MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: Lý thuyết chung về tăng trưởng
và bất bình đẳng thu nhập ..................................................................... 2
1.1. Tăng trưởng kinh tế ........................................................................................ 2
1.1.1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế ............................................................. 2
1.1.2. Đo lường tăng trưởng kinh tế ................................................................... 2
1.2. Phân phối thu nhập và cách đo lường phân phối thu nhâp ....................... 2
1.2.1. Khái niệm phân phối thu nhập và bất bình đẳng thu nhập ........................ 2
1.2.2. Nguyên nhân gây nên tình trạng bất bình đẳng thu nhập ......................... 3
1.2.3. Thước đo về bất bình đẳng thu nhập ........................................................ 4
1.3. Lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập ..................................................................................... 6
1.3.1. Lý thuyết học thuyết kinh tế cổ điển ....................................................... 6
1.3.2. Lý thuyết của Mac ................................................................................... 7
1.3.3. Lý thuyết của Keynes .............................................................................. 8
1.3.4. Lý thuyết của trường phái “sau Keynes” và kinh tế vĩ mô hiện đại .......... 9
1.3.4.1. Lý thuyết của trường phái “sau Keynes” ......................................... 9
1.3.4.2. Lý thuyết của A.Lewis ....................................................................... 9
1.3.4.3. Mô hình chữ U ngựơc của Simon Kuznet ...................................... 10
1.3.5. Lý thuyết của các nhà kinh tế học hiện đại ............................................. 11
1.3.6. Nhận xét chung về mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng thu
nhập. ................................................................................................................ 14
CHƯƠNG 2: Thực trạng tăng trưởng và bất bình đẳng
thu nhập của Việt Nam ......................................................................... 16
2.1. Thực trạng tăng trưởng kinh tế ................................................................. 16
2.1.1. Thành tựu về tăng trưởng kinh tế .......................................................... 16
2.1.2. Những mặt hạn chế của tăng trưởng kinh tế ........................................... 23
2.2. Thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam ....................................... 24
2.3. Đánh giá mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu
nhập ở Việt Nam .................................................................................................. 25
cải thiện. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế với những chuyển biến tích cực từ nông
nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ, xuất nhập khẩu tăng, kim ngạch xuất nhập khẩu
dần được cải thiện, mở rộng quan hệ ngoại thương với nước ngoài… Những thành
tựu về tăng trưởng này đã góp phần tạo điều kiện giúp phân phối thu nhập được công
bằng hơn, công cuộc xoá đói giảm nghèo được thực hiện tốt hơn. Tuy nhiên tăng
trưởng kinh tế cao cũng đem lại những kết quả xấu cho vấn đề bất bình đẳng thu
nhập, phân hoá giàu nghèo tăng lên, khoảng cách thu nhập doãng ra. Tại sao ở Việt
Nam lại xảy ra tình trạng như vậy?
Để trả lời cho câu hỏi ở trên đề tài sẽ đi nghiên cứu những lý thuyết cơ bản về
tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập, thực trạng tăng trưởng và phân phối
thu nhập ở Việt Nam, những thành tựu, những mặt hạn chế, yếu kém, đi tìm hiểu
nguyên nhân của nó. Gắn lý thuyết với những vấn đề thực tiễn ở Việt Nam, từ đó tìm
ra giải pháp đúng đắn nhất cho vấn đề tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập nhằm
mục tiêu tăng trưởng kinh tế xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân,
giảm chênh lệch giàu nghèo đưa đất nước tiến lên, phát triển bền vững.
1
CHƯƠNG 1: Lý thuyết chung về tăng trưởng
và bất bình đẳng thu nhập
1.1. Tăng trưởng kinh tế
1.1.1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia hoặc quy mô
sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người qua một thời gian nhất định.
Có thể nói bản chất của tăng trưởng kinh tế là sự đảm bảo sự gia tăng cả quy
mô sản lượng và sản lượng bình quân đầu người.
1.1.2. Đo lường tăng trưởng kinh tế
Đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế ta sử dụng công thức sau:
Y
t
- Y
thu nhập, đó là bất bình đẳng thu nhập do lao động và bất bình đẳng thu nhập từ tài
sản. Ta sẽ đi sâu tìm hiểu về từng nguyên nhân.
Thứ nhất là bất bình đẳng thu nhập do lao động. Lao động khác nhau đem lại
thu nhập khác nhau do những lý do chủ yếu sau đây:
Sự khác biệt mang tính đền bù là khoản chênh lệch về tiền lương phát sinh
nhằm bù đắp cho các đặc điểm phi tiền tệ của các công việc khác nhau.
Vốn nhân lực là sự tích luỹ đầu tư trong mỗi con người, ví dụ như học vấn và
kinh nghiệm làm việc. Các lao động với nhiều vốn nhân lực sẽ kiếm được nhiều tiền
hơn những lao động với ít vốn nhân lực Thực tế có sự khác biệt mang tính đền bù
giữa những lao động có trình độ học vấn và những lao động không có trình độ học
vấn nhằm bù đắp cho chi phí của việc đi học.
Năng lực, nỗ lực và cơ hội có thể giúp lý giải cho sự khác biệt về thu nhập. Một
số người này thông minh hơn và khỏe mạnh hơn những người khác và họ được trả
lương theo năng lực tự nhiên của họ. Một số lao động làm việc vất vả hơn những
người khác và họ được đền bù cho những cố gắng của họ. Cơ hội cũng đóng một vai
trò nhất định, trong đó trình độ học vấn và kinh nghiệm của một cá nhân nào đó có
thể trở nên vô nghĩa nếu sự thay đổi công nghệ làm cho công việc của cá nhân đó
không cần nữa.
Quan điểm vốn nhân lực về trình độ học vấn cho rằng, những lao động với trình
độ học vấn cao hơn được trả lương cao hơn bởi vì học vấn làm cho họ có năng suất
cao hơn. Theo quan điểm vốn nhân lực về trình độ học vấn, một chính sách nhằm làm
tăng trình độ học vấn của người lao động sẽ làm tăng tiền lương của họ. Theo quan
điểm phát tín hiệu về học vấn, trình độ học vấn cao hơn không có ảnh hưởng gì đến
năng suất hay tiền lương. Có bằng chứng cho thấy rằng học vấn không làm tăng năng
suất và tiền lương, do vậy trình độ học vấn có thể chỉ là một tín hiệu phản ánh năng
lực của người lao động. Những lợi ích đem lại từ việc đi học có lẽ là một sự kết hợp
giữa các hiệu ứng phát tín hiệu và hiệu ứng tư bản con người.
Thứ hai là bất bình đẳng thu nhập từ tài sản. Nó xuất phát từ nguồn lực tự có
của mỗi người, từ những tài sản mà họ đang nắm giữ, những tài sản này có được có
thể là từ tiết kiệm tích lũy nên, có thể là do đầu tư, kinh doanh mà sinh lời hoặc đơn
giữa đường cong phân phối Lorenz và đường bình đẳng tuyệt đối (A), mẫu số là tổng
diện tích nằm dưới đường bình đẳng tuyệt đối (A+B).
Thứ hai là phương pháp chỉ số Theil
4
Là số thống kê đo lường sự bất bình đẳng về kinh tế do nhà thống kê toán Henri
Theil xây dựng. Công thức tính như sau:
Trong đó xi là thu nhập của người thứ i, x là thu nhập trung bình, N là số người.
Số hạng đầu bên trong dấu ngoặc là tỷ trọng của thu nhập cá nhân đó so với thu nhập
trung bình. Nếu tất cả mọi người đều có thu nhập như nhau (bằng thu nhập trung
bình) thì khi đó chỉ số này sẽ bằng 0. Nếu một người có tất cả thu nhập thì khi đó chỉ
số này bằng lnN
Một ưu điểm của chỉ số Theil là có thể phân rã được, theo nghĩa đó là tổng bình
quân gia quyền của sự bất bình đẳng trong các nhóm.
Thứ ba, tỷ số giữa thu nhập tiêu dùng của 20% dân số giàu nhất và 20% dân
số nghèo nhất của một nước
Tỷ số giữa thu nhập tiêu dùng của 20% dân số giàu nhất và 20% dân số nghèo
nhất của một nước là tỷ số trong đó tử số là thu nhập/tiêu dùng trên đầu người của
nhóm 20% người giàu nhất và mẫu số là thu nhập/tiêu dùng đầu người của nhóm
người nghèo nhất. Cũng có thể thay số 20% bằng một con số phần trăm khác. Đây là
một đại lượng được sử dụng rất phổ biến ở cả các nước phát triển và đang phát triển.
Hạn chế chính của thước đo xác định sự bất bình đẳng này là bỏ qua thu
nhập/tiêu dùng của 60% dân số có mức thu nhập/tiêu dùng trung bình và nó cũng
không tính đến sự phân bố thu nhập/tiêu dùng trong các nhóm người nghèo nhất và
giàu nhất.
Thứ tư, tỷ trọng thu nhập/tiêu dùng của x% người nghèo nhất
Một điểm bất lợi của cả hệ số Gini và chỉ số Theil là chúng thay đổi khi phân
phối thu nhập thay đổi, bất kể sự thay đổi đó xảy ra ở nhóm có thu nhập nào, nhóm
có thu nhập cao nhất, trung bình hay thấp nhất (chúng thay đổi khi có bất kỳ sự
chuyển giao thu nhập nào giữa hai cá nhân). Vì vậy chỉ tiêu đo lường tỷ trọng thu
mở rộng khu vực công nghiệp, tăng tỷ trọng đầu tư cho công nghiệp để nền kinh tế
tiếp tục tăng trưởng. Khu vực này có nhiệm vụ giải quyết lao động thất nghiệp trá
hình của khu vực nông nghiệp bằng cách chuyển bộ phận này sang khu vực của
mình. Ricardor còn cho rằng do khu vực nông nghiệp dư thừa lao động vì vậy có thể
lôi kéo lao động từ nông nghiệp sang mà không phải tăng lương cho bộ phận này.
Khu vực công nghiệp sẽ có lợi nhuận biên tăng dần theo quy mô và sẽ kéo theo sự
6
tăng trưởng kinh tế, đi cùng với nó là sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập giữa nông
nghiệp và công nghiệp. Thêm vào đó ông ủng hộ quy luật sắt về tiền lương, điều này
sẽ dẫn đến tình trạng tăng trưởng đi đôi với bất bình đẳng tăng cao.
1.3.2. Lý thuyết của Mac
Xác định rõ các khái niệm về phân phối kết quả sản xuất và thu nhập, C.Mac đã
chỉ ra rằng tổng sản phẩm xã hội trước hết phải bù đắp lại những tư liệu sản xuất đã
tiêu dùng, phần giá trị mới tạo ra được phân phối theo những nguyên tắc sau:
Để xã hội có thể tồn tại, về lượng không thể phân phối cho tiêu dùng cá nhân
vượt quá khối lượng thu nhập của xã hội
Trong mọi chế độ xã hội, phân phối thu nhập trước hết phải có vai trò đảm bảo
tái sản xuất lại sức lao động của xã hội
Một bộ phận thu nhập phải được sử dụng để thực hiện tích luỹ mở rộng sản
xuất.
Một bộ phận sản phẩm thặng dư chỉ đại biểu cho lao động mới được thêm vào,
được dùng làm quỹ bảo hiểm… Đó là bộ phận của thu nhập không được dùng với tư
cách là thu nhập và cũng không nhất thiết phải dùng làm tích luỹ
Theo C.Mac, phân phối thu nhập có hai hình thức đó là phân phối thu nhập
quốc dân lần đầu và phân phối lại. Phân phối lần đầu trong xã hội tư bản chủ nghĩa
được chia làm hai phần. Phần thứ nhất, người lao động nhận được tiền công. Phần
thứ hai là thu nhập của nhà tư bản và địa chủ. Nếu như tiền công của công nhân chỉ
đủ sống cho bản thân và cho gia đình họ thì phần thu nhập của nhà tư bản và địa chủ
còn tích luỹ một phần để tái sản xuất mở rộng. Từ đó nhà tư bản mở rộng sản xuất,
tăng lợi nhuận và ngày càng giàu lên còn người công nhân thì ngày càng nghèo đi.
Ông còn đưa ra mô hình số nhân đầu tư về mối quan hệ giữa gia tăng thu nhập
và gia tăng đầu tư. Mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo sự gia tăng của cầu bổ
sung công nhân, cầu về tư liệu sản xuất, do vậy làm tăng cầu về tiêu dùng, tăng việc
làm cho công nhân và làm cho thu nhập tăng lên. Như vậy việc tăng đầu tư sẽ kích
thích tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và từ đó làm tăng thu nhập. Tăng thu nhập
cũng sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế bởi tăng thu nhập sẽ làm tăng tiết kiệm, tăng
đầu tư, từ đó tạo nên tăng trưởng kinh tế.
Quan điểm của Keynes là cần phải điều chỉnh để tăng đầu tư, kích thích tăng
trưởng. Vì vậy chủ trương chính sách mà ông đưa ra là sử dụng thuế để điều tiết nền
kinh tế. Ông cho rằng đối với người lao động thì cần phải tăng thuế để điều tiết bớt
một phần tiết kiệm từ thu nhập của họ, đưa phần này vào ngân sách nhà nước để mở
rộng đầu tư. Còn đối với nhà kinh doanh thì phải giảm thuế để nâng cao hiệu quả của
8
tư bản, khuyến khích nhà kinh doanh tích cực đầu tư phát triển. Điều này đã tạo ra sự
phân phối thu nhập bất bình đẳng gia tăng cùng với mức độ tăng trưởng cao.
1.3.4. Lý thuyết của trường phái “sau Keynes” và kinh tế vĩ mô hiện đại
1.3.4.1. Lý thuyết của trường phái “sau Keynes”
Vấn đề tăng trưởng và phân phối thu nhập dường như đã chiếm vị trí trung tâm
trong các lý thuyết của trường phái “sau Keynes”. Các nhà kinh tế học thuộc trường
phái này đã khẳng định nhịp độ tăng trưởng sản xuất phụ thuộc vào vấn đề phân phối
thu nhập quốc dân, lượng thu nhập và lượng tiết kiệm, còn tổng lượng tiết kiệm là
tổng số tiết kiệm từ tiền lương và lợi nhuận. Do “khuynh hướng tiết kiệm” giữa
những người nhận tiền lương và những người nhận lợi nhuận là khác nhau nên sự
thay đổi trong phân phối sẽ ảnh hưởng đến tổng lượng tiết kiệm. Thêm vào đó, phân
phối thu nhập quốc dân còn là hàm số của tích lũy tư bản. Nhịp độ tích lũy tư bản xác
định tỷ suất lợi nhuận và phần lợi nhuận trong thu nhập quốc dân. Phần tiền lương
được xác định như là lượng còn lại của thu nhập quốc dân.
Tư tưởng đã xác lập mối quan hệ giữa phân phối thu nhập quốc dân và nhịp độ
tăng trưởng của nó cũng như việc vạch rõ mối quan hệ giữa tiết kiệm và phân phối
thu nhập trong các giai cấp xã hội, tạo khả năng gắn lý luận với thực tiễn phát triển
trưởng kinh tế mà còn là điều kiện cần thiết cho tăng trưởng kinh tế, các cố gắng để
phân phối lại thu nhập một cách hấp tấp vội vã cũng làm mất đi động lực tăng trưởng
kinh tế; bất bình đẳng là điều kiện để người giàu tăng tích luỹ, tăng đầu tư, từ đó kích
thích tăng trưởng kinh tế, tạo thu nhập cao hơn.
1.3.4.3. Mô hình chữ U ngựơc của Simon Kuznet
Dựa vào số liệu của các nước có mức thu nhập giàu, nghèo khác nhau trong thời
kỳ dài, Kuznet đã chỉ ra mối quan hệ giữa tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu
người và sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Ông cho rằng mối quan hệ giữa
tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người và sự bất bình đẳng trong phân phối
thu nhập có dạng chữ U ngược.
10
Hệ số Gini
GDP/người
Mô hình chữ U ngược đã chỉ ra sự bất công về thu nhập sẽ tăng lên từ nước có
thu nhập thấp tới nước có thu nhập vừa và giảm từ nước có thu nhập vừa tới nước có
thu nhập cao.
Theo Kuznet ở một nước nghèo, mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu
nhập thấp, thể hiện ở hệ số Gini khá nhỏ (hệ số Gini khoảng 0.2-0.3). Nhưng khi nền
kinh tế tăng trưởng hơn, thu nhập tính theo đầu người tăng lên thì sự bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập cũng tăng lên và đạt cực đại ở mức trung bình của thu nhập.
Sau đó mặc dù nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng, thu nhập bình quân đầu người tiếp
tục tăng nhưng sự không công bằng trong phân phối thu nhập sẽ giảm dần cho đến
khi thu nhập bình quân đầu người đạt đến mức đặc trưng của một nước công nghiệp
phát triển.
Mặc dù mô hình chữ U ngược của Simon Kuznets cho đến nay vẫn còn đúng và
được công nhận ở nhiều nước nhưng mô hình này mới chỉ ra được những nhận định
từ việc quan sát nhịp độ tăng trưởng của các nước chứ chưa giải thích được nguyên
nhân nào tạo ra sự thay đổi về mức độ bất bình đẳng trong quá trình phát triển và liệu
có cách nào để hạn chế mức độ bất bình đằng trong quá trình phát triển không.
lực ít. Phân phối lại làm tăng tổng đầu ra và tăng trưởng vì nó cho phép người nghèo
đầu tư vào vốn nhân lực. Nếu thị trường vốn có khuynh hướng cải tạo phát triển kinh
tế, tiếp đó những tác động từ thị trường vốn không hoàn hảo là quan trọng đối với
người nghèo hơn là đối với người giàu. Theo đó, tác động có thể biết trước này của
bất bình đẳng thu nhập đối với tăng trưởng kinh tế sẽ gây tầm ảnh hưởng đối với
người nghèo lớn hơn đối với người giàu. Điều này nhấn mạnh rằng thị trường vốn
không hoàn hảo thực sự phù hợp để giải thích mối quan hệ giữa tỷ lệ nghèo và tăng
trưởng kinh tế. Trong khi bất bình đẳng cao hơn không phải luôn đưa đến kết cục lợi
ích thu được từ tín dụng tăng lên của phần đa những người nghèo, tỷ lệ nghèo cao
hơn nghĩa là có nhiều người phải chịu tín dụng bắt buộc hơn. Để lấy ví dụ, bất bình
12
đẳng thu nhập trong nền kinh tế có thể cao hơn cho dù tất cả mọi người trong nền
kinh tế đều có cuộc sống đầy đủ. Vì vậy, chúng ta nên chấp nhận mối quan hệ ngược
chiều giữa tỷ lệ nghèo và tăng trưởng kinh tế.
Kết hợp kinh tế (Benabou, 1996), vấn đề này có tác động tới phân phối lại
trong quá trình tăng trưởng. Ở đây ta sẽ thấy có hai hiệu ứng trái ngược nhau. Phân
phối lại là tốt nếu như tiêu dùng công tài trợ nhiều hơn cho giáo dục với điều kiện thị
trường vốn không hoàn hảo, và phân phối lại sẽ mang tác động tiêu cực nếu chỉ
chuyển đổi thu nhập từ người giàu sang người nghèo vì điều này sẽ làm giảm ý muốn
làm việc và đầu tư của người giàu.
Chính trị xã hội bất ổn định (Fay, 1993; Grossman và Kim, 1996; Benhabib
và Rustichini, 1996; Alesina, 1996) lý thuyết này nhấn mạnh hậu quả của bất bình
đẳng trong điều kiện bất ổn về chính trị, xã hội. Lý thuyết này cho thấy bất bình đẳng
là yếu tố quyết định của sự mất ổn định chính trị-xã hội, bất bình đẳng gây ra tác
động ngược chiều đối với tăng trưởng, hạn chế tăng trưởng thông qua việc làm giảm
ý muốn đầu tư. Tất nhiên bất bình đẳng còn làm tăng mức độ trầm trọng, làm gia
tăng xung đột và mâu thuẫn trong xã hội, tài sản luôn ở trong tình trạng ít an toàn
nhất và tăng trưởng cũng giảm. Hơn thế nữa là tình trạng tội phạm gia tăng ở người
nghèo, tình trạng tài nguyên bị phá huỷ, tương lai sẽ bị mất đi nguồn lực. Có thể thấy
chính trị xã hội mất ổn định gây tác động xấu đến tăng trưởng của một quốc gia, làm
ra theo nhiều chiều. Tăng trưởng kinh tế cao sẽ gây nên tình trạng bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập cũng tăng cao. Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế cao lại là điều
kiện giúp giảm bớt bất bình đẳng thu nhập. Và ngược lại bất bình đẳng phân phối thu
nhập là một nhân tố cần thiết cho quá trình tăng trưởng kinh tế, nó sẽ hỗ trợ cho kinh
tế tăng trưởng với tốc độ cao. Tuy nhiên nếu tình trạng bất bình đẳng kéo dài, có xu
hướng gia tăng sẽ lại trở thành chướng ngại cho tăng trưởng.
Thứ hai, tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập tác động tới nhau thông
qua những kênh truyền dẫn sau:
• Đầu tư, tiết kiệm; tỷ lệ đầu tư, tiết kiệm cao sẽ làm cho tăng trưởng cao,
tuy nhiên để tăng tiết kiệm, tăng đầu tư thì bất bình đẳng thu nhập cũng phải tăng
theo. Ở đây dường như có sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng thu
nhập, muốn có tăng trưởng thì phải chấp nhận bất bình đẳng thu nhập. Nhưng đầu tư
kích thích tăng trưởng kinh tế lại trở thành điều kiện giúp giảm thiểu bất bình đẳng
thu nhập. Trong đầu tư, cơ cấu đầu tư cũng là một nhân tố quyết định. Việc chuyển
dịch cơ cấu từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, quá trình đô thị hoá
tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế cao nhưng nó cũng gây ra tình trạng bất bình
đẳng phân phối thu nhập giữa các vùng, các ngành. Và một vấn đề nữa gặp phải là
nếu như đầu tư không đúng cách, cơ cấu đầu tư không hợp lý thì kinh tế sẽ tụt hậu,
tăng trưởng thấp trong khi đó bất bình đẳng thu nhập lại tăng cao.
14
• Đầu tư cho giáo dục nâng cao trình độ học vấn, nhận thức, trình độ tay
nghề cho người lao động. Đầu tư cho giáo dục phải chú ý nâng cao cả về số lượng và
chất lượng, mở rộng quy mô giáo dục, đầu tư chiều sâu, tăng khả năng tiếp cận với
công nghệ tiên tiến, ... để tạo nên một nguồn lực lao động lớn, chất lượng tốt, góp
phần tạo nên một nền kinh tế phát triển. Từ đó thu nhập cũng được cải thiện, bất bình
đẳng thu nhập giảm đi.
• Kênh truyền dẫn tín dụng, người nghèo ít có khả năng được tiếp cận với
tín dụng do những ràng buộc về điều kiện vay vốn. Họ ít có được cơ hội đầu tư cho
sản xuất kinh doanh, đầu tư cho giáo dục để cải thiện cuộc sống. Có thể nói nếu
những chính sách hỗ trợ về vay vốn tín dụng là hợp lý, thì thông qua nó ta có thể giúp
- Về tốc độ tăng trưởng.
Từ khi đổi mới chính sách kinh tế (năm1986) đến nay nền kinh tế Việt Nam đã
trải qua nhiều biến động tuy nhiên điều đáng nói ở đây là Việt Nam đã vượt qua tình
trạng khó khăn và đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liền.
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam 1986-2008
Nguồn: Niên giám thống kê
Giai đoạn1986-1990, đây là giai đoạn đầu của quá trình đổi mới, nền kinh tế
gặp phải rất nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng còn thấp, chỉ đạt mức 4.9%/năm. Tuy
16
nhiên đây cũng là giai đoạn mở đầu cho sự thay đổi cơ cấu kinh tế, mở ra cho đất
nước một giai đoạn mới với nhiều thành tựu.
Giai đoạn 1991-1995, với động lực của tăng trưởng kinh tế là công nghiệp. Tốc
độ tăng trưởng kinh tế luôn được cải thiện và ở mức cao, đạt tới đỉnh điểm là 9.5%
(1995) mức tăng trưởng cao nhất đạt được từ trước tới giờ. Giai đoạn cũng đánh dấu
những bước đầu tiên của chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Giai đoạn 1996-2000, khoảng thời gian tốc độ tăng trưởng kinh tế có chiều
hướng đi xuống, do chịu ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, tốc độ tăng
trưởng trung bình mỗi năm chỉ đạt 7%/năm giảm so với giai đoạn trước
Giai đoạn từ 2001 cho đến nay tăng trưởng kinh tế nước ta đã đạt được những
bước tiến mới. Thời kỳ 2000-2007, sau khi cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu
Á đã lắng xuống, cùng với các chương trình cải cách hướng vào cải tổ cơ cấu kinh tế,
bao gồm thúc đẩy phát triển khu vực ngoài quốc doanh, huy động nguồn lực tiết kiệm
trong dân cư… tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn này đạt tới 7.55%/năm.
Năm 2008 mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng tốc
độ tăng GDP vẫn đạt 6.23%.
Tăng trưởng kinh tế cao, theo đó thu nhập bình quân đầu người cũng tăng. Nếu
như năm 1995 thu nhập bình quân đầu người chỉ ở mức 289 USD/người/năm, thì
năm 2005 đã tăng lên thành 639 USD/người/năm, năm 2007 là 835 USD/người/năm
và đến năm 2008 đã là 1024 USD/người/năm. Mức thu nhập này đã đưa Việt Nam
thoát khỏi ngưỡng thu nhập của các nước nghèo, kém phát triển, đời sống người dân
số ngành công nghiệp nặng. Theo đó, các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế
biến nông, lâm, thuỷ sản được phát triển mạnh. Công nghiệp nặng được phát triển tập
trung hơn vào các ngành điện lực, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, hoá chất, khai
thác khoáng sản… Cùng với quá trình đổi mới công nghệ và mở rộng quy mô của các
doanh nghiệp hiện có, hàng loạt doanh nghiệp mới với trình độ kỹ thuật hiện đại đã
làm thay đổi bộ mặt công nghiệp của đất nước.
Tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ trong GDP cũng có xu hướng tăng lên và
ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế. Hoạt động dịch vụ với trình
độ công nghệ ngày càng hiện đại phục vụ thiết thực yêu cầu của sản xuất, và đời sống
nhân dân. Các loại hình dịch vụ được phát triển đa dạng, bên cạnh loại hình dịch vụ
truyền thống, hàng loạt loại hình dịch vụ mới đã ra đời phù hợp với yêu cầu của nền
kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Cũng nhờ sự phát triển của các ngành
công nghiệp mà các ngành thương mại – dịch vụ, giao thông vận tải cũng có điều
18
kiện phát triển mạnh mẽ hơn, tạo điều kiện cho các loại hình dịch vụ khác phát triển
theo.
- Về đóng góp của các thành phần kinh tế
Từ Đại hội VI (1986), Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện trong đó có
đổi mới kinh tế, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Nhờ đó, tiềm năng của xã
hội được khai thác, phát huy được nội lực của đất nước và huy động được nguồn lực
từ bên ngoài một cách tốt nhất. Từ đó đến nay đất nước đã có những chuyển biến tích
cực và khởi sắc.
Bảng 2: cơ cấu thành phần kinh tế trong GDP của Việt Nam
tỷ trọng trong GDP tốc độ tăng trưởng
Kinh tế
nhà nước
Kinh tế
ngoài nhà
nước
Kinh tế
19
Kết quả của việc chuyển dịch cơ cấu hoạt động sản xuất nông nghiệp sang công
nghiệp và dịch vụ cũng làm cho cơ cấu lao động dịch chuyển theo. Lao động trong
nông nghiệp giảm từ 73.02% từ những năm 90 xuống còn 71.25% vào năm 95, tiếp
tục giảm xuống còn 65.09% vào năm 2000 và chỉ còn 56.8% vào năm 2005, thay vào
đó là sự tăng lên của lao động tham gia vào các ngành công nghiệp và dịch vụ. Cơ
cấu lao động nước ta đã có những bước chuyển biến tích cực.
Bảng 3: Cơ cấu lao động Việt Nam phân theo nhóm ngành kinh tế
1990 1995 2000 2005
NN 73.02 71.25 65.09 56.8
CN 11.24 11.36 13.11 17.9
DV 15.74 17.38 21.8 25.3
Nguồn: Tổng cục thống kê
Có thể thấy cơ cấu lao động chia theo ngành kinh tế đã có những chuyển biến
tích cực, lao động dần chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và
dịch vụ. Cơ cấu lao động (NN-CN-DV) chia theo ngành kinh tế giữa các vùng cũng
có sự chuyển biến tích cực. Mặc dù vậy trong số các vùng, Đông Nam bộ vẫn là vùng
có cơ cấu lao động tiến bộ nhất (27.8%, 30.9%, 41.3%), lạc hậu nhất là vùng Tây bắc
(84.9%, 5.2%%, 9.9%) và Tây Nguyên (72.9%, 8.1%, 19%)
Chia theo loại hình kinh tế, nhờ những chính sách khuyến khích phát triển kinh
tế nhiều thành phần, phát triển khu vực kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài đã tạo nên sự dịch chuyển lao động theo thành phần kinh tế. Cho đến năm
2005 cả nước có 4413 nghìn người làm việc ở khu vực Nhà nước, chiếm 10.2%,
38355.7 nghìn người làm việc ở khu vực ngoài Nhà nước, chiếm 88.2% còn lại là số
người làm việc ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Có thể thấy cơ cấu lao động
chia theo thành phần kinh tế đã có sự chuyển dịch từ khu vực kinh tế Nhà nước sang
khu vực kinh tế ngoài nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
- Về đầu tư
Cho đến năm 2008, vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế ước tính đạt 673.3
nghìn tỷ đồng, bằng 43.1% GDP và tăng 22.2% so với năm 2007. Khu vực nhà nước
quả cao. Nếu tính nguồn vốn đăng ký thì năm 2008 đã thu hút được nguồn vốn lên tới
64 tỷ USD, gấp 3 lần so với năm 2007. Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 11.5 tỷ
USD, tăng 43.2% so với năm 2007. Mặc dù khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang
đóng góp ngày càng tăng vào tăng trưởng và kết quả đầu tư đã tạo ra giá trị gia tăng
cao hơn, nhưng đầu tư của khu vực này vẫn tập trung trong một số ngành dựa vào
khai thác tài nguyên như dầu khí và một số ngành tập trung vốn, được bảo hộ cao
như lắp ráp ô tô, xe máy, sản xuất thép, xi măng.
- Về xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho Việt Nam phát triển, mở
rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thời kỳ 1991-1995 là 39.88 USD Nhưng hai
năm 1996-1997 đã là 38.55 tỷ USD. Và cho đến năm 2008 đã nhanh chóng tăng lên
136.6 tỷ USD, gấp 3.5 lần so với thời kỳ năm 1996-1997.
Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam
21
0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
70000
80000
90000
1990 1995 2000 2003 2005 2006 2007 2008
XK
NK
với một cơn khủng hoảng kinh tế mới, lạm phát tăng cao, nền kinh tế có dấu hiệu
giảm sút trong năm 2009, điều này chứng tỏ kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều yếu
điểm, dễ rơi vào khủng hoảng, suy thoái.
Kinh tế tăng trưởng chủ yếu là theo chiều rộng, chủ yếu nhờ vào sự đóng góp
của nguồn nhân lực rồi dào và từ nguồn vốn, yếu tố công nghệ còn chiếm một tỷ
trọng thấp trong tăng trưởng kinh tế.
Bảng 5: Đóng góp của các yếu tố đầu vào trong tăng trưởng GDP theo tỷ lệ %
thời kỳ 1993-1997 1998-2002 2003-2006
Vốn 69.3 57.4 52.73
Lao động 15.9 20.0 19.07
TFP 14.8 22.6 28.2
Nguồn: Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương và Thời báo kinh tế Việt Nam
Mặc dù chất lượng tăng trưởng đã được cải thiện, mức độ đóng góp của yếu tố
tổng hợp TFP trong GDP đã tăng lên từ 14.8% (thời kỳ 1993-1997) lên 28.2% (thời
kỳ 2003-2006), tuy nhiên tăng trưởng do yếu tố vốn và lao động vẫn còn chiếm tỷ
trọng lớn, chiếm tới gần 3/4 tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng GDP. So sánh với các
nước trong khu vực thì tỷ lệ đóng góp của TFP vào tăng trưởng hàng năm của Việt
Nam còn thấp hơn rất nhiều, như Thái Lan tỷ lệ này là 35%, của Philippin là 41%,
của Indonesia là 43%.
Thu nhập bình quân đầu người của nước ta đã được cải thiện nhiều nhưng nó
vẫn ở mức thấp, thấp hơn nhiều so với các nước trên thế giới. Mức lương tối thiểu
năm 2008 mới chỉ ở mức 540.000 đồng/tháng. Bên cạnh đó nền kinh tế liên tục gặp
những khó khăn và thách thức lớn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới và
do tự chính bản thân nền kinh tế trong năm 2008 và 2009 đã khiến cho đời sống nhân
dân trở nên bấp bênh, đặc biệt là đối với tầng lớp dân nghèo.
- Chất lượng đầu tư còn thấp.
23