Giải pháp phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - Pdf 28

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Sau Đại hội toàn quốc lần thứ VI năm 1986, chính sách mở cửa đổi mới
của Nhà nước đã được áp dụng và dần đưa nền kinh tế trong nước phát triển
đi lên, vượt qua cơn khủng hoảng. Thị trường trong nước dần được mở rộng,
tạo điều kiện thuận lợi phát triển sản xuất hàng hoá. Sự kiện Vịêt Nam gia
nhập tổ chức thương mại thế giới WTO là một bước ngoặt quan trọng tạo điều
kiện phát triển thị trường trong nước và trên toàn thế giới. Nền kinh tế Việt
Nam được khôi phục một cách nhanh chóng và có bước tiến bộ, để có được
những thành quả đó phải kể đến sự đóng góp to lớn của công tác phát triển
hàng hoá, dịch vụ.
Với mục tiêu phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN
thì việc đẩy mạnh thị trường hàng hoá, dịch vụ đang là mối quan tâm đặc biệt
của Nhà nước ta. Phát triển thị trường hàng hoá dịch vụ là một mục tiêu quan
trọng được Nhà nước đặt ra để phát triển nền kinh tế theo định hướng mới
trong thời kì quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội. Những vấn đề mà đề tài giải
quyết sẽ giúp chúng ta hiểu thêm những yếu tố liên quan đến việc phát triển
thị trường hàng hoá và dịch vụ trong thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
Biết rõ thực trạng và những nhân tố chính góp phần xây dựng phát triển thị
trường hàng hoá dịch vụ trong nước để từ đó đưa ra giải pháp cần thiết.
Đề tài gồm có 4 nội dung chính:Những điều kiện phát triển thị trường,
những nhân tố tác động đến thị trường hàng hoá dịch vụ, những nhân tố giúp
phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ; việc phát triển thị trường bị ảnh
hưởng bởi các vấn đề khác.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển thị trường trong nước
và được sự thống nhất của các thành viên, nhóm 11 lớp KTCT 22 đã quyết
định chọn đề tài này để có thể rừ đó đưa ra giải pháp phù hợp.
Chúng em xin chân thành cảm ơn giảng viên Đỗ Thị Kim Thoa đã nhiệt
tình giúp chúng em hoàn thành tiểu luận này.
Giải pháp phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ trong thời kì quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

chất kỹ thuật; xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất mới XHCN, sử dụng tốt
các thành phần kinh tế khác, hình thành cơ chế quản lý mới; và bảo đảm nhu
cầu củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.Chính phủ đã áp dụng
các biện pháp ổn định tài chính và tiền tệ để chống lạm phát; áp dụng cơ chế
thị trường trong lĩnh vực giá cả, tỷ giá, lãi suất, xoá bỏ cơ chế nhà nước định
giá; xác lập cơ chế giá cả do thị trường định (hiện giá cả hàng hóa và dịch vụ
hầu hết do thị trường định, chỉ còn một số giá như điện, nước, bưu chính, viễn
thông, vận tải, hàng không... do các tổng công ty ấn định); thực hiện tự do hóa
thương mại; bãi bỏ chế độ Nhà nước độc quyền phân phối hàng hóa và dịch
vụ, cho phép mọi doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được kinh
doanh thương mại...Việc phát triển hàng hoá, dịch vụ trở thành một nhiệm vụ
quan trọng trong chính sách thay đổi của Nhà nước.
Sinh viên : Đào Thị Thuỳ Dương - Nhóm 11
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mục tiêu của việc thay đổi chính sách, cơ chế là: tập trung phát triển
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng Xã hội chủ nghĩa; xây
dựng cơ cấu kinh tế hợp lý; ưu tiên 3 chương trình kinh tế mới: chương trình
lương thực- thực phẩm, chương trình hàng tiêu dùng và chương trình hàng
xuất khẩu.
Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là một trong những nội
dung quan trọng nhất của đường lối đổi mới của Đảng.Chuyển đổi từ chính
sách đơn thnàh phần sở hữu sang nền kinh tế nhiều thành phần với sự tồn tại
của nhiều hình thức sở hữu. Trong GDP, xu hướng chung là tỷ trọng kinh tế
Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể giảm, trong khi tỷ trọng kinh tế tư
nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên. Trước năm 1990, kinh tế
tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gần như chưa có gì, nhưng đến
nay đã chiếm trong GDP tương ứng là 8,9% và 15,9%. Trong khi đó, tỷ trọng
kinh tế Nhà nước đã giảm từ 40,2% năm 1995 xuống còn 38,4% năm 2005;
kinh tế tập thể giảm tương ứng từ 10,1% xuống còn 6,8%; kinh tế cá thể giảm

Chính sách đổi mới đặc biệt ưu tiên 3 chương trình kinh tế: chương trình
lương thực- thực phẩm, chương trình hàng tiêu dùng và chương trình hàng
xuất khẩu. Quán triệt các quan điểm đổi mới của Đại hội Đảng, ủy ban Kế
hoạch Nhà nước đã triển khai cụ thể hóa thành các kế hoạch và chương trình
hành động, trong đó nổi bật là ba chương trình kinh tế lớn: chương trình
lương thực, chương trình hàng tiêu dùng và chương trình xuất khẩu. Nền kinh
tế đã thu được một số thành tựu đáng khích lệ như sản lượng lương thực đã đủ
ăn, có dự trữ và còn có phần để xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 2
lần hơn so với kế hoạch 5 năm trước, bước đầu đã giải phóng được lực lượng
sản xuất xã hội, động viên nhân dân tích cực tham gia vào sản xuất kinh
doanh, các mặt xã hội và đời sống dân cư có nhiều tiến bộ.
b. Việc chuyển thị trường từ trạng thái chia cắt , khép kín theo địa giới
hành chính “tự cấp, tự túc” sang tự do lưu thông.
Cùng với nhiều biện pháp khác , Nhà nước đã thực hiện đổi mới các
chính sách về giá cả, tài chính. Về giá cả thì thực hiện chính sách định giá
cứng cho từng loại hàng, duyệt chiết khấu cho từng khâu lưu thông, ấn định
giá bán riêng cho từng đối tượng hưởng thụ, giá cả riêng biệt theo từng chính
sách phân phối cụ thể.
Giá cả được hình thành chủ yếu theo quan hệ cung cầu nhưng đối với
một số vật tư quan trọng để giữ ổn định thị trường, Nhà nước quy định giá
bán lẻ tối đa xăng dầu, xi măng, thép, phân bón, giấy viết, hoá chất, ... và quy
định giá sàn đối với một số nông sản để tránh ép giá gây thiệt thòi cho người
nông dân. Nhà nước còn bảo đảm cân đối vật tư hàng hoá thiết yếu của nền
kinh tế như xăng dầu, lương thực, đường, xi măng, thép, phân bón, để tránh
tình trạng khan hiếm hoặc dư thừa trên thị trường. Việc quy giá trần bán lẻ,
giá sàn thu mua cũng như các cân đối này chỉ mang tính định hướng để các
doanh nghiệp chủ động xác định kế hoạch xuất khẩu, nhập khẩu kinh doanh
chứ không mang tính pháp lệnh như trước đây.
Ngoài ra, các xí nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có quyền tự chủ trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh, thực hiện hoạch toán độc lập. Đại hội đã chỉ

hướng đa dạng hoá, toàn cầu hoá thì việc phát triển trong chính các doanh
nghiệp, các công ty đang là một mối quan tâm sâu sắc.
Để tạo sức cạnh tranh, phát triển nhiều loại hình hàng hoá,Nhà nước đã
thực hiện sáp nhập khoảng 3.000 doanh nghiệp vào các doanh nghiệp khác
có liên quan về công nghệ, thị trường và giải thể khoảng 3.500 doanh nghiệp.
Nhờ đó đã nâng quy mô vốn bình quân của DNNN từ 3,1 tỷ lên 11,5 tỷ đồng,
giảm bớt tài trợ của ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp bị thua lỗ và thúc
đẩy các DNNN phải hoạt động có hiệu quả hơn. Các doanh nghiệp, công ty
đẩy mạnh sản xuất, tạo sản phẩm mới phục vụ nhu cầu người tiêu dùng. Đây
là yếu tố chính để đẩy mạnh phát triển chất lượng cũng như giảm giá thành
của sản phẩm.
Mạng lưới của công ty, doanh nghiệp được mở rộng đến nhiều tỉnh thành
trong cả nước mở rộng hơn thị trường hàng hoá, dịch vụ. Phục vụ tốt hơn nhu
cầu tiêu dùng của người dân, cũng chính vì thế mà số lượng sản phẩm sản
xuất được ngày càng nhiều và chất lượng cũng được khắc phục hơn.Khi đã
phát triển được thị trường trong nước, Nhà nước còn quan tâm nhiều hơn đến
việc phát triển thị trường hàng hoá ở nước ngoài, tạo môi trường cạnh tranh
và thu ngoại tệ. Chính vì vậy cần chú trọng hơn đến việc xây dựng thương
hiệu, đổi mới, quảng bá hình ảnh của sản phẩm.
Để đáp ứng nhu cầu thực tế của người tiêu dùng cũng như chất lượng
của hàng hóa, dịch vụ thì đội ngũ quản lý cũng cần phải được quan tâm chú
trọng hơn nữa. Quản lý được đẩy mạnh, phát triển trình độ theo nhu cầu mới
sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc lưu thông hàng hoá, phát triển dịch vụ.
Sinh viên : Đào Thị Thuỳ Dương - Nhóm 11
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
d. Ngành du lịch, dịch vụ là một nghành chính được đặc biệt quan tâm
đẩy mạnh trong thời kì phát triển CNH- HĐH.
Nước ta có vị trí địa lý thuận lợi, khí hậu ôn hoà và nhiều danh lam
thắng cảnh đẹp đã tạo điều kiện tốt cho việc phát triển du lịch trong nước. Đổi

cà phê, hồ tiêu, cá tra, cá ba sa... Xuất khẩu hàng lương thực, thực phẩm của
nước ta ngày càng phát triển, mở ra một thị trường hàng hoá, dịch vụ rộng
lớn. Bên cạnh đó, quá trình xuất khẩu còn gặp một số trục trặc khi các nước
nhập khẩu ngày càng sử dụng nhiều rào cản trong quan hệ thương mại quốc
tế, cạnh tranh thương mại ngày càng gay gắt, dẫn đến sản lượng xuất khẩu
một số mặt hàng giảm xuống. Ngoài ra thị trường giá thế giới biến động phức
Sinh viên : Đào Thị Thuỳ Dương - Nhóm 11
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
tạp, tăng giảm thất thường (gạo, dầu thô...), thông tin thị trường thế giới thiếu
và không chính xác đã tác động nhiều tới kim ngạch xuất khẩu.
b. Gắn liền nhu cầu cuộc sống xã hội với nhu cầu của nền kinh tế.
Việc đặt nhu cầu của người tiêu dùng lên hàng đầu là yếu tố quan trọng
nhất giúp phát triển thị trường hàng hoá, dịch vụ. Nhiều mặt hàng mới được
thay đổi hình thức mẫu mã cũng như chất lượng. Đa dạng hoá loại hình dịch
vụ tạo điều kiện cạnh tranh phục vụ nhu cầu cuộc sống.
Quan tâm sản xuất nhiều sản phẩm thiết thực, phong phú hơn, gần gũi
hơn với đời sống của người tiêu dùng. Chính sự cạnh tranh của các sản phẩm
đã đẩy mạnh tiêu thụ trong nước, giá thành sản phẩm cũng được thay đổi treo
chiều hướng tốt cho người tiêu dùng. Chính sự cạnh tranh gay gắt giữa doanh
nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài đã thúc đẩy quá trình xây
dựng quảng bá hình ảnh, thương hiệu, từ đó Marketing ở Việt Nam được quan
tâm chú trọng phát triển.
Quá trình tiếp cận khách hàng được đẩy mạnh, đây là một dấu hiệu tốt
cho quá trình phát triển thị trường hàng hoá trong nước. Dịch vụ du lịch được
mở rộng hơn, gắn liền với nhu cầu thiết thực của xã hội, chất lượng dịch vụ
được đưa lên hàng đầu. Dịch vụ du lịch phát triển góp phần tăng ngoại tệ,
phát triển nền kinh tế trong nước.
c. Công tác quản lý của cơ quan có thẩm quyền ảnh hưởng trực tiếp đến
hàng hoá, dịch vụ.

Nhóm cơ chế và biện pháp chính sách giúp cho các doanh nghiệp, ngành
tăng cường năng lực, khả năng cạnh tranh của sản xuất sản phẩm dịch vụ xuất
khẩu, thông qua đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện hoạt động và
công nghệ, tiền vốn để nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm giá thành sản
phẩm.
Nhóm các chính sách tạo điều kiện giảm chi ngoại tệ nhập khẩu đối với
một số ngành dịch vụ có nhập khẩu một số loại trang thiết bị chuyên dụng,
thiết bị, vật liệu rẻ tiền mau hỏng, bằng các chính sách tạo điều kiện sản xuất
để thay thế hàng nhập khẩu để giảm nhập khẩu. Nhiều loại hình sản xuất,
phân phối được áp dụng hơn trong quá trình lưu thông hàng hoá.
3. Những vấn đề ảnh hưởng đến việc phát triển thị trường hàng hoá
dịch vụ.
a. Bước đầu còn sơ khai, non trẻ nên chưa có sự thống nhất trong toàn
quốc.
Tình hình cơ sở hạ tầng trong nước còn rất thấp kém, rời rạc. Đây chính
là yếu tố kìm hãm sự phát triển của thị trường hàng hoá trong nước cũng như
việc xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài. Sản xuất chưa thực sự được quy
hoạch, đầu tư chuyên môn hóa nên chất lượng sản phẩm và cơ sở hạ tầng còn
nhiều yếu kém. Nền kinh tế ban đầu theo cơ chế kinh tế kế hoạch, giao dịch
chỉ là giao dịch chỉ là việc giao và nhận các sản phẩm nhằm thực hiện các
nghĩa vụ có tính pháp lệnh của nhà nước lập kế hoạch.
Quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trên thị trường chưa xuất hiện và
gặp nhiều khó khăn trong vấn đề vốn đầu tư.
Trước tình hình đó, việc đầu tư vào các khu trung tâm du lịch, giải trí
cũng chưa được quan tâm phát triển
Việc xây dựng các điểm du lịch, khu du lịch chưa được quan tâm thích
đáng, ngược lại do lợi nhuận trước mắt trong nghề kinh doanh khách sạn dẫn
đến đầu tư và cấp giấy phép xây dựng, nâng cấp khách sạn, nhà khách, nhà
nghỉ tràn lan gây nên tình trạng cung về buồng khách sạn vượt quá cầu, giá
Sinh viên : Đào Thị Thuỳ Dương - Nhóm 11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status