TIỂU LUẬN: Văn hóa doanh nghiệp và xây dựng Văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay - Pdf 12



TIỂU LUẬN:

Văn hóa doanh nghiệp và xây
dựng Văn hóa doanh nghiệp ở
Việt Nam hiện nay Lời nói đầu Một tổ chức hay một doanh nghiệp (DN) là một nhóm người kết hợp cùng
nhau để hoàn thành một công việc hay nhiệm vụ nào đó. Người ta cần được kết nối
công việc và được động viên hướng tới hoạt động.
Tổ chức tồn tại vì một mục đích nào đó như cung cấp dịch vụ, sản xuất sản
phẩm, đáp ứng một nhu cầu công cộng; mục đích này kết nối tổ choc với thế giới
rộng lớn hơn bên ngoài tổ chức. Trên thực tế, cả hệ thống công việc, lý do tồn tại của
tổ chức-hệ thống nhân sự, những con người đến làm việc tại tổ chức… đều tồn tại

DN Việt Nam muốn hội nhập với xã hội và nền kinh tế thế giới không thể không tạo
dựng cho mình sắc thái VHDN. Khi hội nhập với thị trường chung của thế giới và
khu vực, thực chất của cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ là cạnh tranh về VHDN,
về phương thức chiếm lĩnh thông tin, sự thiện cảm của người tiêu dùng một cách có
văn hoá. Không như vậy, sẽ bị thải loại trong cạnh tranh. Chính vì thế trong phạm vi
đề án này em xin được đề cập đến vấn đề VHDN và xây dựng VHDN ở Việt Nam
hiện nay. Chương I: Cơ sở lý luận
I. Các khái niệm cơ bản
1. Văn hoá.
Văn hoá là một đề tài rất rộng, năm 1952 Kroeber và Kluckolm đã sưu tầm
được 164 định nghĩa khác nhau về văn hoá. Cho đến nay, con số định nghĩa này vẫn
tiếp tục tăng lên. Dưới đây là một số định nghĩa hay được sử dụng:
Edward Tylor: Văn hoá là tổng thể phức hợp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng,
nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, thói quen và bát kỳ năng lực hay hành vi nào khác mà
mỗi cá nhân với tư cách là thành viên của xã hội đạt được. Văn hoá là một phức thể

khác, tộc người khác hay tầng lớp xã hội khác.
2. Văn hoá doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường có muôn vàn cơ hội kinh doanh, do đó có rất
nhiều các doanh nghiệp được hình thành, phát triển, có rất nhiều doanh nghiệp thành
công và không ít các doanh nghiệp thất bại. Liệu hỏi chúng ta có cách nào để dự báo
tương lai của các doanh nghiệp? Chúng ta có thể nào phán đoán được rằng doanh
nghiệp nào sẽ phát triển bền vững và doanh nghiệp nào sẽ phá sản trong vòng 5-10
năm?
Một doanh nghiệp bao gồm nhiều yếu tố, từ cơ sở vật chất kỹ thuật như nhà
xưởng, nhà văn phòng, trang thiết bị đến mục tiêu hoạt động, cách thức quản lý tài
chính và nhân viên, nghệ thuật lãnh đạo và đIũu hành, cách thức tổ chức nơi làm
việc, điều kiện và các chế độ an toàn về lao động, chế đọ phúc lợi xã hội và hưu trí,
các tổ chức xã hội trong doanh nghiệp…
Thực tiễn đã cho thấy bản sắc văn hoá có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh
doanh của các doanh nghiệp.
Chẳng hạn, sự thành công trong nhièu doanh nghiệp ở các nước châu á phần
lớn dựa trên quan hệ cá nhân của người lãnh đạo doanh nghiệp đó, trong lúc đó, tại
các nước phương tây, sự thành công của các doanh nghiệp phần lớn dựa trên nhiều
yếu tố tổng hợp như khả năng quản lý các nguồn lực, năng suet làm việc, tính năng
động của các nhân viên, lãi suất của công ty, các quy định kích thích cạnh tranh, khả
năng hoàn thành kế hoạch, uy tín của công ty… Tất cả các yếu tố kể trên tạo thành
những nét đặc trưng riêng của doanh nghiệp, gọi là văn hoá doanh nghiệp
Cũng như “văn hoá”, “Văn hoá doanh nghiệp” có rất nhiều định nghĩa.Sau đây
là một số định nghĩa:
Edward Taylor
“Văn hoá là tổng thể các truyền thống của các truyền thống của các cấu trúc
và các bí quyết kinh doanh xác lập quy tắc ứng xử nội tại, gắn bó các thành viên với

Các thành viên trong doanh nghiệp là những cá thể có những nhân cách, cá
tính khác nhau. Mặt khác do có những nhu cầu và mong muốn khác nhau, họ hành
động vì những động cơ khác nhau, nhằm vào những mục tiêu khác nhau. Sự thống
nhất trong suy nghĩ và hgành động chỉ có thể đạt được khi mọi người thừa nhận và
tôn trọng những quan diểm và thang bậc giá trị chung. Văn hoá doanh nghiệp hướng
cho mọi thành viên trong doanh nghiệp mình hành động vì những mục tiêu chung,
hành động một cách có hiệu quả mà nhà quản trị không cần phải ding quá nhiều đến
các mệnh lệnh, chỉ thị.
b) Văn hoá doanh nghiệp góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Văn hoá doanh nghiệp là một yếu tố gốp phần tạo nên khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp, văn hoá doanh nghiệp biểu hiện thông qua những vấn đề sau đây:
-Tạo ra bầu không khí và tác phong làm việc tích cực.
Văn hoá doanh nghiệp là sự kết tinh của hệ thông giá trị của doanh nghiệp
được đa số thành viên trong doanh nghiệp thừa nhận và ủng hộ, vì vây nó là chất kết
dính các thành viên trong doanh nghiệp lại với nhau. ở nơi nào có được một văn hoá
doanh gnhiệp tích cực và lành mạnh, coi trọng các giá trị tinh thần, ở nơi đó người ta
cảm nhận thấy một bầu không khí làm việc thân thiện, chan hoà, tinh thần tương thân
tương ái, giúp đỡ và học hỏi lẫn nhau. Chính bầu không khí làm việc lành mạnh là
tác nhân tạo ra sức mạnh công đồng, là “ thừa số chung” trong phép nhân các trí tuệ
cá nhân thành trí tuệ tập thể.
Tác phong làm việc của đa số thành viên trong doanh nghiệp cũng mang nặng
dấu ấn của văn hoá doanh nghiệp. Sự khẩn trương năng động hay thái độ thờ ơ với
công việc và kết quả chung không phải là biểu hiện của một số ít cá nhân, mà là sản
phẩm được hình thành sau một thời gian dài bởi “ ý thức hệ” trong doanh gnhiệp. Tác
phong làm việc khẩn trương, công nghiệp sẽ là tiền đề quan trọng để tạo ra những sản
phẩm hàng hoá cũng như dịch vụ khách hàng có chất lượng cao, phù hợp với tập

hoá doanh nghiệp. Vì vậy, xây dựng và phát huy văn hoá doanh nghiệp là một vấn đề
thiết yếu và có tính chất lâu dài của bất kỳ doanh nghiệp muốn thành công trên
thương trường.
2. Những đòi hỏi khách quan của việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp ở Việt
Nam hiện nay.
a) Sự đòi hỏi khách quan trong giai đoạn hiện nay của việc tạo lập thị trường văn
minh.
Sau thời gian ban đầu, những nước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trường, như Việt nam, những yếu tố ngãu nhiên của bước
giao thời đã qua đi. Quan đIểm kinh doanh ngắn hạn, gắn với những biện pháp kinh
doanh nhất thời không còn chỗ đứng, phải nhường chỗ cho quan điểm kinh doanh có
tính chiến lược, dài hạn với nền tảng văn hoá sâu xa.
b) Sự đòi hỏi khách quan của việc bảo vệ lợi ích người tiêu dùng.
Trong kinh tế thị trường, tất cả mọi người thoả mãn nhu cầu của mình thông
qua việc mua và tiêu dùng các loại sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) của các doanh
nghiệp, và vì vậy, người tiêu dùng là cả xã hội.
Lợi ích người tiêu dùng phải được bảo vệ bằng hệ thống pháp luật và lương
tâm, đạo đức của các nhà doanh nghiệp, gắn với văn hoá doanh nghiệp.
Ngày 9/5/1985, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông qua Nghị quyết số
39/248 về “Các nguyên tắc chỉ đạo để bạo vệ người tiêu dùng”, trong đó công bố
những quyền của người tiêu dùng, đó là:
- Quyền được thoả mãn những nhu cầu cơ bản;
- Quyền được cung cấp thông tin;
- Quyền được lựa chọn;
- Quyền được lắng nghe hay quyền được đại diện;
- Quyền được giáo dục về tiêu dùng;
- Quyền được sống trong một môi trường trong sạch và bền vững.

(1) “Sinh ý yếu cầu khẩn”: - người làm ăn, buôn bán phải luôn luôn siêng
năng, tích cực, năng động và nắm được thời cơ.
(2) “Dụng đồ yếu tiết kiệm”: - đại ý nói rằng muốn có lãi cao thì chi tiêu phải
tiết kiệm, không lãng phí, không xa hoa khi không thật cần thiết. Điều này các nhà
kinh doanh của ta chắc là thấm thía, đặc biệt là những DN nhà nước thua lỗ hiện nay.
(3) “Dụng nhân yếu phương chính”: - người kinh doanh phải biết chọn người
giúp việc cho mình là người ngay thẳng, không có tính tham lam, biết giữ chữ tín làm
đầu trong giao dịch mua bán với khách hàng.
(4) “Lâm sự yếu trách nhiệm”: - khi triển khai công việc làm ăn thì phải luôn
luôn tích cực, lấy tinh thần trách nhiệm và lòng say mê kinh doanh làm điều căn bản
trong mọi vấn đề.
(5) “Thủ tâm yếu an ninh”: - người làm nghề kinh doanh phải luôn luôn sáng
suốt, bình tĩnh trong mọi tình huống xảy ra. Nói cách khác, nhà kinh doanh phải có
“cái đầu lạnh và trái tim nóng”. Không được phiêu lưu, mạo hiểm, không phó mặc
cho vận may rủi, mà phải lấy sự chắc chắn, an toàn làm đầu.
Mục 2: Củng cố 5 đIũu khi tiếp xúc với khách hàng, khi mua bán, trao đổi hàng hoá:
(1) “Tiệp nạp yếu khiêm hoà”: - phải khiêm tốn, hoà nhã khi tiếp khách mua
bán với mình, nói cách khác là “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”.
(2) “Dự khiếm yếu thức nhận”: - người kinh doanh phải học cách xác định
từng đối tượng khách hàng, xem ai là loại khách hàng giàu có, ai là khách hàng bình
dân, để có phương pháp tiếp thị cho đúng đối tượng.
(3) “Mãi mại yếu tuỳ thời”: - việc mua bán phải tuỳ thời đIểm, tuỳ lúc, tuỳ
trường hợp để xem lại cái lợi lớn nhất.
(4) “Nghị quá yếu đinh ninh”: - mặc cả giá cả hàng hoá phải dứt khoát, rõ ràng
và phải thuận mua vừa bán.
(5) “Kỳ hạn yếu ước định”: - nhà kinh doanh phải biết tạo ra thói quen đúng
hạn khi thanh toán tiền nong, hàng hoá, tạo ra chữ tín với khách hàng.

đem lại lợi ích cho người khác, cho đất nước, xã hội, thì hành động đó là đạo đức. Có
thể nêu lên các mặt cụ thể của đạo đức kinh doanh như sau:
a) Xác định rõ mục tiêu kinh doanh
Mọi người đều biết, kinh doanh trước hết là theo đuổi lợi nhuận, nhà kinh
doanh làm việc vì lợi ích của mình, để làm giàu. Nhưng đạo đức kinh doanh đòi hỏi
rằng kinh doanh không thể chỉ vì lợi ích của mình mà quên đi lợi ích của người khác,
của xã hội.
Từ đó có thể khẳng định, mục tiêu của kinh doanh là làm giàu thông qua phục
vụ xã hội, chỉ có thể trên cơ sở đóng góp cho xã hội phát triển, thì doanh nghiệp mới
đứng vững và phát triển bền vững.
b) Xác định rõ quan hệ giữa lợi ích của doanh nghiệp và của khách hàng
Đạo đức kinh doanh đòi hỏi nhà doanh nghiệp và các doanh nghiệp làm giàu
trên cơ sở tận tâm phục vụ khách hàng, thông qua việc tôn trọng quyền, lợi ích của
khách hàng.
Điều này đòi hỏi nhà kinh doanh thay đổi cách suy nghĩ, từ bỏ quan điểm ngắn
hạn, quan điểm thiển cận (đôi khi chụp dật) để chấp nhận quan điểm dài hạn, quan
điểm mang tính chất chiến lược, mà theo quan điểm này thì doanh nghiệp phải giữ uy
tín với khách hàng, vì chính uy tín mới giúp cho doanh nghiệp phát triển bền vững.
Trong kinh doanh, có rủi ro. Khi gặp trục trặc, phải biết nhận phần thiệt về
mình để giữ lấy chữ tín. ở đây tưởng là bị thiệt, nhưng một khi làm ăn có hậu, thì
doanh nghiệp sẽ giầu có, giữ được chữ tín, cộng với tài năng, nhất định doanh nghiệp
sẽ trụ được và trường tồn.
c) Đạo đức kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp và các nhà kinh doanh đảm bảo lợi ích
của nhà nước, cụ thể là thực hiện các nghĩa vụ của nhà nước theo luật.
d) Đạo đức kinh doanh đòi hỏi các nhà kinh doanh quan tâm đảm bảo lợi ích của
những người làm việc trong doanh nghiệp, tôn trọng nhân phẩm của họ, tạo điều
kiện cho họ phát huy sáng kiến và tài năng.

-Một màu sắc đặc trưng.
Thương hiệu phải giúp cho tất cả mọi người để nhớ, dễ phân biệt và gây ấn
tượng.
b) Phải có các đặc tính sau:
-Hiếm: Chỉ có một hoặc vài doanh nghiệp có nguồn lực (sản phẩm dịch vụ
đó).
-Quý: Nó phải tạo ra cho doanh nghiệp sở hữu có một phương tiện để khai
thác một cơ hội hay ngăn ngừa một mối đe doạ,
-Không có sự thay thế trên thực tế: Đối thủ cạnh tranh không thể đạt được
cùng một kết quả với một nguồn lực khác.
-Khó hoặc không thể bị bắt chước:
+ Vì nó trừu tượng, chắc chắn, cụ thể và khó hiểu hoặc khó hình dung.
+ Vì nó là sản phẩm của những sự kiện lịch sử có một không hai.
c) Kỹ sư Hà Trọng Dũng với sản phẩm Protec
Kỹ sư Hà Trọng Dũng đã đưa ra ý tưởng: Tìm mọi cách để đưa vào cuộc sống
một loại sản phẩm mới giúp cho việc hinh thành một hệ thống công dân mới trẻ trung
hơn, năng động hơn, đặc biệt cần cho trẻ em Việt Nam hôm nay và trẻ em ở các nước
nghèo, nước đang phát triển.
ý tưởng thì thật đơn giản bởi lẽ đã có hàng trăm, hàng nghìn xí nghiệp, công
ty, hãng sản xuất đồ chơi cho trẻ em, song mỗi lĩnh vực, mỗi chủng loại vẫn có
khoảng trống của nó. Vấn đề là ở chỗ tìm ra khoảng trống đó để hoạt động và chính
từ kinh nghiệm phong phú qua 30 năm hoạt động trong lĩnh vực văn hoá giáo dục
ông cùng các đồng nghiệp đã tìm ra lối thoát. Các sản phẩm của họ đi vào thế giới
mơ mộng của trẻ thơ như một yếu tố cấu thành của một môi trường nuôi dạy trẻ mới.
Với chủ đề tư tưởng: “PROTEC-2000, công viên trong tầm tay bé” chúng tôi đã tạo
nên một thế giới trẻ thơ năng động, giúp trẻ có cơ hội và đIều kiện phát triển toàn
diện trí tuệ và thể lực, ở mọi chỗ, mọi nơi, hoàn toàn khồng phụ thuộc vào điều kiện

Từ ý tưởng đầy tính văn hoá và nhân văn: “Thế giới trẻ em là của trẻ em”, họ
đưa ra những giải pháp kỹ thuật để xây dựng một môi trường nuôi dạy trẻ mới được
trang bị các thiết bị đồ chơi đa năng, một số mẫu sử dụng không gian ba chiều như
thiết bị- đồ chơi bàn xe dao động (ký hiệu HD-IO), hoặc rất tiện cho trẻ vui chơi như
mâm quay mini (HD-I2), đu quay mini (HD-II)…
Bởi có tính cơ động cao nên các thiết bị- đồ chơi này có thể chuyển tới nhiều
cơ sở nuôi dạy trẻ trong các khu vực đông dân hay miền núi cao, hải đảo. Cái khác
giữa dòng đồ chơi dân gian, dòng đồ chơi hiện đại với dòng thiết bị- đồ chơi đa năng
của PROTEC-2000 là ở chỗ:Dòng đồ chơi dân gian phần lớn là đơn giản phù hợp
cuộc sống nơi xóm làng xưa. Đồ chơi hiện đại của các nước và vùng lãnh thổ như
Nhật bản, Hồng kông, Đài loan…thì cái gọi là phức tạp, hiện đại nằm bên trong đồ
chơi, người chơi- trẻ em chỉ có một thao tác tắt- mở mà thôi, nên hạn chế phần nào
tính năng động sáng tạo ở trẻ… Còn dòng thiết bị-đồ chơi của PROTEC-2000 đã kết
hợp hài hoà các đồ chơi, trò chơi dân gian với tư duy lôgic hiện đại, nên chỉ trên một
thiết bị đã có hàng chục đồ chơi, cách chơi khác nhau, cứ xoay 90

độ lại có vài một
trò chơi mới, qua vui chơi mà trẻ còn phát triển thể lực, hỗ chợ đIều trị cho trẻ em bị
đau ốm tật nguyền…
Tóm lại, thông qua hoạt động kinh doanh này cùng một lúc PROTEC đạt được
nhiều mục đích khác nhau mà cái gốc của sự thành đạt là tính nhân bản, hướng thiện
của hoạt động, từ nó toát lên sự hài hoà trong phạm trù “kinh doanh có văn hoá” và
tạo được văn hoá trong kinh doanh”. Bằng cách đầu tư công sức, trí tuệ và tiền của,
PROTEC đã vươn lên và từng bước chiếm lĩnh thị trường. Tuy còn mới mẻ và còn
nhiều khó khăn, nhưng những thành quả bước đầu tuy còn nhỏ bé song cũng đủ tạo
nên một phác thảo đẹp về môi trường văn hoá mới theo chủ đề “PROTEC-2000 công
viên trong tầm tay bé” và đang từng bước đi vào thế giới trẻ thơ như một yếu tố cần

Xét về tổng quát, nó có thể bao gồm những định chế sau đây:
-Định chế về chế độ tập trung và dân chủ trong lãnh đạo doanh nghiệp. Cụ thể
định chế này được thể hiện trong:
+ Quy trình về thông qua và tổ chức thực hiện các quyết định;
+ Bộ tiêu chuẩn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các bộ
phận chức năng trong việc thông qua và thực hiện các quyết định.
+ Các quy định về phối hợp giữa các bộ phận chức năng trong quá trình thông
qua vừa thực hiện các quyết định.
+ Các quy định về đánh giá quá trình thực hiện các quyết định.
-Định chế về kết hợp hài hoà các lợi ích để doanh nghiêp trở thành ngôi nhà
chung, là con thuyền vận mệnh của tất cả mọi người.
Việc giải quyết không thoả đáng vấn đề lợi ích sẽ là một trong những nguyên
nhân sâu xa nhất gây xung đột trong nội bộ, gây mất đoàn kết nội bộ doanh nghiệp,
cản trở việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp.
Xét cho cùng, để thực hiện định chế về kết hợp hài hoà các lợi ích trong doanh
nghiệp, thì phải có nề nếp về tài chính.
Tài chính trong doanh nghiệp phải dựa trên cơ sở minh bạch, công bằng và tin
cậy, đạt tới mức chi tiết, chi ly.
Đó có thể là kỷ luật về chấp hành định mức khoán; cách thức tính tiền lương
và tiền thưởng; các quy định về tạm ứng, thanh toán, vay vốn, nguyên tắc trách
nhiệm tài chính v.v…
-Định chế về sử dụng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Định chế này coi yếu tố con người đóng vai trò quyết định, coi trọng các giá trị của
mỗi con người riêng lẻ trong sự nghiệp phát triển bền vững doanh nghiệp.
Văn hoá doanh nghiệp làm cho yếu tố con người có chất lượng, liên kết và nhân lên
nhiều lần các giá trị riêng lẻ của mỗi người và làm cho nó trở thành nguồn lực (tài
sản) vô tận của chính doanh nghiệp.

Những người này được đào tạo để có được văn hoá giao tiếp.
b) Giao tiếp thông qua lời nói của doanh nghiệp với xã hội.
Đó là tất cả các yếu tố để doanh nghiệp thể hiện mình là một thể chế văn hoá
với thế giới bên ngoài.
Nhờ các yếu tố này, xã hội cảm nhận được các giá trị văn hoá của doanh
nghiệp, hình ảnh của doanh nghiệp được ăn sâu vào tâm trí mọi người, và tứ đó, họ
chấp nhận mua hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp. Đó là các yếu tố cụ thể sau:
-Quảng cảnh chung của doanh nghiệp: từ biển ghi tên doanh nghiệp: từ biển
ghi tên doanh nghiệp đến khung cảnh chung bên ngoài của doanh nghiệp.
-Hệ thống các ký hiệu biểu trưng cho doanh nghiệp, như cờ của doanh nghiệp,
biểu tượng của thương hiệu, ngày truyền thống của doanh nghiệp.
-Hệ thống các kiểu mẫu, quy cách thống nhất, mang nét đặc trưng của doanh
nghiệp, từ đồng phục, biển tên từng người, cho đến phong bì, giấy viết, công văn, thư
từ, phong bao để phát lương hoặc các thiết bị đặc biệt khác.
Nói chung, ngay từ yếu tố hình thức bệ ngoài cũng phải theo mẫu quy định và
được sử dụng rộng rãi, liên tục, không thay đổi, tạo thành ấn tượng xã hôi; thành
niềm tự hào của các thành viên trong doanh nghiệp và cả gia đình họ từ đời này qua
đời khác.
IV. kinh nghiệm của nước ngoài
1. Nhật bản với doanh nghiệp
Một trong những yếu tố tạo nên sự thành công và sức mạnh cạnh tranh của các
doanh nghiệp Nhật bản là truyền thống và bản sắc van hoá của doanh nghiệp.
Theo ông Akihio Urata, chuyên viên kinh tế thuộc công ty TNHH Dịch vụ
phát triển Nhật bản, văn hoá truyền thống của Nhật bản do hoàn cảnh sau chiến tranh
thế giới đã tạo ra những nét đặc trưng. Đó là những người lao động Nhật bản thường
làm việc suốt đời cho một công ty, công sở. Họ được xếp hạng theo bề dày công tác.
Trong các công ty của Nhật bản đều có tổ chức công đoàn. Các quyết định sẽ được ra

đóng góp cho doanh nghiệp, những thành tích đó sẽ được đánh giá theo một quá trình
lâu dài. Các cán bộ quản lý cao cấp trong công ty sẽ được đề bạt bắt đầu từ các chức
vụ nhỏ nhất và sau nhiều năm làm việc- thong thường những người 50 tuổi sẽ có
chức vụ quản lý cấp trung bình và từ 50 –60 tuổi mới đựơc đề bạt cấp cao hơn. Mức
lương của những người có thâm niên được tăng dần phù hợp với nhu cầu của cuộc
sống.
Các Công đoàn trong doanh nghiệp được thành lập mang tính chất tự nguyện
và hoạt động tương đối độc lập. Lãnh đạo cấp cao nhất của công ty đều phải kinh qua
công tác lãnh đạo công đoàn, vì chỉ có như vậy, họ mới hiểu và thông cảm với công
nhân. Công đoàn có hệ thống tư vấn lao động trong công ty, giúp quản lý các mối
quan hệ có ích hơn. Công đoàn bàn bạc các vấn đề liên quan đến quản lý trong sản
xuất, chính sách quản lý, các vấn đề tài chính, số giờ làm việc, số ngày nghỉ lễ trong
năm, cũng như chính sách đãi ngộ với các nhân viên cao tuổi, giúp giải quyết các vấn
đề nảy sinh.
Về quyết định trong công ty, có thể nhìn thấy trong văn hoá kinh doanh của
các doanh nghiệp Nhật Bản sự ra quyết định tập thể. Hệ thống này gọi là Ringi. Theo
đó các nhân viên cập thấp sẽ tự làm văn bản ra quyết định liên quan đến vấn đề mà
họ phụ trách, sau đó trình lên cấp cao hơn. Cấp này lại trình lên cấp cao hơn nữa, cho
đến người có thẩm quyền phê duyệt. Tuy có vẻ hơi nhiêu khê nhưng lại có tính trách
nhiệm cao và dễ quy trách nhiệm. Hiện nay ở Nhật Bản còn có một hệ thống khác là
Raigi, cũng gần với Ringi nhưng các quyết định tập thể được đưa ra từ các cuộc họp.
Tinh thần cơ bản của văn hoá doanh nghiệp Nhật chính là sự đổi mới không
ngừng hay cồn gọi là Kaizen. Sự đổi mới này cho năng suất, chất lượng, hiệu quả và
các mối quan hệ của doanh nghiệp trở nên tốt hơn. Để có một Kaizen hoàn thiện, các
doanh nhân Nhật Bản đã phát huy tối đa các sáng kiến của nhân viên từ các nhóm
nhỏ rồi mở rộng dần ra. Cách thức quản lý là quản lý chất lượng tổng hợp. Tuy
nhiên, cần hiểu Kaizen như một khái niệm bao trùm lên mọi khái niệm khác trong

nghìn món hàng của một nhà sản xuất với giá mỗi món là 1 nghìn yên, thì mánh khoé


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status