Mục lục
A. Lời mở đầu 1
B. Nội dung 2
I. Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.Khái niệm thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội 2
2.Tính tất yếu khách quan của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội 2
3. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở
Việt Nam 3
II. Những nhiệm vụ kinh tế cơ bản trong thời kì quá độ lên
chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam
1.Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước 6
2. Xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ
nghĩa 15
3. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 22
III.Thực trạng và giải pháp nhằm đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ
kinh tế cơ bản trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam
1. Những nhận xét về thực trạng thực hiện các nhiệm vụ kinh tế
cơ bản trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội 27
1.1 Những thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện các nhiệm
vụ kinh tế 27
1.2 Những hạn chế vẫn còn tồn tại trong quá trình thực hiện các
nhiệm vụ kinh tế 29
2. Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các
nhiệm vụ kinh tế 31
C. Kết luận 35
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn đầu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế
hóa, tư tưởng.
2. Tính tất yếu khách quan của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam
Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam bắt đầu vào năm
1954 và đến năm 1975, sau khi cuộc cách mạng dân tộc - dân chủ nhân dân đã
hoàn toàn thắng lợi, đất nước đã hoàn toàn độc lập và thống nhất, nhân dân cả
nước cùng đồng lòng tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, cùng quá độ lên
chủ nghĩa xã hội.
Đối với nước ta, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
là một tất yếu lịch sử, vì:
- Thời kì quá độ là thời kì lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủ
nghĩa xã hội cũng đều phải trải qua, ngay cả những nước có nền kinh tế phát
triển, bởi lẽ, ở các nước này tuy lực lượng sản xuât đã phát triển cao nhưng vẫn
còn cần phải cải tạo và cần xây dựng quan hệ sản xuất mới, xây dựng nền văn
hóa mới. Đối với Việt Nam, một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã
hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, càng cần phải trải qua một thời kỳ quá độ
lâu dài.
- Toàn thế giới đã bước vào thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội. Thực tiễn đã khẳng định chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội đã lỗi
thời về mặt lịch sử, sớm hay muộn cũng phải được thay bằng hình thái kinh tế -
xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là giai đoạn xã hội xã hội chủ nghĩa.
3
Cho dù chủ nghĩa tư bản đã rất cố gắng để thích nghi với tình hình mới và cũng
có những thành tựu phát triển nhưng vẫn không vượt ra khỏi những mâu thuẫn
cơ bản của nó, những mâu thuẫn này không dịu đi mà ngày càng gay gắt và sâu
sắc. Vì vậy, đặc điểm của thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thê giới. Việt Nam đi theo dòng chảy
của thời đại cũng tức là đi theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử.
- Từ những năm 20 của thế kỉ XX, Cách mạng Việt Nam đã phát triển theo
con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhờ bước đi ấy mà
- Nhân dân ta đã lập nên chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân, cách
mạng Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo - một Đảng giàu tinh
thần cách mạng, sáng tạo, khoa học và trí tuệ, có đường lối đúng đắn và gắn bó
với quần chúng. Đó là những nhân tố chủ quan có ý nghĩa vô cùng quan trọng,
bảo đảm cho thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Nhân dân Việt Nam có một lòng quyết tâm sâu sắc, sẵn sàng chiến đấu, hi
sinh vì độc lập dân tộc và vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Điều đó sẽ trở
thành lực lượng vật chất đủ sức vượt qua mọi khó khăn và xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội.
- Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ
Đại hội Đảng VI đến nay đã thu được nhiều kết quả bước đầu khả quan: giữ
vững ổn định chính trị, tạo môi trường hợp tác đầu tư, phát triển kinh tế, đời
sống nhân dân được cải thiện…điều đó đã củng cố và khẳng định con đường lựa
chọn lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là hoàn toàn đúng đắn.
3.2 Nhận thức về thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa
Đây chính là nhận thức về con đường phát triển “rút ngắn” lên chủ nghĩa xã
hội ở nước ta.
5
Để làm được điều đó, về chính trị, bỏ qua chế độ tư bản là bỏ qua giai đọan
thống trị của giai cấp tư sản, của kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa. Về
kinh tế, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua sự thống trị của quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa.
Tuy nhiên, ta cần phải biết tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã
đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để
phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.
Ngoài ra, trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội”, Đảng ta đã khẳng định: “Mô hình xã hội chủ nghĩa mà nhân dân
ta xây dựng là một xã hội:
ở Việt Nam trong thời kì đổi mới , Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ
bảy khóa VI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam
đã xác định: “công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản,
toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế - xã hội
từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức
lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại
dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm tạo
ra năng suất lao động xã hội cao”.
7
1.1.2 Đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.
Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước,
công nghiệp hóa ở nước ta hiện nay có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa.
- Thứ hai, công nghiệp hóa nhằm mục tiêu xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật
cho chủ nghĩa xã hội, tăng cường sức mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc.
- Thứ ba, công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước.
- Thứ tư, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh
toàn cầu hóa nền kinh tế, vì thế mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh
tế quốc tế là tất yếu đối với nước ta.
1.1.3 Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa .
- Mỗi phương thức sản xuất xã hội chỉ có thể được xác lập vững chắc dựa
trên cơ sở vật chất - kĩ thuật tương ứng. Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, nhiệm vụ quan trọng nhất của nước ta là
phải xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong đó có công
nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Muốn thực
hiện thành công nhiệm vụ đó, nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hóa, tức là
chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại.
- Chủ nghĩa xã hội muốn tồn tại và phát triển, cũng cần phải có một nền kinh
tế tăng trưởng và phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ
ngũ trí thức trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là góp phần
tăng cường quyền lực, sức mạnh và hiệu quả của bộ máy quản lí kinh tế của Nhà
nước.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ, vững mạnh, trên cơ sở đó mà thực hiện tốt sự phân công và
hợp tác quốc tế.
9
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thúc đẩy sự phân công lao dộng xã
hội phát triển, thúc đẩy quá trình quy hoạch vùng lãnh thổ hợp lí theo hướng
chuyên canh tập trung làm cho quan hệ kinh doanh giữa các vùng, các miền trở
nên thống nhất cao hơn.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa không những có tác dụng thúc đẩy nền kinh
tế tăng trưởng phát triển cao mà còn tạo tiền đề vật chất để xây dựng, phát triển
để hiện đại hóa nền quốc phóng - an ninh. Sự nghiệp quốc phòng và an ninh gắn
liền với sự nghiệp phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra tiền đề kinh tế cho sự phát triển đồng
bộ về kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng và an ninh. Thành công
của sự nghiệp công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân là nhân tố quyết định sự
thắng lợi của con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Chính vì vậy mà công nghiệp hóa kinh tế được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong
suốt thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
1.1.5 Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại
- Mục tiêu lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là xây dựng
cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội dựa trên một nền khoa học và công
nghệ tiên tiến, tạo ra lực lượng sản xuất mới với quan hệ sản xuất ngày càng tiến
bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống vật
chất, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Để từng bước thực hiện thành công mục tiêu lâu dài trên, mục tiêu tổng
quát của sự nghiệp công nghiệp hóa ,hiện đại hóa của nước ta được Đảng Cộng
sản Việt Nam xác định tại Đại hội lần thứ VIII và tiếp tục khẳng định tại Đại hội
đa năng lực sản xuất hiện có. Trong phát triển mới, ưu tiên quy mô vừa và nhỏ,
công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh. Đòng thời, xây dựng
một số công trình quy mô lớn thật cần thiết và có hiệu quả.
- Kết hợp chặt chẽ và toàn diện phát triển kinh tế với củng cố, tăng cường
nền quốc phòng - an ninh của đất nước.
11
Bước vào thế kỉ 21, trước những biến đổi to lớn của tình hình trong nước và
quốc tế, Đại hội IX nhấn mạnh thêm ba quan điểm:
- Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn
thời gian so với các nước đi trước.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải đảm bảo xây dựng nền kinh tế
độc lập, tự chủ và chuyển động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
- Phát triển kinh tế nhanh có hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi
với tiến bộ, công bằng xã hội, và bảo vệ gìn giữ môi trường sinh thái.
1.2 Nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.
1.2.1 Những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kì
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
a. Phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ
nghĩa xã hội - trên cơ sở thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội và áp dụng
những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại.
- Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước hết là quá trình cải biến lao
động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng máy móc, tức là phải cơ khí hóa
nền kinh tế quốc dân. Đó là bước chuyển đổi rất căn bản từ nền kinh tế nông
nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp. Gắn liền với quá trình cơ khí hóa là điện
khí hóa, tự động hóa sản xuất từng bước và tiến tới là cả nền kinh tế quốc dân.
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin tái sản xuất mở rộng của khu
của khu vực sản xuất tư liệu sản xuất quyết định quy mô tái sản xuất mở rộng
hay tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, đối tượng công
nghiệp hóa hiện đại hóa là xây dựng và phát triển mạnh mẽ nền công nghiệp,
trong đó then chốt là ngành chế tạo tư liệu sản xuất.
phải tăng dần về tỷ trọng.
- Trình độ kỹ thuật của nền kinh tế không ngừng tiến bộ, phù hợp với xu
hướng của sự tiến bộ khoa học và công nghệ đã và đang diễn ra như vũ bão trên
thế giới.
13
- Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nước, của các ngành, các
địa phương, các thành phần kinh tế.
- Thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế theo xu thế toàn cầu hoá kinh
tế, do vậy cơ cấu kinh tế được tạ dựng phải là “cơ cấu mở”.
- Ở nước ta, kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đến nay,
dưới ánh sáng của đường lối đổi mới, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đạt
được những thành tựu quan trọng.
1.2.2 Những nội dung cụ thể của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
trong những năm trước mắt.
a. Đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn. Vì:
- Nông nghiệp nông thôn có nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai thác và
khai thác chưa có hiệu quả.
- Nông nghiệp nông thôn vẫn trong tình trạng sản xuất nhỏ, trình độ lạc hậu,
năng suất thấp.
- Quan hệ sản xuất chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nền nông nghiệp
hàng hoá theo cơ chế mới.
- Nông nghiệp, nông thôn còn là thị trường đầu ra cho công nghiệp.
- Đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, môi
trường sinh thái bị suy thoái.
b. Phát triển công nghiệp, xây dựng
Hướng ưu tiên phát triển công nghiệp ở nước ta là: khuyến khích phát triển
công nghiệp công nghệ cao, công nghệ chế tác công nghệ phần mềm và công
nghệ bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút lao
động, phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế; khuyến khích phát