Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Từ hàng chục năm nay, chính sách Bảo hiểm xã hội đã góp phần quan
trọng trong việc trợ cấp vật chất, hỗ trợ đời sống cho những đối tợng hởng bảo
hiểm xã hội và gia đình họ khi gặp phải rủi ro, biến cố trong cuộc sống nh ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hoặc chết dẫn đến giảm
hoặc mất nguồn thu nhập. Chính sách BHXH cũng có tác dụng động viên công
nhân viên chức, lực lợng vũ trang yên tâm công tác sản xuất, chiến đấu góp
phần thắng lợi vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế thị trờng với
sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và có sự quản lý của Nhà nớc theo
định hớng XHCN. Bớc sang cơ chế kinh tế mới với quan hệ lao động phong
phú, đa dạng, chính sách BHXH trong cơ chế cũ không còn phù hợp nữa. Do đó
việc nghiên cứu, tìm hiểu và xây dựng cơ sở lý luận nhằm đổi mới hoàn thiện
chính sách BHXH cho phù hợp với tình hình mới là một yêu cầu cấp thiết.
Quỹ BHXH là một nội dung rất quan trọng trong chính sách BHXH. Quỹ
BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng nó vừa mang tính
kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan
trọng đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển. Chính vì vậy,
việc đảm bảo hệ thống tài chính cho quỹ BHXH là hết sức cần thiết và mang ý
nghĩa sống còn đối với hoạt động của BHXH. Thông qua việc xem xét đánh giá
cơ chế quản lý BHXH ở Việt nam từ đó đa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện
và đổi mới cơ chế quản lý quỹ BHXH cho phù hợp với giai đoạn mới. Từ những
lý do trên và quá trình thực tập tôi đã chọn đề tài "Hoạt động quản lý quỹ Bảo
hiểm xã hội ở Việt nam".
Kết cấu đề tài gồm ba chơng:
Chơng I : Lý luận chung về Bảo hiểm xã hội.
Chơng II : Thực trạng quản lý quỹ Bảo hiểm XH ở Việt nam.
Chơng III: Hoàn thiện và đổi mới cơ chế quản lý quỹ BHXH.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn nhiệt tình của thầy giáo và
các cán bộ Vụ BHXH - Bộ LĐTBXH đã giúp tôi hoàn thành luận văn này.
BHXH là một trong những quyền cơ bản của con ngời trong một xã hội
hiện đại và mục tiêu cao cả nhất của nó là vì sự an toàn, phòng tránh đợc hậu
quả về những tổn thất, thất bại gây ra bởi những rủi ro trong cuộc sống hay
trong quá trình lao động. BHXH hớng tới sự phát triển, sự đảm bảo tốt nhất cho
con ngời, góp phần quan trọng vào tạo lập sự ổn định và thịnh vợng của xã hội .
Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng của
Đảng và Nhà nớc. ở nớc ta, hiện nay cũng có nhiều khái niệm khác nhau về
BHXH, tuỳ cách tiếp cận. Từ giác độ thu ta có thể hiểu: BHXH là sự bảo đảm
thay thế, bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao động khi họ bị mất việc làm,
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
thông qua việc hình thành sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên
tham gia BHXH, nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của ngời lao động
và gia đình họ, đồng thời đảm bảo an toàn xã hội. Theo các nhà hoạt động
trong lĩnh vực lao động và xã hội thì BHXH là sự đảm bảo của xã hội đối với
ngời lao động, thông qua việc huy động nguồn đóng góp của ngời sử dụng lao
động, ngời lao động và sự hỗ trợ của Nhà nớc để trợ cấp cho ngời lao động khi
họ bị mất sức lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn do ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già và chết nhằm bảo đảm
an toàn đời sống cho ngời lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo
an toàn xã hội. Theo các nhà làm luật, thì BHXH là một chế định bảo vệ ngời
lao động.
Nh vậy, khái niệm BHXH đang đợc sử dụng ở Việt nam hẹp hơn, không
bao gồm các hoạt động về bảo trợ xã hội. Các khái niệm này chỉ đề cập cụ thể
tới các đối tợng tham gia vào hoạt động BHXH, các bên liên quan đến quá trình
hình thành và phát triển quỹ BHXH, các trờng hợp cần đợc bảo hiểm, các đối t-
ợng hởng BHXH và các chế độ BHXH đợc thực hiện. BHXH ở đây cũng chỉ rõ
nghĩa vụ và lợi ích của ngời lao động khi tham gia vào quan hệ BHXH, trong
đó bao gồm cả bảo đảm an toàn xã hội.
Dù cha có một khái niệm thống nhất về BHXH nhng các khái niệm này
rộng theo kiểu luỹ tiến quá trình tái sản xuất ở mức độ cần thiết, phù hợp với sự
phát triển của nhu cầu và tình hình tăng dân số. BHXH thoả mãn các nhu cầu
về đảm bảo cuộc sống nh đã trình bày ở trên, BHXH còn là cần thiết để tái sản
xuất sức lao động, một trong những tiền đề quan trọng nhất để tái sản xuất xã
hội.
2.2. Dới góc độ kinh tế:
BHXH là một phạm trù kinh tế tổng hợp. Trong đó: đối với những ngời
hởng các chế độ BHXH, đó là sự đảm bảo thu nhập, bảo đảm cuộc sống khi họ
ở trong điều kiện khó khăn do giảm hoặc mất khả năng lao động mà giảm hay
mất thu nhập, thông qua việc tích luỹ dần của cá nhân trong quỹ BHXH và sự
đóng góp của số đông những ngời có cùng khả năng gặp rủi ro nh nhau. Trong
phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hoạt động BHXH mang nội dung của
quá trình phân phối lại một phần thu nhập trong dân c thông qua việc hình
thành và sử dụng quỹ BHXH, một quỹ tiền tệ tập trung có quy mô rất lớn và
ngày càng tăng lên.
Khi có sự phát triển của thị trờng tài chính và nếu đợc sự quản lý và sử
dụng tốt, quỹ BHXH còn có khả năng sinh lời từ đầu t hợp pháp khác nhau.
Việc sử dụng quỹ BHXH để đầu t sinh lời đợc thấy rõ trong các nớc có nền kinh
tế thị trờng phát triển. Hiện tại BHXH Việt nam bắt đầu thực hiện hoạt động
này nh dùng quỹ để mua trái phiếu. Trong tơng lai, việc sử dụng quỹ BHXH
vào các hoạt động đầu t cũng sẽ đợc mở rộng ra với nhiều hình thức khác nhau.
Kinh tế càng phát triển thì BHXH ngày càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế, có
thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vợt quá trạng thái kinh
tế của mỗi nớc.
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
2.3. Về phơng diện chính trị:
BHXH là sự liên kết giữa những ngời lao động khác nhau trong xã hội
cũng vì lợi ích chung của cộng đồng, trong đó có cá nhân tham gia BHXH.
BHXH cũng phản ánh bản chất của một chế độ xã hội nhất định. Đối với quốc
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Con ngời muốn tồn tại và phát triển luôn cần phải thoả mãn các nhu cầu
tối thiểu về vật chất và tinh thần và để thoả mãn các nhu cầu đó con ngời phải
lao động, sáng tạo sản xuất ra các sản phẩm. Mặt khác, con ngời ai cũng phải
trải qua các giai đoạn phát triển của đời ngời đó là: sinh ra, lớn lên, trởng thành
và chết. Trong các giai đoạn sinh, lão, bệnh tử của con ngời thì không ai có thể
tồn tại độc lập khỏi sự giúp đỡ, chia sẻ của những ngời xung quanh. Cuộc sống
không phải lúc nào cũng diển ra bình thờng, con ngời không phải bao giờ cũng
gặp thuận lợi, có đủ thu nhập và điều kiện sinh sống mà trái lại rủi ro luôn đi
kèm với con ngời. Trong nhiều trờng hợp rủi ro bất ngờ xảy ra làm cho ngời lao
động bị giảm hoặc mất thu nhập hay những điều kiện sinh sống khác do ốm
đau, TNLĐ, già yếu. Khi rơi vào các trờng hợp đó, các nhu cầu cần thiết của
cuộc sống con ngời không vì thế mà giảm đi hoặc mất đi, thậm chí còn tăng lên
hoặc phát sinh những nhu cầu mới nh chi phí khám chữa bệnh khi ốm đau xảy
ra. Bởi vậy, muốn đảm bảo duy trì cuộc sống ngời lao động làm thế nào để tạo
ra nguồn thu nhập thay thế hoặc bù đắp.
Trong xã hội nguyên thuỷ, con ngời phần vừa tự lực, phần biết kết hợp
đoàn kết để đi săn bắt, hái lợm để kiếm sống. Khi gặp rủi ro, tai nạn thì họ vừa
tự mình chịu đựng khắc phục vừa đợc các thành viên trong cộng đồng hỗi trợ, c-
u mang. Trong xã hội phong kiến, quan lại dựa vào bổng lộc của nhà vua, còn
dân c thì đùm bọc lẫn nhau trong họ hàng, làng xóm ... Ngành công nghiệp hình
thành cùng với nền kinh tế hàng hoá phát triển đã làm xuất hiện quan hệ thuê
mớn nhân công. Những ngời làm công phải hoàn toàn dựa vào tiền lơng làm
nguồn sống chủ yếu. Có việc thì mới có lơng dù đó là đồng lơng ít ỏi. Khi ốm
đau, tai nạn, sinh đẻ ... thì phải nghỉ việc và không có lơng, cuộc sống bị đe doạ.
Ngời lao động đã ý thức đợc sự cần thiết phải có thu nhập đề phòng khi họ gặp
rủi ro, tai nạn bất ngờ nên họ đấu tranh đòi giới chủ phải cam kết đảm bảo một
số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi ốm đau, thai
sản ... Lúc đầu giới chủ cam kết đảm bảo cho ngời lao động những khoản thu
càng phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia,
mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết phải tham gia BHXH, nó trở
thành quyền lợi và nhu cầu của ngời lao động và đợc thừa nhận là nhu cầu tất
yếu khách quan, một trong những quyền lợi cơ bản của con ngời nh Tuyên ngôn
nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948: Tất
cả mọi ngời, với t cách là thành viên của xã hội đều có quyền đợc hởng
BHXH ...
3.2. Tác dụng của BHXH.
Trên cơ sở cơng lĩnh công ớc Giơnevơ (Công ớc năm 1952) các quốc gia
tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh thực tế của mình mà có những hình thức tổ chức
BHXH riêng phù hợp. Tuy vậy, ở tất cả các quốc gia đều có chung một điểm là:
BHXH do Nhà nớc thống nhất và quản lý. Từ khi BHXH xuất hiện đến nay,
hoạt động này vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính cộng đồng, nhân văn lớn,
điều này cũng có nghĩa là dù kinh tế có phát triển đến mức độ nào, dù có biến
động nh thế nào về thể chế chính trị, xã hội thì bản chất BHXH vẫn không thay
đổi, vẫn là một trong những chính sách quan trọng của một quốc gia. BHXH có
những tác dụng sau:
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
a . BHXH nhằm giúp ng ời lao động ổn định cuộc sống khi họ gặp rủi ro .
Mục đích lớn nhất của BHXH là bảo đảm cuộc sống ổn định cho ngời lao
động và gia đình họ khi họ gặp rủi ro, giảm hoặc mất sức lao động ảnh hởng
đến thu nhập. Do đó, BHXH có tác dụng rất lớn đối với ngời lao động làm cho
họ yên tâm với công việc.
Nói là bảo đảm thay thế bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao động là
nói sự thay thế bù đắp đó nhất định phải xảy ra, chắc chắn xảy ra khi ngời lao
động bị rơi vào các trờng hợp làm giảm hoặc mất thu nhập nói trên và hội đủ
các điều kiện quy định thì họ đợc hởng trợ cấp với mức hởng, thời điểm và thời
gian hởng theo quy định của Nhà nớc. Ngoài ra, BHXH còn làm cho ngời lao
động gắn bó hơn với công việc, sống và làm việc có trách nhiệm hơn đối với
d. BHXH tập trung đ ợc nguồn vốn lớn cho phát triển sản xuất.
Nguồn quỹ hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia cũng là
nguồn vốn nhàn rỗi có thể dùng để đầu t vào nền kinh tế quốc dân. Quỹ BHXH
có thể có số d và phần quỹ nhàn rỗi đợc đầu t cho các chơng trình kinh tế, xã
hội, vừa đóng góp vào xây dựng đất nớc vừa làm tăng trởng quỹ. Trong điều
kiện hiện nay hoạt động này có ý nghĩa rất quan trọng.
Ngoài ra, với chức năng giám đốc của mình, BHXH tiến hành kiểm tra,
giám sát việc tham gia và thực hiện chính sách BHXH để đảm bảo thực hiện các
nghĩa vụ và quyền lợi của ngời sử dụng lao động và ngời lao động theo những
quy định của pháp luật. Qua đó tạo điều kiện để ngời lao động yên tâm làm
việc, còn ngời sử dụng lao động chủ động hơn trong việc quản lý và sử dụng lao
động trong quá trình hoạt động của mình. Chức năng giám đốc còn thể hiện ở
các khâu nghiệp vụ của hoạt động BHXH và thực hiện chính sách BHXH.
4. Nội dung cơ bản của BHXH.
4.1.Đối tợng của BHXH
BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ 19, khi nền công nghiệp và nền
kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nớc châu Âu. Từ năm
1883, ở nớc Phổ (CHLB Đức) đã ban hành đạo luật bảo hiểm y tế. Một số nớc
châu Âu và Bắc Mỹ mãi đến cuối những năm 1920 mới có đạo luật về BHXH.
BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi
do ngời lao động bị giảm hoặc bị mất khả năng lao động, bị mất việc làm vì các
nguyên nhân rủi ro nh ốm đau, tai nạn lao động, già yếu ... Chính vì vậy, đối t-
ợng của BHXH chính là thu nhập của ngời lao động bị biến động giảm hoặc
mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những ngời
tham gia BHXH.
Đối tợng tham gia BHXH là ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Tuy
vậy, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nớc mà đối tợng này
có thể là tất cả hoặc một bộ phận những ngời lao động nào đó.
Hầu hết các nớc khi mới có chính sách BHXH, đều thực hiện BHXH đối
với các viên chức Nhà nớc, những ngời làm công hởng lơng. Việt nam cũng
thống BHXH để đáp ứng nhu cầu đó. Việc đảm bảo thoả mãn nhu cầu này phải
đợc thực hiện trên cơ sở một hệ thống pháp luật với những quy định luật pháp
và chính sách thích hợp. Đồng thời phải dựa trên cơ sở một hệ thống tổ chức
BHXH phát triển thống nhất và hoạt động có hiệu quả cao. Còn có một bộ phận
lớn cha tham gia vào BHXH chứng tỏ những hạn chế của hệ thống BHXH trong
việc thực hiện nguyên tắc này. Đây là một vấn đề cần đợc giải quyết ở nớc ta
trong thời gian tới.
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
b. BHXH phải: Đảm bảo cho ngời lao động về mức thu nhập để họ có thể duy
trì đợc cuộc sống khi bị mất sức lao động tạm thời cũng nh khi hết tuổi lao
động.
c. BHXH vừa mang tính bắt buộc vừa mang tính tự nguyện.
Trớc hết BHXH phải mang tính bắt buộc, đó là quá trình tiến tới xã hội
hoá hoàn toàn BHXH và ở đây thể hiện rõ nhất vai trò của Nhà nớc trong lĩnh
vực này. Tính bắt buộc đợc thể hiện trong các nghĩa vụ tham gia và đóng góp,
bao gồm mức tiền đóng và thời gian tham gia theo mỗi chế độ của BHXH. Đó
trớc hết phải là trách nhiệm pháp lý của ngời lao động và ngời sử dụng lao
động tham gia vào BHXH vì sự an toàn của cuộc sống không chỉ của mỗi cá
nhân, một tổ chức mà đó còn phải là một sự an toàn lớn hơn đó là an toàn cả xã
hội nói chung. Tính bắt buộc này, trong hầu hết các nớc đợc thể chế hoá bằng
các chính sách, các chế độ và những quy định của Chính phủ. Đỉnh cao của
hiệu lực pháp lý này là Luật BHXH.
Mặt tự nguyện trong một chừng mực nhất định chính là việc tạo cơ hội
cho ngời lao động có nguyện vọng có thể có cơ hội và tự nguyện tham gia hay
lựa chọn các hình thức và chế độ tham gia cho phù hợp. Thực tế ở đây cần có sự
khuyến khích để ngời lao động tham gia vào BHXH. Tính tự nguyện phụ thuộc
rất nhiều vào nhận thức, ý thức của ngời lao động trong xã hội, nó có thể thực
hiện cho nhiều đối tợng và theo các loại hình khác nhau nh tự nguyện tham gia
vào một loại hình nào đó, nhất là đối với những ngời thuộc đối tợng bắt buộc,
- Cấp độ thứ nhất: BHXH áp dụng cho mọi thành viên trong xã hội, dới
hình thức nh là bảo trợ xã hội. Đối tợng đợc hởng BHXH ở đây là những ngời
không có khả năng đóng phí BHXH. Đó là những ngời nghèo, những ngời
không có thu nhập hoặc thu nhập thấp. Việc chi trả cho các đối tợng này đợc
Nhà nớc đứng ra đảm bảo.
- Cấp độ thứ 2: BHXH thực hiện đối với những ngời có công việc làm tại
các doanh nghiệp, trong các cơ quan, tổ chức Nhà nớc, Chính phủ... Họ là
những ngời có thu nhập thấp, những ngời này thuộc đối tợng bắt buộc phải
tham gia đóng phí BHXH để hình thành quỹ BHXH. Quỹ này là cơ sở tài chính
cho các chế độ BHXH mà ngời đóng góp sẽ đợc hởng. Tất nhiên trong chừng
mực nhất định họ có thể có đợc sự hỗ trợ của Nhà nớc. Những ngời này là đối t-
ợng chính, chiếm phần chủ yếu trong tổng số những ngời tham gia và đợc hởng
quyền, lợi ích của BHXH.
- Cấp độ thứ 3: BHXH mang tính tự nguyện. ở cấp độ này sẽ có những
hình thức áp dụng cho những ngời tự nguyện lựa chọn một hay một số chế độ
BHXH mà họ có nhu cầu hoặc những ngời có thu nhập cao tự nguyện lựa chọn
các mức đóng để sau đó có mức hởng tơng ứng. Chẳng hạn có thể đóng nhiều
hơn mức thông thờng để sau đó đợc hởng mức cao hơn. Ngành BHXH sẽ có chế
độ và quy định riêng cho các đối tợng này cả về quản lý và tổ chức thực hiện
cũng nh trên phơng diện hạch toán.
Nhìn vào các cấp độ thực hiện của BHXH có thể thấy rõ BHXH là một
trong những chỉ tiêu tổng hợp quan trọng đánh giá trình độ phát triển, trình độ
văn minh, sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của một quốc gia.
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Những nớc có nền kinh tế càng phát triển thì càng có điều kiện để phát triển
những hoạt động BHXH của mình ở trình độ cao hơn.
4.4. Các loại chế độ BHXH.
Theo công ớc số 102 Công ớc về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội
quy định gồm có 9 chế độ BHXH nh sau:
đi ở đầu ra với một khoản chi nh một dòng chảy liên tục. Để đảm bảo cho đầu
ra ổn định, ngời ta thiết lập một lợng dự trữ. Bởi vậy, để nắm và điều hành đợc
một quỹ nào đó thì không phải chỉ nắm đợc khối lợng của nó tại một thời điểm
mà quan trọng hơn là phải nắm đợc lu lợng của nó trong một khoảng thời gian
nhất định.
Theo những quan điểm nói trên về quỹ nói chung thì quỹ BHXH là tập
hợp những đóng góp bằng tiền của những ngời tham gia BHXH hình thành một
quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những ngời đợc BHXH khi họ bị giảm hoặc
mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm.
Nh vậy, quỹ BHXH vừa là một quỹ tiêu dùng vừa là một quỹ dự phòng.
Quỹ tiêu dùng đợc thể hiện ở mục đích chi của quỹ BHXH là cho những ngời h-
ởng BHXH, là một quỹ dự phòng thể hiện quỹ chi trả trợ cấp khi có rủi ro xảy
ra và ngời lao động có thể đợc hởng trợ cấp ở một thời điểm rất xa so với thời
điểm đóng góp. Đồng thời quỹ BHXH còn mang tính chất kinh tế và mang tính
chất xã hội cao, là điều kiện và cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn
bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.
2. Sự cần thiết của quỹ BHXH.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, ngời lao động luôn phải gánh chịu,
đơng đầu với vô vàn các rủi ro. Những rủi ro đó có thể làm cho ngời lao động
mất khả năng lao động tạm thời hay vĩnh viễn, mất nguồn sống hay chết ngời,
con cái mất nơi nơng tựa, hoặc lúc về già không còn khả năng lao động để có
thu nhập đảm bảo cuộc sống. Vì vậy, để có nguồn thu nhập duy trì, ổn định
cuộc sống của bản thân và gia đình họ trong lúc gặp rủi ro hoặc tuổi già thì tất
yếu phải lập quỹ dự trữ bảo hiểm thích hợp, đủ lớn để có thu nhập ổn định đảm
bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình trong tơng lai.
Mặt khác do quy luật bảo toàn nòi giống, duy trì lức lợng lao động cho t-
ơng lai của xã hội, những ngời lao động nữ họ còn phải làm nghĩa vụ sinh con,
nuôi con và chăm sóc khi con ốm đau ... cũng đòi hỏi phải có quỹ bảo hiẻm
giúp đỡ... Việc tạo lập quỹ BHXH cho ngời lao động những lúc gặp rủi ro bất
ngờ hoặc lúc tuổi già có thể đợc tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau. Do
Hệ thống BHXH ở các nớc trên thế giới từ trớc đến nay chủ yếu vẫn thực
hiện trên nguyên tắc: Ngời tham gia BHXH phải đóng góp cho quỹ BHXH mới
đợc hởng trợ cấp BHXH. Ngời lao động tham gia đóng góp là để bảo hiểm cho
mình, vừa thực hiện nghĩa vụ cao đẹp với cộng đồng. Thực chất ở đây ngời lao
động đã dàn trải rủi ro theo thời gian.
3.2. Sự đóng góp của ngời sử dụng lao động .
Ngời sử dụng lao động đóng góp cho quỹ BHXH để bảo hiểm cho ngời
lao động mà mình thuê mớn. Sự đóng góp này thể hiện trách nhiệm của họ đối
với ngời lao động. Đồng thời còn thể hiện chính lợi ích của ngời sử dụng lao
động. ở đây ngời sử dụng lao động san sẻ rủi ro cho nhau để khi xẩy ra rủi ro
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
đối với ngời lao động thì họ không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để bồi thờng,
vì quá trình sản xuất kinh doanh của họ không bị ảnh hởng khi ngời lao động có
nhu cầu BHXH.
3.3. Nhà nớc đóng góp và hỗ trợ.
Sự tham gia của Nhà nớc thể hiện trách nhiệm của Nhà nớc đối với các
thành viên trong xã hội. Trong hệ thống BHXH Nhà nớc có thể tham gia trực
tiếp hay gián tiếp. Sự tham gia của Nhà nớc ở đây chủ yếu dới hình thức bảo
đảm giá trị đồng vốn cho quỹ trong một số trờng hợp nh bù lỗ những khoản
thiếu hụt.
3.4. Các nguồn thu khác.
Bao gồm các nguồn thu chủ yếu sau:
- Tiền lãi, tiền lời từ các hoạt động đầu t nhằm bảo toàn và phát triển quỹ
BHXH. Nhng phải chú ý là phần vốn nhàn rỗi mới đợc mang đi đầu t. Bởi vì khi
thực hiện các hoạt động này nếu bị rủi ro thì không ảnh hởng đến phần quỹ
BHXH chi trả cho các đối tợng đợc hởng.
- Các nguồn tài trợ và viện trợ khác ở trong nớc, ngoài nớc và cộng đồng
quốc tế, kể cả các tổ chức phi Chính phủ và các cá nhân hảo tâm ... Tuy nhiên
nguồn này không ổn định và không nhiều.
- Quỹ hu trí, tử tuất.
- Quỹ TNLĐ và BNN.
- Quỹ thất nghiệp.
- Quỹ ốm đau, thai sản.
* Phân loại theo đối tợng.
- Quỹ cho công chức.
- Quỹ cho lực lợng vũ trang.
- Quỹ cho ngời lao động trong các doanh nghiệp.
- Quỹ cho các loại lao động khác.
5. Quản lý quỹ BHXH.
Chính sách BHXH không phải là hoạt động tinh thần mà nó phải giải
quyết quan hệ xã hội cụ thể. Quản lý BHXH bao gồm hai phần khăng khít:
Quản lý Nhà nớc về BHXH (mặt vĩ mô) và quản lý BHXH về mặt sự nghiệp (về
mặt thu chi tài chính, quản lý và sử dụng quỹ). ở Việt nam trớc năm 1995 quỹ
BHXH là một bộ phận của ngân sách Nhà nớc, nguồn trích lập quỹ BHXH quá
nhỏ nên không đáp ứng đợc nhu cầu chi tiêu. Việc chi trả mới đảm bảo đợc 1/5
nhu cầu, còn lại 4/5 nhu cầu do ngân sách Nhà nớc trang trải. Trên thực tế là
quỹ BHXH không tồn tại. Vì đối tợng tham gia BHXH mới chiếm tỷ lệ nhỏ
trong tổng số lao động xã hội ở nớc ta cho nên việc quản lý quỹ BHXH không
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
đảm bảo tính tập trung, thống nhất mà lại chia cắt, phân tán do nhiều chủ thể
cùng tham gia quản lý.
Đứng trớc thực trạng về quản lý quỹ BHXH nh vậy nên ngày 16/2/1995
Thủ tớng Chính phủ đã ban hành Nghị định 19/CP về việc thành lập BHXH
Việt nam.
BHXH Việt nam ra đời trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở Trung
ơng và địa phơng do Bộ LĐ- TBXH và Tổng liên đoàn lao động Việt nam quản
lý. BHXH Việt nam giúp Thủ tớng Chính phủ quản lý quỹ BHXH, thực hiện
các chính sách BHXH theo luật pháp Nhà nớc. BHXH Việt nam có t cách pháp
- Trợ cấp hu trí.
- Trợ cấp tử tuất.
- Trợ cấp y tế.
- Trợ cấp thơng tật.
2. Pháp.
a. Đối t ợng tham gia.
BHXH ở Pháp có mầm mống từ thế kỷ 19, cùng với sự phát triển của cứu
trợ công cộng và tơng hỗ. Hiện nay, đối tợng tham gia BHXH là những ngời lao
động có thu nhập trong tất cả các thành phần kinh tế (Chính phủ quy định mức
gọi là có thu nhập).
b. Quỹ BHXH.
Nguồn tài trợ quỹ BHXH đợc xác định theo một cơ chế hết sức phức tạp.
Cụ thể nh sau:
- Quỹ BH y tế, thai sản, thơng tật, chết: Sự đóng góp vào quỹ này đợc
tách biệt ra hai khoản: Đóng cho rủi ro nghề nghiệp và rủi ro phi nghề nghiệp.
Đối với rủi ro nghề nghiệp, nguồn tài trợ chính là các khoản đóng góp
trên lơng: Giới chủ đóng 12,8%, ngời lao động đóng 6,8%.
Đối với rủi ro phi nghề nghiệp khoản này đợc thu trên lơng do giới chủ
đóng toàn bộ. Tỷ lệ đóng góp đợc xác định tuỳ theo số lợng lao động trong mỗi
doanh nghiệp.
- Quỹ trợ cấp hu trí, goá bụa, trợ cấp gia đình: Nguồn tài trợ này cũng
chủ yếu từ các khoảm đóng góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao động.
Đối với trợ cấp hu trí, ngời sử dụng lao động phải đóng bằng 9,8%, ngời lao
động đóng 6,55% tiền lơng, tổng cộng 16,35%. Để đợc hởng trợ cấp goá bụa
ngời lao động còn phải đóng góp 0,1%.
Đối với trợ cấp gia đình ngời lao động, ngời sử dụng lao động phải đóng
góp toàn bộ với tỷ lệ 5,4% lơng của ngời lao động.
c. Các chế độ BHXH.
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
phát triển cũng nh các nớc đang phát triển chúng ta có thể học hỏi đợc một số
vấn đề sau:
Việc xây dựng một mô hình BHXH phải phù hợp với các điều kiện kinh
tế, xã hội của quốc gia mình. Hoạt động BHXH có thành công hay không phụ
thuộc rất nhiều vào độ chặt chẽ và tính hiệu quả của các cơ chế và chính sách
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
biện pháp thu BHXH. Có thể dễ dàng nhận ra một thực tế đó là trong bất kỳ một
thể chế kinh tế, xã hội nào thì hoạt động BHXH vẫn phụ thuộc vào ngân sách
Nhà nớc ở các mức độ khác nhau, vấn đề là phụ thuộc ít hay nhiều, điều này
còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh thực tế ở mỗi giai đoạn phát triển của mỗi quốc
gia.
Kinh nghiệm của một số nớc phát triển cho thấy việc đề ra các chính
sách BHXH phải dựa trên nguyên tắc bắt buộc, để có thể thu hút đợc ngày càng
nhiều đối tợng tham gia; vấn đề này ngày càng trở nên quan trọng bởi sự an
toàn của quỹ BHXH. Việc chi trả các chế độ BHXH căn cứ vào mức độ đóng
góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao động và đặc biệt là phụ thuộc vào
mức lơng của ngời lao động dùng làm căn cứ đóng BHXH trớc khi về hu.
Việc sử dụng các nguồn thu thuế từ lơng của ngời lao động và ngời sử
dụng lao động cho mục đích phúc lợi xã hội, đối với tất cả các công dân làm
việc trên lãnh thổ nớc mình và công dân nớc mình làm việc ở nớc ngoài nhng có
đóng thuế cho Chính phủ. Với cơ chế này, Chính phủ các nớc này cho rằng
không cần thiết có một tổ chức riêng biệt để quản lý quỹ BHXH, việc thực hiện
chi BHXH mang tính bao cấp với mục đích điều tiết thu nhập cá nhân đảm bảo
sự công bằng xã hội, vì vậy những ngời đợc hởng các chế độ BHXH đều nhận
đợc các khoản phúc lợi xã hội vợt quá mức đóng góp của mình. Mô hình xây
dựng hệ thống BHXH theo kiểu này chỉ phù hợp với điều kiện của nền kinh tế
phát triển, những nớc có mức phúc lợi xã hội cao. Trớc đây, chúng ta đã xây
dựng mô hình BHXH gần tơng tự nh mô hình này. Tuy vậy, nó đã không phù
hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế- xã hội Việt nam bởi sự bao cấp quá lớn
nhân viên chức Nhà nớc kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961. Các chế
độ BHXH bao gồm 6 loại trợ cấp: ốm đau, thai sản, TNLĐ và bệnh nghề
nghiệp, mất sức lao động, hu trí và tử tuất.
Theo Điều lệ tạm thời, quỹ BHXH đợc chính thức thành lập thuộc Ngân
sách Nhà nớc. Các cơ quan doanh nghiệp Nhà nớc chỉ nộp một tỷ lệ phần trăm
so với tổng quỹ lơng. Công nhân viên chức Nhà nớc không phải đóng góp cho
quỹ BHXH. Có thể chia giai đoạn này thành 2 thời kỳ nh sau:
Thời kỳ từ năm 1962 đến quý II năm 1964: Trong giai đoạn này Tổng
công đoàn Việt nam (nay là Tổng liên đoàn Lao động Việt nam) chịu trách
nhiệm quản lý 6 chế độ BHXH nói trên.
Thời kỳ từ quý II năm 1964 đến Nghị định 12/CP (ngày 26/1/95). Ngày
20/3/63 Chính phủ ra Nghị định 31/CP giao trách nhiệm quản lý BHXH cho 2
tổ chức: Tổng Liên đoàn Lao động Việt nam tổ chức và thực hiện 3 chế độ ngắn
hạn: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bện nghề nghiệp. Bộ Nội vụ (nay là
Bộ LĐ-TBXH) quản lý và thực hiện 3 chế độ dài hạn còn lại. Ngày 10/4/64 Hội
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
đồng Chính phủ ra Quyết định 62/CP giao nốt trách nhiệm quản lý một phần
quỹ BHXH cho Bộ Nội vụ.
Ngày 22/6/93 Chính phủ ban hành Nghị định 43/CP quy định tạm thời
các chế độ BHXH. Đây là một bớc đệm trớc hết nhằm xoá bỏ t duy bao cấp để
lại trong lĩnh vực BHXH. Nghị định này đã quy định rõ đối tợng tham gia, đối
tợng hởng, các chế độ nguồn hình thành quỹ BHXH. Nghị định này ra đời, nói
chung là phù hợp nguyện vọng của ngời lao động ở các thành phần kinh tế và
phù hợp với công cuộc đổi mới kinh tế nớc ta.Tuy nhiên do tình hình kinh tế
còn gặp nhiều khó khăn, số lợng hởng chính sách BHXH lao động lại đông, vì
vậy chính sách BHXH này cha thể hoàn toàn hợp lý và để BHXH đáp ứng đợc
nhu cầu của ngời dân, đảm bảo an toàn cuộc sống cho họ. Điều này đợc biểu
hiện ở những hạn chế sau:
- Các chính sách BHXH cũ đợc thực hiện ở phạm vi đối tợng hạn hẹp
- Trợ cấp thai sản.
- Trợ cấp TNLĐ -BNN.
- Trợ cấp hu trí.
- Trợ cấp tử tuất.
Quy định các đối tợng sau đây phải áp dụng các chế độ BHXH bắt
buộc:
+ Ngời lao động làm việc trong các cơ quan Nhà nớc.
+ Ngời lao đông làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh có sủ dụng từ 10 lao động trở lên.
+ Ngời lao động Việt nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu t
nớc ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp, trong các cơ quan, tổ chức nớc ngoài
hoặc tổ chức quốc tế tại Việt nam, trừ trờng hợp điều ớc Quốc tế mà nớc Cộng
hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
+ Ngòi lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ
quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, Đoàn thể.
+ Ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ
thuộc lực lợng vũ trang .
+ Ngời giữ chức vụ dân cử, dân bầu làm việc trong các cơ quan quản lý
Nhà nớc, Đảng, Đoàn thể từ Trung ơng đến cấp huyện.
+ Công chức, viên chức Nhà nớc làm việc trong các cơ quan hành chính
sự nghiệp, cơ quan Đảng Đoàn thể từ Trung ơng đến cấp huyện.
Các đối tợng trên đi học, thực tập,công tác, điều dỡng trong và ngoài nớc
mà vẫn hởng lơng hoặc tiền công thì cũng thuộc đối tợng thực hiện BHXH bắt
buộc.
25