LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa hội ở Việt Nam, nền kinh tế chưa
thực sự phát triển cao, lực lượng sản xuất luôn tồn tại ở nhiều trình độ khác
nhau, tương ứng với mỗi trình độ của lực lượng sản xuất sẽ có một kiểu quan
hệ sản xuất do đó tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu khách
quan và có vai trò to lớn. Một trong những thành phần kinh tế cơ bản là thành
phần kinh tế tư nhân. Phát triển kinh tế tư nhân là một nhiệm vụ quan trọng
trong đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tháng 2 năm 2002 Hội nghị lần 5 Ban chấp hành Trung ương khóa IX có
nghị quyết chuyên đề về kinh tế tư nhân trong đó nhấn mạnh “ Kinh tế tư
nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế nhiều thành phần định
hướng xã hội chủ nghĩa góp phần quan trọng thực hiện nhiệm vụ trung tâm là
phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nâng cao nội lực đất nước trong hội
nhập kinh tế quốc tế”. Đại hội lần thứ X của Đảng tháng 4 năm 2006 tiếp tục
khẳng định “Tạo điều kiện thuận lợi cho các loại hình kinh tế tư nhân đầu tư
phát triển theo quy định của pháp luật, không hạn chế về quy mô, ngành nghề,
lĩnh vực, địa bàn”.
Hai mươi năm qua kinh tế tư nhân ở nước ta phát triển tăng nhanh về
số lượng và chất lượng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, giữ vững
ổn định kinh tế chính trị, xã hội của đất nước. Phát triển kinh tế tư nhân là
một vấn đề mới và phức tạp. Bản thân là một sinh viên kinh tế, em nhận thấy
cần phải tự trang bị kiến thức cơ bản về sự phát triển nền kinh tế trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhất là kinh tế tư nhân. Bài đề án này chỉ tập
trung vào ba nội dung cơ bản sau:
Luận giải những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế tư nhân trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đánh giá thực trạng về phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Em xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn giúp đỡ của PGS.TS Đào Thị
cấp vốn đã ăn sâu vào trong tiềm thức xã hội.
2
Kinh tế tư nhân có các hình thức phân phối đặc thù gắn với sở hữu tư
nhân. Người chủ phân phối theo vốn, tài sản và năng lực kinh doanh còn
người lao động phân phối theo giá trị sức lao động.
2.Quan điểm phát triển kinh tế tư nhân của Đảng và Nhà nước.
Đường lối đổi mới của Đảng ta bắt đầu từ Đại hội VI và được hoàn
thiện dần qua các kỳ Đại hội tiếp theo.Về kinh tế, tại Đại hội IX, Đảng cộng
sản Việt Nam khẳng định “chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính
sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Trong quá trình đổi mới đó, nhận thức của Đảng về vị trí và vai trò của các
thành phần kinh tế đặc biệt là kinh tế tư nhân đã có sự thay đổi căn bản so với
trước. Nếu như những năm trước đổi mới, thành phần kinh tế tư nhân chỉ
được coi là một thành phân kinh tế “tàn dư”, chỉ tồn tại khách quan trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và sẽ bị thu hẹp dần trong quá trình lớn lên
của các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (toàn dân và tập thể) thì đến Đại
hội VIII và IX của Đảng thành phần kinh tế tư nhân mới được khẳng định sự
tồn tại lâu dài “cả đến khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng”.
Thực tế cho thấy kinh tế tư nhân ngày càng chứng tỏ được vai trò quan
trọng của nó, là một trong những động lực của nền kinh tế. Trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, kinh tế tư nhân
được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô trong những
ngành nghề mà Nhà nước và Pháp luật không cấm.
Nhà nước tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho kinh tế tư
nhân.Kinh tế tư nhân có quyền bình đẳng với các kinh tế khác trước
pháp luật, cũng như được bảo hộ quyền sở hữu và các lợi ích hợp pháp.
Tuy nhiên kinh tế tư nhân mang tính tự phát cao nên cần tăng cường
vai trò quản lý của Nhà nước đối với khu vực kinh tế này.
II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG
khu vực kinh tế tư nhân luôn luôn cao hơn gấp rưỡi, gấp đôi tốc độ tăng
chung cũng như cao hơn tốc độ tăng của các khu vực khác.
Kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng thu hút nhiều lao động trong xã
hội, nhất là số người đến tuổi lao động chưa có việc làm, giải quyết số dôi dư
từ các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước do tinh giảm biên chế, giải thể và do
sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước.Công bố của Ban chỉ đạo điều tra lao
động - việc làm Trung ương cho thấy, lao động đang làm việc tại thời điểm
ngày 1 tháng 7 năm 2005 trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước tập trung chủ
yếu trong khu vực kinh tế tư nhân là 38,355 triệu người chiếm 88,2% số lao
động có việc làm thường xuyên trong cả nước
1
. Trong số lao động làm việc
trong khu vực kinh tế tư nhân thì lao động trong hộ kinh doanh cá thể có số
lượng lớn, lao động trong doanh nghiệp có số lượng còn nhỏ nhưng tăng rất
nhanh. Cuối năm 2003 có gần 2 triệu lao động làm việc trong các doanh
nghiệp của tư nhân, tăng khoảng 1 triệu người so với năm 2000
2
.
Trước đổi mới, kinh tế tư nhân chủ yếu giới hạn trong khu vực hộ kinh
doanh cá thể, hoạt động chủ yếu ở thị trường tự do. Cho đến năm 1990, nếu
số hộ công thương nghiệp, kinh doanh cá thể mới có khoảng 840 nghìn, thì
đến năm 2006 đã có trên 3 triệu hộ sản xuất nông nghiệp theo mô hình kinh tế
1
Ban chỉ đạo điều tra lao động - việc làm Trung ương : Công bố điều tra lao động - việc làm năm 2005 ngày
17 tháng 11 năm 2005 tại Hà Nội.
2
Tổng cục thống kê: Niên giám thống kê năm 2004.
4
hộ tự chủ. Doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân trước năm 1991 hầu
như không có, nếu có thì chủ yếu hoạt động ở thị trường ngầm, không được
quan trọng của kinh tế tư nhân là “ nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh của nền
kinh tế. Trên thực tế, đã có nhiều dịch vụ mới xuất hiện trong đó doanh
nghiệp dân doanh đóng vai trò chủ đạo như phần mềm, Internet, bất động
sản,... Thậm chí nhiều doanh nghiệp dân doanh còn vượt qua các doanh
nghiệp nhà nước trong cùng lĩnh vực và tạo được tên tuổi, uy tín trên thị
trường như công ty Kinh Đô, Hoà Phát, Trung Nguyên. Tốc độ tăng trưởng
công nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân luôn tăng cao hơn so với tốc độ tăng
ngành công nghiệp cả nước. Kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 20% - 30%
kim ngạch xuất khẩu. Trong nhiều lĩnh vực, kinh tế tư nhân có khả năng cạnh
tranh trên thị trường thế giới như thuỷ sản, may mặc, da giày.
1
Tổng cục thống kê: Niên giám thống kê năm 2004.
2
Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Báo cáo 3 năm thực hiện Nghị định 90/2001 ngày 23 tháng 11 năm 2001 của Chính
phủ về trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ.
5