nhất
định trong việc chúng ta tiếp nhận và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin nói
chung, triết học Mác - Lênin nói riêng vào việc phân tích tình hình xã hội và
lựa chọn con đường cho sự phát triển đất nước. Khi nói về khó khăn này,
V.I.Lênin viết: “Chủ nghĩa Mác được giai cấp công nhân và những nhà tư
tưởng của giai cấp đó lĩnh hội một cách dễ dàng nhất, nhanh chóng nhất, đầy
đủ nhất và chắc chắn nhất trong điều kiện nền đại công nghiệp được phát triển
tới mức cao nhất. Những quan hệ kinh tế lạc hậu hay chậm phát triển thường
xuyên dẫn tới chỗ là, trong phong trào công nhân, xuất hiện những phần tử
chỉ lĩnh hội được một số khía cạnh của chủ nghĩa Mác, một số bộ phận riêng
biệt của thế giới quan mới, hoặc một số khẩu hiệu và yêu sách riêng biệt, mà
lại không thể đoạn tuyệt dứt khoát với tất cả những truyền thống của thế giới
quan tư sản nói chung và của thế giới quan dân chủ – tư sản nói riêng”(1). Đó
là khó khăn về mặt nhận thức. Còn khó khăn về mặt tiền đề hiện thực cho quá
trình cách mạng đó, V.I.Lênin cũng chỉ ra: “Chúng ta không thể xây dựng chủ
nghĩa xã hội được nếu không có di sản của nền văn hoá tư bản. Chúng ta
không có gì khác để xây dựng chủ nghĩa xã hội ngoài những cái mà chủ nghĩa
tư bản để lại cho chúng ta”. Trong hoàn cảnh thiếu tiền đề như vậy, người
cộng sản chỉ có thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội nhờ biết vận dụng

hoạch hoá tập trung bao cấp cũng bộc lộ ngày càng gay gắt. Chúng ta đứng
trước những khó khăn, thách thức mới, đất nước dần dần lâm vào khủng hoảng
kinh tế - xã hội trầm trọng(4). Đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đó là vấn đề
sống còn của cách mạng nước ta. Muốn vậy, trước hết phải thay đổi mạnh mẽ,
cơ bản cách nghĩ, cách làm. Theo tinh thần đó, Hội nghị Trung ương 6 khoá IV
(tháng 8 - 1979), đã chủ trương và quyết tâm làm cho sản xuất “bung ra”.
Nhu cầu bức xúc đó gặp phải lực cản hết sức to lớn từ phong cách tư duy, nề
nếp làm ăn cũ vốn ăn sâu bám rễ trong không ít cán bộ, đảng viên và nhân
dân suốt 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội với mô hình kinh tế tập trung
quan liêu bao cấp. Do sự bao cấp về tư duy, đại đa số cán bộ, đảng viên và
nhân dân quen sống “vô lo vô nghĩ”, tất cả mọi cái đã được một bộ phận cao
nhất của xã hội lo thay, chỉ việc nói theo, làm theo… Điều này khiến người ta
lo lắng khi phải tự tìm lối thóat cho bản thân mình. “Mỗi người hãy tự cứu
mình trước khi kêu trời cứu” – một tư tưởng rất đúng khi đó đã được đưa ra,
nhưng không phải mọi người đều cảm nhận và có năng lực làm được. Từ chỗ
quen với nếp sống coi giải quyết công ăn việc làm là trách nhiệm của Đảng,
của Nhà nước chuyển sang cách nghĩ, cách làm mới: mỗi người phải tự tạo
việc làm cho mình - đó là một bước chuyển không hề đơn giản. Cho đến nay,
nghĩa là sau hơn 20 năm đổi mới, trong xã hội ta không phải là không còn một
số người vẫn nghĩ và nói như vậy. Đương nhiên, phê phán tư tưởng ỷ lại đó
không phải để rồi loại bỏ hoàn toàn trách nhiệm tạo công ăn việc làm cho nhân
dân của Đảng và Nhà nước. Nhưng trong vấn đề này, trách nhiệm của Đảng và
Nhà nước không còn như cũ (công dân đến tuổi lao động là nhà nước phải xếp
công việc cho họ), mà chủ yếu là tạo cơ chế, chính sách, đòn bẩy… để người dân
tự tạo việc làm cho mình.
Một đột phá trong cơ chế, chính sách như vậy trong những năm đầu đổi mới
là sự ra đời của cơ chế khoán trong nông nghiệp.
Những tìm tòi, sáng tạo của Đảng được thể hiện ở Nghị quyết Hội nghị Trung ương
6 khoá IV và các nghị quyết tiếp theo đã đặt những cơ sở đầu tiên cho quá trình đổi
mới sau này. Tuy nhiên, những tìm tòi đổi mới ban đầu diễn ra còn rất khó

xây dựng; 2/ Những phương hướng cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta trong thời kỳ mới.
Để sự lãnh đạo của Đảng thực sự là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm giữ
vững định hướng xã hội chủ nghĩa của quá trình đổi mới, Đảng phải kiên trì và
phát triển nền tảng tư tưởng, lý luận cách mạng và khoa học. Nền tảng tư tưởng,
lý luận đó là gì? Nhiều năm trước đó, chúng ta luôn khẳng định đó là chủ nghĩa
Mác - Lênin. Song, cơ sở nảy sinh chủ nghĩa Mác – Lênin là thực tiễn phương
Tây. Mà phương Tây thì chưa phải là toàn bộ thế giới và do vậy, chúng ta phải
mang lại cơ sở phương Đông cho chủ nghĩa Mác (Hồ Chí Minh). Xuất phát từ
quan điểm phương pháp luận đó, dựa trên thành quả nghiên cứu về tư tưởng Hồ
Chí Minh, Cương lĩnh của Đảng khẳng định vị trí và vai trò của tư tưởng Hồ Chí
Minh trong toàn bộ quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam: “Đảng lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”.
Trong nhiều năm trước đây, các học giả mácxít, nhất là các học giả mácxít ở các
nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, thường có nhận thức không đúng về kinh
tế thị trường, nhà nước pháp quyền, coi chúng là những cái vốn có chỉ của chủ
nghĩa tư bản, phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản; đồng thời phê phán, lên án bất
kỳ ai có ý định nêu lên tư tưởng chủ nghĩa xã hội cũng phải phát triển kinh tế thị
trường, xây dựng nhà nước pháp quyền, cho đó là rơi vào âm mưu của giai cấp
tư sản. Bước vào giai đoạn đổi mới, Đại hội VII (1991) của Đảng khẳng định
đường lối phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tiếp theo, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1 -
1994), lần đầu tiên Đảng khẳng định phải xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cùng với sự khẳng định chủ
nghĩa xã hội cần phải phát triển kinh tế thị trường, đây cũng là một điển hình
của mâu thuẫn giữa tư duy cũ và tư duy mới về chủ nghĩa xã hội…
Nhận thức về quan hệ đối ngoại cũng vượt qua một mâu thuẫn cực kỳ quan
trọng: từ chỗ nhấn mạnh quá mức “hai phe, 4 mâu thuẫn”, coi thế giới tư

giữa các nhân tố cấu thành chủ yếu của nền kinh tế thị trường, như Nhà nước,
thị trường và doanh nghiệp… cho nên chưa phát huy tốt tác dụng của các
nhân tố đó.
Hiện có không ít ý kiến cho rằng, không nên phân định các thành phần kinh
tế, vì sự phân định đó sẽ dẫn đến thái độ phân biệt đối xử. Nhưng nhiều ý
kiến khác lại nhấn mạnh việc phân định các thành phần kinh tế là cần thiết, vì
đó là thực tế khách quan, giúp nhận rõ xu hướng vận động và phát triển của
nền kinh tế để có chính sách phát triển và quản lý phù hợp. Cũng chưa có sự
thống nhất trong nhận thức về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Có ý kiến
cho rằng, xác định như vậy sẽ tạo ra tình trạng không bình đẳng và cạnh tranh
không lành mạnh giữa các thành phần kinh tế; có ý kiến đề nghị không nên
đặt vấn đề có một thành phần kinh tế nào đóng vai trò chủ đạo. Lại có ý kiến
cho rằng, Nhà nước đóng vai trò chủ đạo chứ không phải kinh tế nhà nước;
rằng, Nhà nước là lực lượng định hướng, dẫn dắt và quản lý sự phát triển.
Về mặt đường lối, Đảng đã xác định mục tiêu đến năm 2020, nước ta về cơ
bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nhưng hiện vẫn chưa
làm rõ các tiêu chí cụ thể để làm đích hướng tới.
Nói chung, các bước đi của cả quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá chưa
được làm rõ, chậm cụ thể hoá mô hình, dẫn đến còn nhiều lúng túng trong thực
hiện. Nhận thức thế nào là nền kinh tế độc lập tự chủ và sự tuỳ thuộc giữa các
nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề còn
nhiều ý kiến khác nhau.
Cho đến nay, cũng chưa có một quan niệm thống nhất về công bằng và bình
đẳng, về sự phân hoá giầu nghèo ở nước ta. Có ý kiến cho rằng, xu hướng
phân hóa giàu nghèo, phân hóa phát triển đang gia tăng như hiện nay là không
phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó, không thể chấp nhận được.
Ý kiến khác cho rằng, thoát khỏi tụt hậu mới chính là nhiệm vụ hàng đầu,
mang tính sống còn của dân tộc ta, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế, do vậy, cần ưu tiên hơn cho mục tiêu tăng trưởng, cần chấp nhận
phân hóa giàu nghèo ở một mức độ nhất định và trên cơ sở tăng trưởng cao để

xã hội chủ nghĩa.
- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền
tảng liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là động
lực chủ yếu bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để phát huy được động
lực này, chúng ta đang phải giải quyết một loạt mâu
thuẫn:
+ Mâu thuẫn giữa yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, đô thị hoá với tình trạng thu hẹp diện tích đất
nông nghiệp, chậm chuyển đổi lao động, ngành nghề ở
nông thôn, sự thâm nhập của văn hoá đô thị với truyền
thống văn hoá nông nghiệp – nông thôn tồn tại hàng
ngàn năm với những mặt tích cực và tiêu cực của nó…
Do chưa giải quyết tốt mâu thuân này, tình trạng nông
dân không biết sử dụng có hiệu quả tiền đền bù đất
canh tác bị thu hồi dẫn đến “hai bàn tay trắng” đang
gây nhiều vấn đề xã hội bức xúc; tình trạng thiếu ổn
định về kinh tế – xã hội ở nông thôn có xu hướng gia
tăng; nhiều chuẩn mực văn hóa cũ – trong đó có những
yếu tố tích cực - đang bị đảo lộn, mai một dần, trong
khi những chuẩn mực văn hoá mới đáp ứng đúng nhu
cầu đổi mới ở nông thôn chưa được xác lập; tệ nạn xã
hội thâm nhập và phát triển trên cơ sở kinh tế nông
nghiệp, tâm lý nông dân càng trở nên bức xúc.
+ Mâu thuẫn giữa việc bảo đảm khối đoàn kết thống
nhất trên nền tảng một hệ tư tưởng, một quan hệ lợi ích
chung… với tình trạng phân hoá của cơ cấu giai cấp –
xã hội đang diễn ra hết sức phức tạp.
Xét về cơ cấu giai cấp, giai cấp công nhân Việt Nam ở

tưởng, tổ chức của phong trào công nhân.
Đội ngũ trí thức của đất nước cũng đang trải qua một
thời kỳ biến động phức tạp. Sự đa dạng về nguồn gia
nhập đội ngũ trí thức, về nguồn đào tạo, về ngành nghề
và nơi làm việc… ngày một gia tăng. Điều đó, về cơ
bản, tạo ra sức mạnh của đội ngũ trí thức trong thời kỳ
đổi mới. Mặt khác, trình độ phát triển còn thấp về kinh
tế, khả năng trang bị cho nghiên cứu khoa học cũng
như điều kiện ứng dụng kết quả nghiên cứu còn nhiều
hạn chế đã ảnh hưởng không nhỏ tới động lực làm việc
của trí thức. Bên cạnh đó, cũng cần thấy rằng, đặc
trưng hoạt động của trí thức là sáng tạo. Môi trường
thuận lợi nhất cho hoạt động đó là dân chủ. Dân chủ
cần cho sáng tạo như không khí cần cho cơ thể sống
vậy. Trong khi đó, tình trạng quan liêu – cái đối lập
với dân chủ – ở nước ta còn tồn tại khá nặng nề. Liên
quan tới hoạt động sáng tạo của trí thức, chúng ta đã
trải qua hơn 10 năm soạn thảo với hàng chục bản sơ
thảo khác nhau để đưa ra Quy chế dân chủ trong công
tác tư tưởng – lý luận, nhưng đến nay vẫn chưa ban
hành được. Sự thiếu vắng của văn bản pháp lý này đã
và đang là một cản trở đối với hoạt động của trí thức.
Các giai cấp, tầng lớp xã hội khác cũng có những điểm
tương tự.
Đại đoàn kết toàn dân tộc chỉ được củng cố và phát
huy như một động lực mạnh mẽ nhất khi các nhân tố
cấu thành cộng đồng dân tộc ý thức rõ lợi ích chung
của đất nước, lấy đó làm điểm tương đồng, mọi người
đều nỗ lực thực hiện lợi ích chung đó. Ở nước ta hiện
nay, giữ vững độc lập, thống nhất Tổ quốc, vì “dân

Đảng Cộng sản cầm quyền ở Liên Xô và Đông Âu gần
cuối thế kỷ trước cũng có nguyên nhân sâu xa từ đó.
Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
định Đảng phải tiếp tục đổi mới, đất nước phải tiếp tục
đổi mới, nhưng cần đổi mới có nguyên tắc; phải tiếp tục
hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa với những
nguyên tắc đúng đắn, những hình thức, biện pháp, bước
đi thích hợp. Khẳng định điều đó không có nghĩa đến
nay chúng ta đã giải quyết được mọi khó khăn, mâu
thuẫn của quá trình dân chủ hoá ở nước ta đang đặt ra –
cả từ phương diện lý luận lẫn chính sách thực tiễn.
- Về nhận thức:
Nhận thức về dân chủ trong một bộ phận cán bộ, đảng
viên và nhân dân còn nhiều hạn chế. Không ít người
đồng nhất tình trạng dân chủ hiện nay với dân chủ xã
hội chủ nghĩa mà chúng ta mới đang đi những bước
đầu trên con đường tạo lập nó. Một số khác lại có ảo
tưởng muốn đạt ngay một trình độ phát triển cao của
dân chủ khi nhiều tiền đề khách quan và chủ quan
chưa chín muồi. Do không hiểu thực chất dân chủ
trong chủ nghĩa tư bản, một bộ phận trong cán bộ,
đảng viên và nhân dân ngộ nhận dân chủ đó như là giá
trị tuyệt đỉnh mà chủ nghĩa xã hội cũng phải khuôn
theo. Tình trạng tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ
và kỷ cương, dân chủ và pháp luật còn xuất hiện ở
không ít người.
- Trong thực tiễn:
Việc đổi mới nền hành chính quốc gia còn rất hạn chế.
Bộ máy hành chính còn nhiều tầng nấc làm cho việc
quản lý các quá trình kinh tế - xã hội chưa thật nhanh,

Nhận thức về dân chủ trong điều kiện một Đảng Cộng
sản duy nhất cầm quyền, đang từng bước phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh
tế quốc tế… còn có những điểm chưa rõ. Trong khi đó,
vấn đề này lại chưa được tập trung chỉ đạo nghiên cứu.
Các cấp uỷ Đảng chưa tập trung thảo luận, quyết định,
có giải pháp đồng bộ, triệt để nhằm thống nhất về quan
điểm, chủ trương, giải pháp đổi mới hệ thống chính trị,
tìm tòi những hình thức thực hiện dân chủ đa dạng.
Việc nghiên cứu vấn đề dân chủ và hệ thống chính trị
trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, để từ đó rút ra những
điều có thể tham khảo cho việc đổi mới hệ thống chính
trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện
một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam còn chưa
đạt yêu cầu cao. Nhiều cấp bộ Đảng chưa thực sự trở
thành biểu tượng về dân chủ trong xã hội.
Thực tiễn đã khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân
tố quyết định mọi thắng lợi của công cuộc đổi mới nói
chung, phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy
nhất cầm quyền nói riêng. Nhưng để có một xã hội
thực sự dân chủ, Đảng phải từng bước vươn lên thành
biểu tượng về dân chủ.
Để dân chủ hoá Đảng, cần chú ý 3 điểm:
- Dân chủ hoá, đổi mới mạnh mẽ quá trình hoạch định
các quyết sách chính trị của Đảng. Muốn vậy, cần tổ
chức hệ thống hỏi ý kiến nhân dân theo định kỳ và đột
xuất đối với mọi cán bộ lãnh đạo và tổ chức đảng. Để
việc hỏi ý kiến có chất lượng, cần tạo mọi điều kiện để
dân biết đường lối, chủ trương, chính sách và trách

hoảng kinh tế - xã hội" (Văn kiện Đại hội VII, tr. 59).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status