Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
MỤc lỤC:
I) Lời mở đầu...................................................................2
II) Nội dung......................................................................5
1) Thực trạng an sinh xã hội ở Việt Nam ...................5
2) Mục tiêu an sinh xã hội ở Việt Nam.......................10
3) Các giải pháp cứu trợ của Việt Nam......................15
a) Chính sách cứu trợ...........................................16
b) tình hình cứu trợ...............................................18
III) Kết luận....................................................................21
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
I) LỜI MỞ ĐẦU
Muốn hay không, chúng ta phải công nhận một thực tế rằng: đất nước
của chúng ta có an ninh, ổn định, nhưng rất thiếu an sinh xó hội.
Ở Trung Đông cuộc ngừng bắn mong manh lúc nào cũng có khả năng bị
đứt góy bởi tiếng hỏa tiễn và xe bọc thộp; bom nổ ở bất kỳ nơi nào: chợ, công
sở, đồn cảnh sát... trên đất Iraq; tại các thành phố lớn châu Âu và Bắc Mỹ cả
chục chuyến bay hủy đột ngột, những người dân của các nước giàu có nhất
thế giới sống mà nơm nớp lo sợ bị khủng bố...
Trong lúc đó tại Việt Nam trước buổi chung kết cuộc thi hoa hậu cả chục
ngày, các chuyến bay đi Nha Trang đó hết chỗ. Người nước ngoài đến Việt
Nam du lịch nói rằng Việt Nam là nơi an ninh bậc nhất thế giới. Tất cả những
điều trên là có thật. Xương máu đổ ra hàng thế kỷ đem lại cho chúng ta những
thập niên hũa bỡnh mà mỗi người Việt Nam nâng niu từng ngày một. Cách cư
xử của chúng ta với thế giới, nếp sống của chúng ta, truyền thống hũa hiếu
trong, ngoài của người Việt... cũng là cội nguồn của cuộc sống bỡnh yờn đó.
Đúng, chúng ta đang được sống - một cách xứng đáng - trong một đất nước an
ninh.
Nhưng từ một góc độ khác, ở ta có bao nỗi bất an trong cuộc sống hằng
ngày: Trước cửa nhà tôi ở, trên con đường mới trước khi kịp đặt tên đó xảy ra
đạn, chúng ta hiểu quá rừ cỏi giỏ của sự sống, của hạnh phỳc sống bỡnh yờn.
Nhưng rồi lúc hũa bỡnh, chỳng ta lại rất thiếu tụn trọng với chớnh chất lượng
sống của mỗi chúng ta?
Câu hỏi đặt ra là: Phải chăng đó cũng là một trong số các nguyên do
khiến đa số khách du lịch đến Việt Nam, đều thiện cảm với đất nước, với con
người Việt Nam, nhưng chỉ số ít trong số họ quay lại lần nữa?
Câu hỏi đặt ra là: Tại sao vào các giai đoạn nguy biến, chúng ta biết cách
tổ chức cuộc sống cho cả xó hội một cách chu đáo, chặt chẽ khiến cả thế giới
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
khâm phục, mà trong bối cảnh an ninh, ổn định, lại kém cỏi, vụng về trong
việc vun vén cho cuộc sống của chúng ta đỡ những lo âu thắc thỏm?
Hỏi đó là trả lời. Cú trỏch nhiệm của Nhà nước, nhưng có trách nhiệm
của toàn bộ cộng đồng.
Có thể có lập luận: Rồi kinh tế phát triển lên, các vấn đề tự nó được khắc
phục theo đà văn minh công nghiệp. Điều này chỉ đúng một nửa. Không ít các
ví dụ cho thấy, kinh tế đi lên nhưng các vấn đề xó hội càng gay gắt thờm.
Giàu hơn nhưng an sinh kém đi, thỡ chất lượng cuộc sống không tăng, mà là
giảm. Việc Việt Nam vừa tụt hạng trong bảng đánh giá chất lượng cuộc sống
là điều rất đáng phải lo nghĩ.
Bên cạnh niềm vui, niềm tự hào có an ninh chính trị, ổn định xó hội, phải
thẳng thắn nhỡn thẳng vào thực trạng an sinh xó hội thấp. Khụng xõy dựng
được an sinh xó hội cao trong khi cú ổn định và an ninh chung của đất nước -
đó là sự hoang phí và kém cỏi không thể chấp nhận được. Sự kém cỏi của mỗi
người, của tất cả chúng ta.
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
II ) Nội dung
1) Thực trạng an sinh xã hội ở Việt Nam
Nguyên nhân nghèo ở Việt Nam
Nhà nước.
Nguyên nhân chủ quan: sau 20 năm đổi mới đến năm 2005 kinh tế đã đạt
được một số thành tựu nhưng số lượng người nghèo vẫn còn đông, có thể lên
đến 26% (4,6 triệu hộ) do các nguyên nhân khác như sau:
Sai lệch thống kê: do điều chỉnh chuẩn nghèo của Chính phủ lên cho gần
với chuẩn nghèo của thế giới (1USD/ngày) cho các nước đang phát triển làm
tỷ lệ nghèo tăng lên.
Việt Nam là nước nông nghiệp đến năm 2004 vẫn còn 74,1% dân sống ở
nông thôn trong khi tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp trong tổng sản phẩm
quốc gia thấp. Hệ số Gini là 0,42 và hệ số chênh lệch là 8,1 nên bất bình đẳng
cao trong khi thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp.
Người dân còn chịu nhiều rủi ro trong cuộc sống, sản xuất mà chưa có
các thiết chế phòng ngừa hữu hiệu, dễ tái nghèo trở lại như: thiên tai, dịch
bệnh, sâu hại, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, thất nghiệp, rủi ro về giá
sản phẩm đầu vào và đầu ra do biến động của thị trường thế giới và khu vực
như khủng hoảng về dầu mỏ làm tăng giá đầu vào, rủi ro về chính sách thay
đổi không lường trước được, rủi ro do hệ thống hành chính kém minh bạch,
quan liêu, tham nhũng.
Nền kinh tế phát triển không bền vững, tăng trưởng tuy khá nhưng chủ
yếu là do nguồn vốn đầu tư trực tiếp, vốn ODA, kiều hối, thu nhập từ dầu mỏ
trong khi nguồn vốn đầu tư trong nước còn thấp. Tín dụng chưa thay đổi kịp
thời, vẫn còn ưu tiên cho vay các doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả thấp,
không thế chấp, môi trường sớm bị hủy hoại, đầu tư vào con người ở mức cao
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nhưng hiệu quả còn hạn chế, số lượng lao động được đào tạo đáp ứng nhu cầu
thị trường còn thấp, nông dân khó tiếp cận tín dụng ngân hàng nhà nước.
Ở Việt Nam, sự nghèo đói và HIV/AIDS tiếp tục phá hủy từng kết cấu
của tuổi thơ. Các em không được thừa hưởng quyền có một tuổi thơ được
thương yêu, chăm sóc và bảo vệ trong mái ấm gia đình hoặc được khích lệ
ban hành, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ hơn 30% năm 1990, 30% vào năm 1992,
15,7% năm 1998 xuống xấp xỉ 17% vào năm 2001(2,8 triệu hộ) và 10% năm
2000.
Theo chuẩn nghèo của chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia, đầu
năm 2000 có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm 17,2% tổng số hộ trong cả
nước, chủ yếu tập trung vào các vùng nông thôn. Các vùng nông thôn miền
núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỷ lệ nghèo cao hơn
con số trung bình này nhiều. Có tới 64% số người nghèo tập trung ở vùng núi
phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền trung.
Cũng theo chuẩn nghèo quốc gia năm 2002 còn 12,9% hộ nghèo và tỷ lệ
nghèo lương thực ước lượng 10.87%
Từ năm 1992 đến 2004, tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam đã giảm từ 30%
xuống còn 8,3%. Tính đến tháng 12-2004, trên địa bàn cả nước có 2 tỉnh và
thành phố cơ bản không còn hộ nghèo theo tiêu chuẩn; có 18 tỉnh tỷ lệ nghèo
chiếm 3-5%; 24 tỉnh có tỷ lệ nghèo chiếm 5-10%... Đáng kể trong chương
trình Xóa đói giảm nghèo là những xã nằm trong diện 135 (xã nghèo, xã đặc
biệt khó khăn) đã có những thay đổi biến chuyển rõ nét. Nếu năm 1992, có tới
60-70% số xã nghèo trong diện 135, thì đến năm 2004 giảm xuống còn
khoảng 20-25%.
Số hộ nghèo của năm 2004 là 1,44 triệu hộ tỷ lệ nghèo là 8,3%, , đến
cuối năm 2005 còn khoảng dưới 7% với 1,1 triệu hộ. Như vậy tỷ lệ hộ nghèo
năm 2005 đã giảm khoảng 50% so với năm 2000.
8